NHỮNG ĐIÊU CHƯA BIÊT VỀ MAO TRẠCH ĐÔNG
“Mao: The Untold Story”

 H́nh ảnh

Bùi Tín – Phỏng dịch và tóm tắt

Phần kết: Mao với Việt Nam


1-.Mao là một nhân vật không xa lạ ǵ với người Việt nam chúng ta. Đảng viên đảng cộng sản, cán bộ nhà nước, học sinh, sinh viên, già trẻ lớn bé đều nhiều lần nghe nói về Chủ tịch Mao Trạch Động, đồng chí Mao Trạch Đông, lănh tụ Mao Trạch Đông, cụ Mao, bác Mao, ông Mao...với những mức độ t́nh cảm khác nhau.


Bàn tay Mao dính máu của 70 triệu sinh linh, trong đó có hàng triệu đồng bào Việt Nam - Ảnh: Reuters
________________________________________
Có thời Mao có mặt đậm nét ở nước ta. Hầu như nhà nào cũng có ảnh Mao. Ở cơ quan, ảnh lớn của Mao cạnh ảnh lớn của Staline là bắt buộc. Sách của Mao chiếm vị trí hàng cao nhất trong mọi thư viện và tủ sách. Mâu thuẫn luận, Thực tiễn luận, Tŕ cửu chiến, Bàn về chủ nghĩa Dân chủ mới... của Mao được coi là sách kinh điển. Rồi Mao Trạch Đông tuyển tập, Sách b́a đỏ cầm tay, huy hiệu Mao đỏ chót, nhỏ hay có khi to bằng miệng bát có mặt khắp nơi.

Biết bao bài thơ ca ngợi Mao, từ Tố Hữu, đến Hoàng Trung Thông, Bảo Định Giang, rồi Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư ...Mao là mặt trời, là cưú tinh, là ngôi sao sáng nhất, là cây đại thụ, là ngọn hải đăng, là người Ông hiền từ, là người Bác nhân ái, là vị lănh tụ anh minh. Đoàn nhà văn Việt nam thăm Hồ Nam, đoàn Văn công quân đội sang Bắc kinh quay phim Xô viết Nghệ Tĩnh được gặp Mao, những bài báo, luận văn kể lại được nh́n thấy Mao, được cầm tay Mao, được tận tai nghe được lời Mao nói, được nhận một điếu thuốc từ tay Mao là những nỗi niềm hạnh phúc quư báu nhớ đời.

2-. Trong các cuộc chỉnh huấn, kiểm thảo, trong cải cách ruộng đất, các lớp học trưởng đảng Nguyễn Ái Quốc, lời Mao dạy về đấu tranh giai cấp, về chính quyền từ họng súng, sùng bái đấu tranh vũ trang, đề cao bần cố nông, xỉ vả trí thức tư sản không bằng cục phân... được coi là những chân lư tuyệt đối và vĩnh cửu.

Tại Đại hội đảng lần thứ II ở Việt Bắc tháng 2- 1951, ông Hồ Chí Minh từng chỉ tay lên ảnh Staline và ảnh Mao treo cao trên hội trường và nói: ''Hai vị lănh tụ này của chúng ta không bao giờ phạm sai lầm, Bác có thể bảo đảm chắc chắn như thế''. Đến Đại hội đảng lần thứ III tháng 9-1960 ở Hà Nội, tư tưởng Mao Trạch Đông được ghi vào Điều lệ của đảng làm''nền tảng lư luận và tư tưởng''.

3-. Trong Đại nhảy vọt của Trung Quốc, ông Hồ Chí Minh là người hưởng ứng đầu tiên; ông đọc hàng ngày các báo Trung quốc, sưu tầm những tin ''hay nhất'', có nghĩa là ly kỳ, - người thường khó tin nhất -, gửi ngay sang báo Nhân dân để đăng. Như tin về nông dân xây ḷ cao trong sân nhà. Như bài Mao viết dạy rằng năng xuất lúa có thể tăng gấp 3 lần không khó khăn, chỉ cần giống tốt, đủ nước, đủ phân, từ nay trồng lúa năng xuất cao sẽ nhàn hạ như trồng hoa, làm vườn, diện tích có giảm một nửa vẫn thừa ăn.

