Vào ngày 30 Tháng Giêng năm 1968,
hơn một phần tư triệu quân chính quy Bắc Việt và 100 ngàn du
kích Việt Cộng đă phát động một cuộc tấn công có quy mô lớn vào
miền Nam Việt Nam. Nhưng dư luận đă không nghe biết ǵ về việc
ai đă thắng trận chiến có tính quyết định cao nhất này trong
chiến tranh Việt Nam, c̣n được gọi là cuộc tổng công
kích Tết Mậu Thân, cho đến khi thật quá trễ.
Sự tường thuật sai lạc của giới
truyền thông báo chí về cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân đă đi
vào tiềm thức của chúng ta. H́nh ảnh đó đă cho phép các thành
phần chống chiến tranh có một uy tín không xứng đáng hiện vẫn
c̣n tồn tại ngày hôm nay tại Quốc hội Hoa Kỳ, và trong thái độ
của giới truyền thông đối với cuộc chiến tại
Iraq. Cái kinh nghiệm về cuộc tổng
công kích Tết Mậu Thân đă cung cấp một kiểu tường thuật cho
những kẻ mong muốn được thấy tất cả mọi thành công về quân sự
của Hoa Kỳ - như vụ tăng viện quân số của tướng tư lệnh liên
quân Petraeus tại Iraq - bị thu nhỏ lại và che đậy lấp liếm đi.
Sự thật là cuộc chiến tại Việt Nam
đă bị thua trên mặt trận tuyên truyền, với một mức độ to lớn v́
sự tường thuật sai lạc một cách liên tục của báo chí về thắng
lợi rơ ràng của Hoa Kỳ trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân,
như là một sự thảm bại. Bốn mươi năm là một quá khứ dài để đem
lại sự thật cho lịch sử.
Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân
xảy ra vào phần cuối của một chuỗi dài những thất bại của cộng
sản. Đến năm 1967 th́ cánh quân du kích của họ tại miền Nam, tức
là Việt Cộng, đă chứng tỏ là càng lúc càng thiếu hiệu năng, về
cả hai mặt quân sự lẫn chính trị. Một khi quân đội Hoa Kỳ bắt
đầu đến tham chiến vào Mùa Hè 1965, th́ Việt Cộng bị đánh tơi tả
hết trận này đến trận khác, mặc dù được sự yểm trợ hùng hậu về
quân số và vũ khí của Hà Nội cho quân du kích phía Nam. Đến năm
1967 th́ VC đă mất quyền kiểm soát các khu vực như vùng đồng
bằng sông Cửu Long - thật là đăi bôi, đây chính là nơi mà các
phóng viên David Halberstam và Neil Sheehan lúc đầu đă chẩn đoán
một “vũng lầy” Việt Nam, vốn không bao giờ tồn tại.
Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân
là một ván bài tuyệt vọng của Hà Nội để cưỡng chiếm các tỉnh
phía Bắc của miền Nam Việt Nam, sử dụng quân du kích, trong khi
đó cùng lúc lại phát động một cuộc tổng nổi dậy để yểm trợ cho
Việt Cộng. Cả hai đều thất bại. Quân đội Hoa Kỳ và quân đội miền
Nam đă đẩy lùi các cuộc tấn công, bắt đầu bằng một cuộc ngưng
bắn giả vờ của VC để đón mừng Tết Nguyên Đán. Đến ngày 2 tháng
3, khi Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ dập tắt ổ kháng cự cuối cùng
của bộ đội Bắc Việt tại thành phố Huế ở phía bắc, th́ phía VC đă
bị thiệt hại từ 80 đến 100 ngàn bộ đội tử thương hoặc bị thương
mà không chiếm được một tỉnh nào.
