NHỮNG
ĐIÊU
CHƯA
BIÊT VỀ
MAO
TRẠCH
ĐÔNG
“Mao:
The
Untold
Story”

Bùi Tín
– Phỏng
dịch và
tóm tắt
Phần kết: Mao với Việt Nam
1-.Mao là một nhân vật không xa lạ ǵ với
người Việt nam chúng ta. Đảng viên đảng cộng
sản, cán bộ nhà nước, học sinh, sinh viên,
già trẻ lớn bé đều nhiều lần nghe nói về Chủ
tịch Mao Trạch Động, đồng chí Mao Trạch Đông,
lănh tụ Mao Trạch Đông, cụ Mao, bác Mao, ông
Mao...với những mức độ t́nh cảm khác nhau.
Bàn tay Mao dính máu của 70 triệu sinh linh,
trong đó có hàng triệu đồng bào Việt Nam -
Ảnh: Reuters
________________________________________
Có thời Mao có mặt đậm nét ở nước ta. Hầu
như nhà nào cũng có ảnh Mao. Ở cơ quan, ảnh
lớn của Mao cạnh ảnh lớn của Staline là bắt
buộc. Sách của Mao chiếm vị trí hàng cao
nhất trong mọi thư viện và tủ sách. Mâu
thuẫn luận, Thực tiễn luận, Tŕ cửu chiến,
Bàn về chủ nghĩa Dân chủ mới... của Mao được
coi là sách kinh điển. Rồi Mao Trạch Đông
tuyển tập, Sách b́a đỏ cầm tay, huy hiệu Mao
đỏ chót, nhỏ hay có khi to bằng miệng bát có
mặt khắp nơi.
Biết bao bài thơ ca ngợi Mao, từ Tố Hữu, đến
Hoàng Trung Thông, Bảo Định Giang, rồi Xuân
Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư ...Mao
là mặt trời, là cưú tinh, là ngôi sao sáng
nhất, là cây đại thụ, là ngọn hải đăng, là
người Ông hiền từ, là người Bác nhân ái, là
vị lănh tụ anh minh. Đoàn nhà văn Việt nam
thăm Hồ Nam, đoàn Văn công quân đội sang Bắc
kinh quay phim Xô viết Nghệ Tĩnh được gặp
Mao, những bài báo, luận văn kể lại được
nh́n thấy Mao, được cầm tay Mao, được tận
tai nghe được lời Mao nói, được nhận một
điếu thuốc từ tay Mao là những nỗi niềm hạnh
phúc quư báu nhớ đời.
2-. Trong các cuộc chỉnh huấn, kiểm thảo,
trong cải cách ruộng đất, các lớp học trưởng
đảng Nguyễn Ái Quốc, lời Mao dạy về đấu
tranh giai cấp, về chính quyền từ họng súng,
sùng bái đấu tranh vũ trang, đề cao bần cố
nông, xỉ vả trí thức tư sản không bằng cục
phân... được coi là những chân lư tuyệt đối
và vĩnh cửu.
Tại Đại hội đảng lần thứ II ở Việt Bắc tháng
2- 1951, ông Hồ Chí Minh từng chỉ tay lên
ảnh Staline và ảnh Mao treo cao trên hội
trường và nói: ''Hai vị lănh tụ này của
chúng ta không bao giờ phạm sai lầm, Bác có
thể bảo đảm chắc chắn như thế''. Đến Đại hội
đảng lần thứ III tháng 9-1960 ở Hà Nội, tư
tưởng Mao Trạch Đông được ghi vào Điều lệ
của đảng làm''nền tảng lư luận và tư tưởng''.
3-. Trong Đại nhảy vọt của Trung Quốc, ông
Hồ Chí Minh là người hưởng ứng đầu tiên; ông
đọc hàng ngày các báo Trung quốc, sưu tầm
những tin ''hay nhất'', có nghĩa là ly kỳ, -
người thường khó tin nhất -, gửi ngay sang
báo Nhân dân để đăng. Như tin về nông dân
xây ḷ cao trong sân nhà. Như bài Mao viết
dạy rằng năng xuất lúa có thể tăng gấp 3 lần
không khó khăn, chỉ cần giống tốt, đủ nước,
đủ phân, từ nay trồng lúa năng xuất cao sẽ
nhàn hạ như trồng hoa, làm vườn, diện tích
có giảm một nửa vẫn thừa ăn.