Một thời gian ngắn cuốn sách ''Kinh nghiệm Đại nhảy vọt của Trung Quốc'' tác giả Trần Lực (bút danh ông Hồ) ra với số bản in cao nhất, trong đó nói về đủ thứ về sau bị coi là hoang đường, như thảm lúa năng xuất gấp 5 lần b́nh thường, từng đoàn văn công nhảy trên thảm lúa mà cây lúa vẫn đứng thẳng, như diệt chim sẻ bằng chiêng trống. ''Chí Minh'' có nghĩa là cực sáng mà có lúc cũng mụ mị tin vào những chuyện nhảm nhí đến vậy th́ con cháu có mụ mị lầm lẫn cũng là dễ hiểu.

4-. Đọc cuốn sách của Jung và Jon về Mao, độc giả Việt Nam dễ dàng đối chiếu và liên tưởng đến Việt nam, đảng Cộng sản Việt nam, đến những người lănh đạo ở Việt Nam v́ 2 đảng đều chung một ḷ Đệ tam quốc tế Cộng sản mà ra, cùng coi Moscow là đất thánh của ḿnh, cùng suy tôn Staline là lănh tụ đàn anh, lại cùng chung nền văn hóa khổng giáo kiểu Nho gia, chung nền tảng kinh tế tiểu nông...

5-. Ví dụ khi Mao kể cho nhà văn và nhà báo Edgar Snow về cuộc chiến đấu rực lửa của Hồng quân qua cầu Đại độ rằng 6 hàng xích sắt lớn nối 2 đầu cầu bị nung đỏ , phía trước là các ụ súng máy không ngừng nhả đạn, mà Hồng quân vẫn ḅ qua, th́ người cả tin nhất cũng phải thấy có cái ǵ không ổn, không hợp lư, không thể có thật, không thể ''nuốt trôi được''. Quả nhiên đây là chuyện Mao bịa ra, dựng đứng lên để thần tượng hóa quân lính ḿnh.

Ta có thể liên tưởng đến chuyện ở Việt Nam ta, về em Lê Văn Tám ở cầu Thị Nghè Sài g̣n năm 1946 đă tẩm xăng vào người thành đuốc sống để chạy thẳng vào kho đạn ở phía trong doanh trại địch cách hàng trăm thước làm kho đạn nổ tung. Câu chuyện được truyền tụng suốt nửa thế kỷ, thành kịch, tranh, thành ''vườn hoa Lê Văn Tám'', ''giải thưởng Lê Văn Tám'', để rồi cuối đời tác giả của nó phải lên tiếng cải chính là chuyện bịa 100%. Triệu triệu con người đă mụ mị, kể cho nhau chuyện phi lư: làm sao bật lửa tẩm xăng vào người thành đuốc sống mà c̣n có thể bước nổi đến một bước ngắn, chưa nói đến chạy hàng trăm mét.

Cũng như mới đây chuyện nữ bác sỹ Đặng Thùy Trâm chiến đấu một ḿnh một súng, đọ sức một buổi với 120 lính Mỹ cường tráng, bị bắn vỡ sọ c̣n hô 2 lần Bác Hồ muôn năm! Thật ra trong hồi kư của cô không hề có chuyện cô cầm súng, không hề có chuyện cô được huấn luyện để chiến đấu; mấy trang cuối chỉ tả nỗi lo sợ, làm sao bảo vệ mấy thương binh nặng trong khi cô mệt rũ đói lả, bộ đội địa phương huyện Đức Phổ bỏ chạy hết. Cứ theo như cuốn hồi kư Trâm đă nêu cao gương hy sinh tận tuỵ đáng quư rồi. Việc tô vẽ thêm nghe theo lời kể vu vơ của một anh lính Mỹ vớ vẩn nào đó để thêm một chiến công ''dỏm '' để rồi phong Anh hùng, th́ thật là quá lố! Làm hại cả một tấm gương quư, làm gia đ́nh cô khó xử, cũng làm hại uy tín Bộ quốc pḥng, nhẹ dạ cả tin ấu trĩ khờ khạo đến vậy.