Tết Mậu Thân là một sự thảm bại
nặng nề đáng chú ư cho Việt Cộng. Cuộc tấn công này không những
chỉ thất bại trong việc phát động lên bất cứ sự nổi dậy nào từ
quần chúng, mà c̣n làm cho VC bị mất mát “những người tốt nhất
của chúng tôi” như cựu Bác Sĩ VC Dương Quỳnh Hoa đă thú nhận sau
đó cùng kư giả Stanley Karnow. Nhưng cái sự thật hiển nhiên về
chiến thắng của lực lượng quân sự Hoa Kỳ - “Bắc Việt đă chiến
đấu đến tên VC cuối cùng”, như viên chức của Hội Đồng An Ninh
Quốc Gia William Bundy đă ghi nhận lúc đó - đă bị xoáy về phía
khác bởi hầu hết giới báo chí Hoa Kỳ.
Như phóng viên thường trực của tờ
Bưu Điện Hoa Thịnh Đốn tại Sài G̣n, Peter Braestrup đă đúc kết
trong cuốn sách của ông ta xuất bản năm 1977, tựa đề “Câu chuyện
lớn”, sự quyết liệt một cách tuyệt vọng trong các cuộc tấn công
của cộng sản bao gồm vào cả Sài G̣n, là nơi mà hầu hết các phóng
viên kư giả sinh sống và làm việc, đă làm sững sờ giới báo chí.
(Nhưng không làm ngạc nhiên giới quân sự: Họ đă mong đợi một
cuộc tấn công và đề cao cảnh giác kể từ ngày 24 Tháng Giêng).
Cuộc tấn công vào Sài G̣n cũng đă đặt các phóng viên vào t́nh
trạng nguy hiểm đến tính mạng lần đầu tiên. Kư giả Braestrup,
nguyên là một cựu thủy quân lục chiến, đă tính toán rằng chỉ có
40 trong 354 kư giả báo chí và phóng viên truyền h́nh tường
thuật về chiến tranh Việt Nam lúc đó là thấy chiến tranh thật sự.
Sự hoảng hốt của chính bản thân họ đă tô vẽ một cách sâu sắc
trong những tường tŕnh của họ, cho rằng cuộc tấn công của Việt
Cộng đă ném Việt Nam vào những sự hỗn loạn.
Những tay chủ bút ở nhà, như
Walter Cronkite của đài truyền h́nh CBS, vội vàng vớ ngay vào
các bản tường tŕnh méo mó để bác bỏ tin tức của giới quân sự về
các sự kiện đang xảy ra. Cuộc nổi dậy của Việt Cộng đang ở trong
một cái chết đau đớn, như giới chức quân sự Hoa Kỳ đă chắc chắn
cùng dân chúng Mỹ vào lúc đó. Nhưng nguyên bản của giới báo chí
lại tô vẽ một bức tranh khác biệt.
Để nhắc lại lời của kư giả
Braestrup, “giới truyền thông báo chí đă mặc nhiên lấy những
giao động mạnh mẽ và hỗn độn của đầu Tháng Hai, như họ đă cảm
nhận, rồi sửa lại như là h́nh ảnh cuối cùng của cuộc tổng tấn
công Tết Mậu Thân” và một cách tổng quát, của cả Việt Nam. “Bi
kịch đă tồn tại qua sự thiệt tḥi của thông tin”, và “đường
hướng bi quan” của giới truyền thông khi tường thuật “đă cộng
thêm vào việc bóp méo t́nh h́nh thật sự ngay tại hiện trường ở
Việt Nam”
Bắc Việt đă vô cùng sung sướng.
Theo sau sự thảm bại nặng nề, Hà Nội đă gia tăng các nỗ lực
tuyên truyền về phía truyền thông và phong trào phản chiến. Gây
ra nhiều tử vong cho quân đội Mỹ (không phải cho quân đội miền
Nam), ngay cả việc chính họ bị tổn thất nặng nề, là một mục tiêu
chiến đấu trên chiến trường để gây ảnh hưởng mạnh mẽ cho giới
truyền thông Hoa Kỳ tường thuật về một chính sách thất bại tại
Việt Nam.