Một thời gian ngắn cuốn sách ''Kinh nghiệm
Đại nhảy vọt của Trung Quốc'' tác giả Trần
Lực (bút danh ông Hồ) ra với số bản in cao
nhất, trong đó nói về đủ thứ về sau bị coi
là hoang đường, như thảm lúa năng xuất gấp 5
lần b́nh thường, từng đoàn văn công nhảy
trên thảm lúa mà cây lúa vẫn đứng thẳng, như
diệt chim sẻ bằng chiêng trống. ''Chí Minh''
có nghĩa là cực sáng mà có lúc cũng mụ mị
tin vào những chuyện nhảm nhí đến vậy th́
con cháu có mụ mị lầm lẫn cũng là dễ hiểu.
4-. Đọc cuốn sách của Jung và Jon về Mao,
độc giả Việt Nam dễ dàng đối chiếu và liên
tưởng đến Việt nam, đảng Cộng sản Việt nam,
đến những người lănh đạo ở Việt Nam v́ 2
đảng đều chung một ḷ Đệ tam quốc tế Cộng
sản mà ra, cùng coi Moscow là đất thánh của
ḿnh, cùng suy tôn Staline là lănh tụ đàn
anh, lại cùng chung nền văn hóa khổng giáo
kiểu Nho gia, chung nền tảng kinh tế tiểu
nông...
5-. Ví dụ khi Mao kể cho nhà văn và nhà báo
Edgar Snow về cuộc chiến đấu rực lửa của
Hồng quân qua cầu Đại độ rằng 6 hàng xích
sắt lớn nối 2 đầu cầu bị nung đỏ , phía
trước là các ụ súng máy không ngừng nhả đạn,
mà Hồng quân vẫn ḅ qua, th́ người cả tin
nhất cũng phải thấy có cái ǵ không ổn,
không hợp lư, không thể có thật, không thể
''nuốt trôi được''. Quả nhiên đây là chuyện
Mao bịa ra, dựng đứng lên để thần tượng hóa
quân lính ḿnh.
Ta có thể liên tưởng đến chuyện ở Việt Nam
ta, về em Lê Văn Tám ở cầu Thị Nghè Sài g̣n
năm 1946 đă tẩm xăng vào người thành đuốc
sống để chạy thẳng vào kho đạn ở phía trong
doanh trại địch cách hàng trăm thước làm kho
đạn nổ tung. Câu chuyện được truyền tụng
suốt nửa thế kỷ, thành kịch, tranh, thành ''vườn
hoa Lê Văn Tám'', ''giải thưởng Lê Văn Tám'',
để rồi cuối đời tác giả của nó phải lên
tiếng cải chính là chuyện bịa 100%. Triệu
triệu con người đă mụ mị, kể cho nhau chuyện
phi lư: làm sao bật lửa tẩm xăng vào người
thành đuốc sống mà c̣n có thể bước nổi đến
một bước ngắn, chưa nói đến chạy hàng trăm
mét.
Cũng như mới đây chuyện nữ bác sỹ Đặng Thùy
Trâm chiến đấu một ḿnh một súng, đọ sức một
buổi với 120 lính Mỹ cường tráng, bị bắn vỡ
sọ c̣n hô 2 lần Bác Hồ muôn năm! Thật ra
trong hồi kư của cô không hề có chuyện cô
cầm súng, không hề có chuyện cô được huấn
luyện để chiến đấu; mấy trang cuối chỉ tả
nỗi lo sợ, làm sao bảo vệ mấy thương binh
nặng trong khi cô mệt rũ đói lả, bộ đội địa
phương huyện Đức Phổ bỏ chạy hết. Cứ theo
như cuốn hồi kư Trâm đă nêu cao gương hy
sinh tận tuỵ đáng quư rồi. Việc tô vẽ thêm
nghe theo lời kể vu vơ của một anh lính Mỹ
vớ vẩn nào đó để thêm một chiến công ''dỏm
'' để rồi phong Anh hùng, th́ thật là quá lố!
Làm hại cả một tấm gương quư, làm gia đ́nh
cô khó xử, cũng làm hại uy tín Bộ quốc pḥng,
nhẹ dạ cả tin ấu trĩ khờ khạo đến vậy.
6-.Để có những quyết định cá nhân ngông
cuồng, và bắt buộc toàn đảng phải chấp nhận
những ''sáng kiến'' tối tăm của ḿnh, Mao
tŕ hoăn các cuộc đại hội đảng theo quy định
trong Điều lệ đảng là cứ 5 năm phải họp đại
hội đảng một lần; lẽ ra sau Đại hội VIII họp
tháng 9-1956, th́ Đại hội IX phải họp vào
khoảng tháng 9-1961, Mao tŕ hoăn cho đến
tháng 8-1969 mới triệu tập đại hội IX, nghĩa
là chậm đến 9 năm. Chính trong khoảng cách
13 năm ấy, Mao tự ḿnh đề ra những chính
sách ngông cuồng'' Đại nhảy vọt'' và ''Cách
mạng văn hóa'' đưa đất nước vào t́nh trạng
bi thảm.