6-.Để có những quyết định cá nhân ngông cuồng, và bắt buộc toàn đảng phải chấp nhận những ''sáng kiến'' tối tăm của ḿnh, Mao tŕ hoăn các cuộc đại hội đảng theo quy định trong Điều lệ đảng là cứ 5 năm phải họp đại hội đảng một lần; lẽ ra sau Đại hội VIII họp tháng 9-1956, th́ Đại hội IX phải họp vào khoảng tháng 9-1961, Mao tŕ hoăn cho đến tháng 8-1969 mới triệu tập đại hội IX, nghĩa là chậm đến 9 năm. Chính trong khoảng cách 13 năm ấy, Mao tự ḿnh đề ra những chính sách ngông cuồng'' Đại nhảy vọt'' và ''Cách mạng văn hóa'' đưa đất nước vào t́nh trạng bi thảm.

Ở Việt Nam cũng vậy. từ Đại hội đảng I (tháng 3 -1935) ở Ma Cao - Trung Quốc, đến tháng 2-1951 mới họp Đại hội II ở Việt Bắc, nghĩa là cách đến 16 năm, sau đó đến tháng 9-1960 mới họp Đại hội III , cách 9 năm, rồi lại đến năm 1976 mới họp Đại hội IV , nghĩa là cách đến 16 năm. Hoàn cảnh chiến tranh không phải là lư do chính đáng, v́ chiến tranh vẫn có thể và lại càng cần họp đại hội một cách thiết thực để có những quyết định sắc bén, xác thực, tập trung trí tuệ của tập thể, tránh độc đoán, chủ quan, tùy tiện.

Ở Việt Nam, nếu như những vấn đề cực lớn như Cải cách ruộng đất (với đặc điểm chiếm hữu ruộng đất và phân chia giai cấp rất khác biệt ở nông thôn nước ta), cải tạo công thương nghiệp (cũng với những đặc điểm riêng ở Việt nam ta), chính sách sau kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước (đặc biệt là chính sách với chính quyền và quân đội cũ ở miền Nam) đều không có thảo luận tập thể, một hay vài vị tự cho là thông minh sáng suốt nhất, không ai bằng, c̣n xung quanh toàn những kẻ xu nịnh tâng bốc lănh tụ, cúi đầu vâng dạ, làm sao đất nước không lạc hậu, dân không lầm than, để cho bi kịch thuyền nhân bi thảm xảy ra làm chấn động thế giới mà lănh đạo vẫn cho là điều tốt, c̣n nhân dân bị nhồi sọ vẫn dửng dưng vô cảm.

7-.Bên cạnh Mao, những quần thần cương trực khảng khái yêu nước thương dân th́ ít, cực hiếm, c̣n gian thần xiểm nịnh th́ quá thừa. Những Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ, Vương Minh, Chu Đức... đều bị thanh trừng, tra khảo, đầy đọa thể xác và tinh thần đến chết thảm thương. C̣n những gian thần như Lâm Bưu th́ xu nịnh, tâng bốc Mao, cứu Mao khỏi nguy cơ trông thấy rồi cũng bị thải loại và bỏ chạy.

Cũng như ở Việt nam, những Trần Độ, Nguyễn Hộ, Chu Văn Tấn, Dương Bạch Mai, Trần Xuân Bách, Đặng Kim Giang, những trí thức khá lớn Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo..., những văn nghệ sỹ quư tự do như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Văn Cao, Hữu Loan, Bùi Minh Quốc, Hà Minh Tuân, Việt Phương... đều bị từ kiểm điểm, tra khảo đến hành hạ, tù đầy, quản thúc, gia đ́nh bị đày đọa, phân biệt đối xử theo. Rơ ràng ở Việt nam cũng như ở Trung quốc, những người bị thải loại nh́n chung đều có trí tuệ, tấm ḷng với đất nước và đạo đức cao hơn những kẻ cầm quyền. Thiệt hại cho quê hương, đất nước không sao kể xiết.