Nhưng cám ơn sự thành công của
cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân mà con số lính Mỹ tử trận tại
Việt Nam từ từ thuyên giảm - từ gần 15,000 vào năm 1968 đến 9,
414 vào năm 1969 và 4,221 vào năm 1970 - bởi từ đó VC đă chấm
dứt không c̣n tồn tại như là một lực lượng quân sự đáng kể. Từng
tỉnh thành Việt Nam một nối tiếp nhau nh́n thấy nền ḥa b́nh và
ổn định mới. Cho đến cuối năm 1969 th́ trên 70 phần trăm dân số
miền Nam đă nằm dưới quyền kiểm soát của chính phủ, so sánh với
42 phần trăm vào lúc đầu năm 1968. Vào năm 1970 và 1971, đại sứ
Hoa Kỳ tại Việt Nam Ellsworth Bunker đă ước lượng rằng 90 phần
trăm dân số miền Nam sống trong các vùng dưới sự kiểm soát của
chính phủ.
Nhưng tất cả những điều này đă
không được chú ư đến v́ sự tường thuật sai lạc về cuộc tổng công
kích Tết Mậu Thân, để lại một h́nh ảnh Việt Nam lúng túng trong
việc chống nổi dậy - một h́nh ảnh mà gần nửa thế kỷ đă quá thời
hạn. Thất bại của miền Bắc trong cuộc xâm lăng hùng hậu kế tiếp
vào mùa Phục Sinh năm 1972 đă làm cho quân đội miền Bắc tổn thất
thêm 100,000 bộ đội và phân nửa số xe tăng và súng đại bác, cuối
cùng buộc Hà Nội phải kư hiệp định ḥa b́nh Paris và chính thức
công nhận nước Việt Nam Cộng Ḥa. Tới tháng 8/1973 th́ không c̣n
quân đội Mỹ tại Việt Nam, chính xác bởi v́, trái ngược với những
tường tŕnh ồ ạt của báo chí th́ chính sách của người Mỹ tại
Việt Nam đă thành công.
Với Quốc Hội và dư luận Hoa Kỳ,
th́ cuộc chiến Việt Nam không là ǵ cả ngoại trừ là một
sự đổ vỡ thê thảm. Và bằng việc triệt thoái quân đội Hoa Kỳ khỏi
Việt Nam, Tổng Thống Nixon đă từ bỏ bất cứ cán cân chính trị lẫn
quân sự nào đối với tương lai của Việt Nam. Với lực lượng quân
sự Mỹ đă ra khỏi ṿng đấu, Bắc Việt liền nhanh chóng giở tṛ lừa
bịp trên hiệp định Paris. Khi Bắc Việt với quân đội được tái
trang bị phát động một cuộc tấn công lớn khác vào năm 1975, Quốc
Hội Hoa Kỳ đă từ chối thực hiện lời hứa hẹn của TT Nixon là yểm
trợ quân sự cho miền Nam. Thay vào đó, Tổng Thống Gerald Ford đă
cúi đầu trước cái mà giới truyền thông báo chí đă thuyết phục dư
luận Hoa Kỳ, vốn không thể không xảy ra: sự sụp đổ của Việt Nam.
Sự sụp đổ của nước láng giềng của
Việt Nam là Cam Bốt theo sau đó không lâu.
Đông Nam Á đi vào một thời kỳ của “những cách đồng chết”, trong
ṿng vài năm ngắn ngủi ước lượng khoảng 2 triệu người bị thủ
tiêu, 30 phần trăm của dân số Cam Bốt. Chính sách can thiệp quân
sự của Hoa Kỳ đă mang những vết thẹo của Việt Nam kể từ đó.
Tất cả đă có thể ngăn ngừa được -
nhưng chỉ v́ những điều dối trá của Tết Mậu Thân.