Ở Việt Nam cũng vậy. từ Đại hội đảng I (tháng
3 -1935) ở Ma Cao - Trung Quốc, đến tháng
2-1951 mới họp Đại hội II ở Việt Bắc, nghĩa
là cách đến 16 năm, sau đó đến tháng 9-1960
mới họp Đại hội III , cách 9 năm, rồi lại
đến năm 1976 mới họp Đại hội IV , nghĩa là
cách đến 16 năm. Hoàn cảnh chiến tranh không
phải là lư do chính đáng, v́ chiến tranh vẫn
có thể và lại càng cần họp đại hội một cách
thiết thực để có những quyết định sắc bén,
xác thực, tập trung trí tuệ của tập thể,
tránh độc đoán, chủ quan, tùy tiện.
Ở Việt Nam, nếu như những vấn đề cực lớn như
Cải cách ruộng đất (với đặc điểm chiếm hữu
ruộng đất và phân chia giai cấp rất khác
biệt ở nông thôn nước ta), cải tạo công
thương nghiệp (cũng với những đặc điểm riêng
ở Việt nam ta), chính sách sau kết thúc
chiến tranh, thống nhất đất nước (đặc biệt
là chính sách với chính quyền và quân đội cũ
ở miền Nam) đều không có thảo luận tập thể,
một hay vài vị tự cho là thông minh sáng
suốt nhất, không ai bằng, c̣n xung quanh
toàn những kẻ xu nịnh tâng bốc lănh tụ, cúi
đầu vâng dạ, làm sao đất nước không lạc hậu,
dân không lầm than, để cho bi kịch thuyền
nhân bi thảm xảy ra làm chấn động thế giới
mà lănh đạo vẫn cho là điều tốt, c̣n nhân
dân bị nhồi sọ vẫn dửng dưng vô cảm.
7-.Bên cạnh Mao, những quần thần cương trực
khảng khái yêu nước thương dân th́ ít, cực
hiếm, c̣n gian thần xiểm nịnh th́ quá thừa.
Những Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ, Vương
Minh, Chu Đức... đều bị thanh trừng, tra
khảo, đầy đọa thể xác và tinh thần đến chết
thảm thương. C̣n những gian thần như Lâm Bưu
th́ xu nịnh, tâng bốc Mao, cứu Mao khỏi nguy
cơ trông thấy rồi cũng bị thải loại và bỏ
chạy.
Cũng như ở Việt nam, những Trần Độ, Nguyễn
Hộ, Chu Văn Tấn, Dương Bạch Mai, Trần Xuân
Bách, Đặng Kim Giang, những trí thức khá lớn
Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức
Thảo..., những văn nghệ sỹ quư tự do như
Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Văn Cao, Hữu
Loan, Bùi Minh Quốc, Hà Minh Tuân, Việt
Phương... đều bị từ kiểm điểm, tra khảo đến
hành hạ, tù đầy, quản thúc, gia đ́nh bị đày
đọa, phân biệt đối xử theo. Rơ ràng ở Việt
nam cũng như ở Trung quốc, những người bị
thải loại nh́n chung đều có trí tuệ, tấm
ḷng với đất nước và đạo đức cao hơn những
kẻ cầm quyền. Thiệt hại cho quê hương, đất
nước không sao kể xiết.
8-. Cho đến thời kỳ đổi mới hiện nay, ở
Trung quốc và Việt nam vẫn c̣n những kẻ cơ
hội sùng bái Mao và chế độ độc đảng, dị ứng
với những giá trị của thời đại. Họ đàn áp
những chiến sỹ dân chủ, bỏ tù những chiến sỹ
dũng cảm dám đứng dậy đ̣i tự do báo chí, tự
do tôn giáo, tự do bầu cử cho nhân dân. Điều
rất đáng trách là vẫn c̣n những kẻ tự nhận
là trí thức mà c̣n mụ mị làm thầy căi cho
chế độ độc đảng tệ hại kiểu Mao.
Tiêu biểu gần đây là Phạm Toàn nào đó viết
bài trên Talawas lập luận rằng chớ nên đ̣i
quyền dân chủ vội, hăy đợi 15, 20 năm nữa.