8-. Cho đến thời kỳ đổi mới hiện nay, ở Trung quốc và Việt nam vẫn c̣n những kẻ cơ hội sùng bái Mao và chế độ độc đảng, dị ứng với những giá trị của thời đại. Họ đàn áp những chiến sỹ dân chủ, bỏ tù những chiến sỹ dũng cảm dám đứng dậy đ̣i tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do bầu cử cho nhân dân. Điều rất đáng trách là vẫn c̣n những kẻ tự nhận là trí thức mà c̣n mụ mị làm thầy căi cho chế độ độc đảng tệ hại kiểu Mao.

Tiêu biểu gần đây là Phạm Toàn nào đó viết bài trên Talawas lập luận rằng chớ nên đ̣i quyền dân chủ vội, hăy đợi 15, 20 năm nữa. Anh ta lại c̣n như thích thú lấy mấy cái trung tiện (đánh rắm) nhơ nhớp làm bài học chính trị của ḿnh; dân chủ hóa cũng như trung tiện(!), phải chờ cho đến đúng lúc, không sớm quá, không muộn quá. Cái gian xảo của anh trí thức ''dỏm'' này là đưa một hiện tưởng thuộc bản năng hoàn toàn sinh lư áp dụng vào một vấn đề thuộc trí tuệ sáng tạo trong lănh đạo chính trị. Sự mụ mị đến tận cùng dơ dáy về trí tuệ và nhân cách! Mà h́nh như c̣n là nhà sư phạm!

9-. Điều quan trọng hơn nữa với bạn đọc Việt Nam khi nghiền ngẫm về cuốn sách của Jung và Jon là cái mô h́nh quản lư xă hội mà Staline và Mao đă chọn sau Cách mạng Tháng Mười - 1917 ở Nga và sau 1-10-1949 ở Trung quốc, đồng thời ứng dụng mô h́nh ấy ở Việt nam và hơn 10 nước ''xă hội chủ nghĩa '' khác ở Đông Âu, Mông cổ, Bắc Triều tiên, Cuba, cái mô h́nh ấy liệu vẫn c̣n sức sống nào, dù có cải tiến chút ít?

Đặc điểm của cái mô h́nh ấy là: duy nhất một đảng cộng sản thống trị xă hội không chia sẻ với một đảng phái nào khác; được gọi là độc quyền đảng trị; thực hiện công nghiệp hóa vội vàng gấp gáp, lấy công nghiệp nặng làm trung tâm; hạn chế sở hữu cá nhân, tiêu diệt quyền tư hữu; nghiêm cấm tụ do báo chí và thủ tiêu quyền tụ do tín ngưỡng. Thủ tiêu nền văn hóa truyền thống dân tộc, thực hiện văn hóa vô sản, thực tế là nền văn hóa cổ xúy đấu tranh giai cấp tàn bạo, đẫm máu, đầy bạo lực, bất công.

Cả mô h́nh này đă đổ vỡ, phá sản tận gốc ở Liên Xô; Staline đă bị hạ bệ, bị cả thế giới và dân Liên Xô nhận ra là kẻ sát nhân tàn bạo hơn phát xít Hitler, nay đến lượt Mao đang được dân Trung quốc và thế giới nhận định lại cho thật đúng với thực tế. Các nhà lănh đạo đảng cộng sản Trung Quốc có thái độ nửa vời, đổi mới chút ít về chính trị và văn hóa, đổi mới nhiều hơn về kinh tế, nhưng vẫn duy tŕ chế độ độc quyền đảng trị. Họ không dám hạ bệ Mao, họ đưa ra luận thuyết: ''Mao có 2 phần đúng, một phần sai'' có nghĩa về cơ bản vẫn là nhân vật lịch sử có nh́êu thành tích và cống hiến. Công tŕnh của Jung và Jon chính là một công tŕnh khoa học lịch sử đồ sộ, đáng tin cậy, chứng minh Mao là một nhân vật hoàn toàn tiêu cực, là kẻ giết người hàng loạt, là tên đao phủ sô 1 trong lịch sử loài người, là tên dâm loạn, kẻ vô đạo đức, đầy thú tính, chịu trách nhiệm về cái chết của 70 triệu sinh mạng Trung Quốc và các nước, trong đó có nhân dân Việt Nam, Triều Tiên, Cam - bốt, Lào, Mông Cổ, Tây Tạng ... Cuốn sách đang đi dần, ngấm dần vào nhận thức của hàng tỷ nhân dân Trung Hoa, lay động lương tri và trách nhiệm của họ đối với hiện tại và tương lai đất nước Trung Hoa. Đây có thể là cuốn sách có sức lôi cuốn và lay động sâu rộng nhất trong lịch sử hiện đại của Trung Quốc. Jung và Jon đă làm nên một việc tốt đẹp và cao quư, lại rất thiết thực..

10-. Cuốn sách cho ta bài học lớn. Hăy t́m cho ra sự thật. Hăy cùng nói lớn lên sự thật. Sự thật và nhân dân quư hơn tất cả, đáng trọng hơn tất cả. Dù là Staline, dù là Mao, dù bất cứ ai khác một thời được nể trọng, được sùng bái cũng phải đặt dưới nhân dân. Nhân dân nuôi sống chúng ta. Nhân dân làm nên lịch sử. Cuộc sống tự do hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu cao quư nhất. Kẻ ngự trị trên đầu nhân dân, đẩy dân vào lầm than tủi cực chết chóc không thể là người tốt, đáng kính được. Phải biết hoài nghi một cách khoa học. Tự ḿnh tập độc lập suy nghĩ, tự t́m ra sự thật và chân lư cho ḿnh, cho đồng bào ḿnh. Jung và Jon đă lật nhào thần tượng, không chửi bới, không thóa mạ, không đao to búa lớn. Lời lẽ ôn tồn, đưa ra nhân chứng, bằng chứng, để cho bạn đọc suy nghĩ và kết luận.

11-. Cuốn sách một số lần nói đến Việt Nam. Đến Hồ Chí Minh gặp Mao và gặp Staline ở Moscow cuối năm 1949. Tác giả kể rằng cuối đời ḿnh, Mao tỏ ra hài ḷng với Chu Ân Lai ngay khi Chu đang bị bệnh ung thư hành hạ, vào cuối năm 1974, Chu vẫn chỉ đạo việc cho quân đánh chiếm đảo Hoàng Sa (Paracels) do quân đội Việt Nam cộng ḥa ở miền Nam đóng giữ, trước khi quần đảo này kịp rơi vào tay các đồng chí của họ ở Bắc Việt Nam.

Chỉ một nét ấy thôi là đủ để thấy rơ và sâu tham vọng của Mao, của Chu, của Đặng Tiểu B́nh đối với Việt Nam ta. Chưa nói đến chuyện 5 năm sau đó, Đặng xua quân vào 6 tỉnh miền Bắc giáp giới với Trung quốc tàn phá tan hoang từ nhà ở của dân, phá tan từ giường tủ, nồi niêu, bát đĩa cho đến nhà máy, trường học, bệnh xá, cầu cống, đường sắt... đến hàng vạn xác chết đồng bào và chiến sỹ ta; vậy mà đảng vẫn không cho nhắc đến những ngày ''kỷ niệm đen tối'' hằng năm này, không cho đặt ṿng hoa trước các mộ liệt sỹ, sợ làm phật ḷng các đồng chí Trung Quốc đàn anh.

Jung và Jon gợi ư cho người Việt ta một suy nghĩ sâu xa, ta được hưởng lợi ǵ khi suy tôn Mao làm lănh tụ chính trị và tinh thần, khi lấy tư tưởng Mao làm nền tảng, để đến bây giờ vẫn tôn những người kế thừa Mao là đồng chí, là anh em, là nguồn kinh nghiệm quư, như mấy ngày tháng vừa qua các ông Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Hồ Đức Việt, Tô Ruy Hứa...đă sang tận Bắc kinh để khẳng định long trọng, với 16 chữ vàng ...khè!