Anh ta lại c̣n như thích thú lấy mấy cái
trung tiện (đánh rắm) nhơ nhớp làm bài học
chính trị của ḿnh; dân chủ hóa cũng như
trung tiện(!), phải chờ cho đến đúng lúc,
không sớm quá, không muộn quá. Cái gian xảo
của anh trí thức ''dỏm'' này là đưa một hiện
tưởng thuộc bản năng hoàn toàn sinh lư áp
dụng vào một vấn đề thuộc trí tuệ sáng tạo
trong lănh đạo chính trị. Sự mụ mị đến tận
cùng dơ dáy về trí tuệ và nhân cách! Mà h́nh
như c̣n là nhà sư phạm!
9-. Điều quan trọng hơn nữa với bạn đọc Việt
Nam khi nghiền ngẫm về cuốn sách của Jung và
Jon là cái mô h́nh quản lư xă hội mà Staline
và Mao đă chọn sau Cách mạng Tháng Mười -
1917 ở Nga và sau 1-10-1949 ở Trung quốc,
đồng thời ứng dụng mô h́nh ấy ở Việt nam và
hơn 10 nước ''xă hội chủ nghĩa '' khác ở
Đông Âu, Mông cổ, Bắc Triều tiên, Cuba, cái
mô h́nh ấy liệu vẫn c̣n sức sống nào, dù có
cải tiến chút ít?
Đặc điểm của cái mô h́nh ấy là: duy nhất một
đảng cộng sản thống trị xă hội không chia sẻ
với một đảng phái nào khác; được gọi là độc
quyền đảng trị; thực hiện công nghiệp hóa
vội vàng gấp gáp, lấy công nghiệp nặng làm
trung tâm; hạn chế sở hữu cá nhân, tiêu diệt
quyền tư hữu; nghiêm cấm tụ do báo chí và
thủ tiêu quyền tụ do tín ngưỡng. Thủ tiêu
nền văn hóa truyền thống dân tộc, thực hiện
văn hóa vô sản, thực tế là nền văn hóa cổ
xúy đấu tranh giai cấp tàn bạo, đẫm máu, đầy
bạo lực, bất công.
Cả mô h́nh này đă đổ vỡ, phá sản tận gốc ở
Liên Xô; Staline đă bị hạ bệ, bị cả thế giới
và dân Liên Xô nhận ra là kẻ sát nhân tàn
bạo hơn phát xít Hitler, nay đến lượt Mao
đang được dân Trung quốc và thế giới nhận
định lại cho thật đúng với thực tế. Các nhà
lănh đạo đảng cộng sản Trung Quốc có thái độ
nửa vời, đổi mới chút ít về chính trị và văn
hóa, đổi mới nhiều hơn về kinh tế, nhưng vẫn
duy tŕ chế độ độc quyền đảng trị. Họ không
dám hạ bệ Mao, họ đưa ra luận thuyết: ''Mao
có 2 phần đúng, một phần sai'' có nghĩa về
cơ bản vẫn là nhân vật lịch sử có nh́êu
thành tích và cống hiến. Công tŕnh của Jung
và Jon chính là một công tŕnh khoa học lịch
sử đồ sộ, đáng tin cậy, chứng minh Mao là
một nhân vật hoàn toàn tiêu cực, là kẻ giết
người hàng loạt, là tên đao phủ sô 1 trong
lịch sử loài người, là tên dâm loạn, kẻ vô
đạo đức, đầy thú tính, chịu trách nhiệm về
cái chết của 70 triệu sinh mạng Trung Quốc
và các nước, trong đó có nhân dân Việt Nam,
Triều Tiên, Cam - bốt, Lào, Mông Cổ, Tây
Tạng ... Cuốn sách đang đi dần, ngấm dần vào
nhận thức của hàng tỷ nhân dân Trung Hoa,
lay động lương tri và trách nhiệm của họ đối
với hiện tại và tương lai đất nước Trung Hoa.
Đây có thể là cuốn sách có sức lôi cuốn và
lay động sâu rộng nhất trong lịch sử hiện
đại của Trung Quốc. Jung và Jon đă làm nên
một việc tốt đẹp và cao quư, lại rất thiết
thực..