Cuốn sách của Jung và Jon nhắn nhủ người Việt chúng ta rằng: người Trung Quốc chúng tôi đă nhận ra bộ mặt thật của Mao rồi đó, dù cho những người cầm quyền ở Bắc kinh vẫn c̣n giả đui giả mù. Mao thực sự chịu trách nhiệm về cái chết của 70 triệu sinh linh, trong đó có hàng triệu đồng bào Việt Nam của các bạn rồi đó. Các bạn có nên tiếp tục theo tư tưởng của Mao, mô h́nh quản lư xă hội của Mao, vừa gia giảm lại vừa giữ ǵn học thuyết Mao, phi Mao hóa một cách nửa vời, vừa nói dân chủ vừa giữ độc quyền một đảng, vừa nói dân chủ vừa cấm tư nhân làm báo, ông Nguyễn Minh Triết nói y như Hồ Cẩm Đào, ông Nguyễn Tấn Dũng nói y như Ôn Gia Bảo, có nên như vậy măi chăng?

Cuốn sách này, các đảng viên cộng sản Việt nam cần đọc, trí thức Việt Nam cần đọc, tuổi trẻ Việt nam cần đọc. Những người lănh đạo, cầm quyền cần đọc. Để rồi t́m cho ra sinh lộ cho nước ta, cho dân ta.

Giữa lúc một số trí thức văn nghệ sỹ có tâm huyết đề ra tổ chức một cuộc trao đổi về t́nh h́nh và lối ra cho dân tộc ta, khởi đầu bởi các bạn Bùi Minh Quốc, Hà Sỹ Phu, Lê Hồng Hà, Phan Đ́nh Diệu, Lê Đăng Doanh, Mai Thái Lĩnh... cuốn sách ''Những điều chưa biết về Mao'' ra mắt thật đúng lúc, v́ mối quan hệ Việt - Trung luôn có ư nghĩa quyết định đối với quá khứ, hiện tại và tương lai của Việt nam ta. Độc lập, tự chủ, chủ quyền toàn vẹn, quan hệ hợp tác b́nh đẳng, hội nhập trọn vẹn với thế giới dân chủ văn minh phải chăng là con đường phải theo của nhân dân ta trong quan hệ Việt - Trung. Từ bỏ dứt khoát thái độ sùng bái, phụ thuộc, bất b́nh đẳng, quỵ lụy đàn em, để bị lấn lướt hiếp đáp miệt thị, thiệt hại đủ đường và không sao lường hết...

Khi biết và đọc những bài này, từ trong nước những người c̣n nặng ḷng với ''bác Mao'' sẽ lại vu cáo tôi là theo lập trường phản động, bôi xấu đảng và nhà nước ta, rồi lải nhải là tôi bất măn, phá hoại. Xin thưa cả làng: tôi cất công phỏng dịch và tóm tắt công tŕnh này chỉ v́ ḷng ngay dạ thẳng, v́ thương dân ḿnh chưa có tự do, yêu đồng bào ḿnh chưa hoàn toàn giải thoát khỏi nạn độc quyền đảng trị, xót xa với tuổi trẻ ḿnh c̣n bị mê hoặc, nên quê hương ta vẫn hèn kém so với thiên hạ. Cái nhục lớn này toàn dân ta hăy tỉnh dậy. Cuốn sách này là lọai sách thức tỉnh. Cần và quư lắm.

Các bạn hăy t́m đọc toàn bộ cuốn sách đồ sộ, phong phú, biên tập cực kỳ công phu, với tâm huyết tràn đầy này. Không ǵ thay được nguyên bản. Trong khi chờ đợi, xin hăy vui ḷng với bản phỏng dịch và tóm tắt trong 14 bài này, tôi làm gấp trong 3 tháng qua, miệt mài, say mê, ở tuổi 80, không tránh khỏi sơ xuất, xin được miễn thứ.

Một số tên Trung Quốc trong sách này, là do anh Phùng Nguyên ở Paris phiên âm giúp ra tiếng Việt, xin cám ơn anh.

Xin chân thành cám ơn các bạn.

Paris, tháng 10-2007.