10-. Cuốn sách cho ta bài học lớn. Hăy t́m
cho ra sự thật. Hăy cùng nói lớn lên sự
thật. Sự thật và nhân dân quư hơn tất cả,
đáng trọng hơn tất cả. Dù là Staline, dù là
Mao, dù bất cứ ai khác một thời được nể
trọng, được sùng bái cũng phải đặt dưới nhân
dân. Nhân dân nuôi sống chúng ta. Nhân dân
làm nên lịch sử. Cuộc sống tự do hạnh phúc
của nhân dân là mục tiêu cao quư nhất. Kẻ
ngự trị trên đầu nhân dân, đẩy dân vào lầm
than tủi cực chết chóc không thể là người
tốt, đáng kính được. Phải biết hoài nghi một
cách khoa học. Tự ḿnh tập độc lập suy nghĩ,
tự t́m ra sự thật và chân lư cho ḿnh, cho
đồng bào ḿnh. Jung và Jon đă lật nhào thần
tượng, không chửi bới, không thóa mạ, không
đao to búa lớn. Lời lẽ ôn tồn, đưa ra nhân
chứng, bằng chứng, để cho bạn đọc suy nghĩ
và kết luận.
11-. Cuốn sách một số lần nói đến Việt Nam.
Đến Hồ Chí Minh gặp Mao và gặp Staline ở
Moscow cuối năm 1949. Tác giả kể rằng cuối
đời ḿnh, Mao tỏ ra hài ḷng với Chu Ân Lai
ngay khi Chu đang bị bệnh ung thư hành hạ,
vào cuối năm 1974, Chu vẫn chỉ đạo việc cho
quân đánh chiếm đảo Hoàng Sa (Paracels) do
quân đội Việt Nam cộng ḥa ở miền Nam đóng
giữ, trước khi quần đảo này kịp rơi vào tay
các đồng chí của họ ở Bắc Việt Nam.
Chỉ một nét ấy thôi là đủ để thấy rơ và sâu
tham vọng của Mao, của Chu, của Đặng Tiểu
B́nh đối với Việt Nam ta. Chưa nói đến
chuyện 5 năm sau đó, Đặng xua quân vào 6
tỉnh miền Bắc giáp giới với Trung quốc tàn
phá tan hoang từ nhà ở của dân, phá tan từ
giường tủ, nồi niêu, bát đĩa cho đến nhà
máy, trường học, bệnh xá, cầu cống, đường
sắt... đến hàng vạn xác chết đồng bào và
chiến sỹ ta; vậy mà đảng vẫn không cho nhắc
đến những ngày ''kỷ niệm đen tối'' hằng năm
này, không cho đặt ṿng hoa trước các mộ
liệt sỹ, sợ làm phật ḷng các đồng chí Trung
Quốc đàn anh.
Jung và Jon gợi ư cho người Việt ta một suy
nghĩ sâu xa, ta được hưởng lợi ǵ khi suy
tôn Mao làm lănh tụ chính trị và tinh thần,
khi lấy tư tưởng Mao làm nền tảng, để đến
bây giờ vẫn tôn những người kế thừa Mao là
đồng chí, là anh em, là nguồn kinh nghiệm
quư, như mấy ngày tháng vừa qua các ông
Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn
Phú Trọng, Hồ Đức Việt, Tô Ruy Hứa...đă sang
tận Bắc kinh để khẳng định long trọng, với
16 chữ vàng ...khè!
Cuốn sách của Jung và Jon nhắn nhủ người
Việt chúng ta rằng: người Trung Quốc chúng
tôi đă nhận ra bộ mặt thật của Mao rồi đó,
dù cho những người cầm quyền ở Bắc kinh vẫn
c̣n giả đui giả mù. Mao thực sự chịu trách
nhiệm về cái chết của 70 triệu sinh linh,
trong đó có hàng triệu đồng bào Việt Nam của
các bạn rồi đó. Các bạn có nên tiếp tục theo
tư tưởng của Mao, mô h́nh quản lư xă hội của
Mao, vừa gia giảm lại vừa giữ ǵn học thuyết
Mao, phi Mao hóa một cách nửa vời, vừa nói
dân chủ vừa giữ độc quyền một đảng, vừa nói
dân chủ vừa cấm tư nhân làm báo, ông Nguyễn
Minh Triết nói y như Hồ Cẩm Đào, ông Nguyễn
Tấn Dũng nói y như Ôn Gia Bảo, có nên như
vậy măi chăng?
Cuốn sách này, các đảng viên cộng sản Việt
nam cần đọc, trí thức Việt Nam cần đọc, tuổi
trẻ Việt nam cần đọc. Những người lănh đạo,
cầm quyền cần đọc. Để rồi t́m cho ra sinh lộ
cho nước ta, cho dân ta.
Giữa lúc một số trí thức văn nghệ sỹ có tâm
huyết đề ra tổ chức một cuộc trao đổi về
t́nh h́nh và lối ra cho dân tộc ta, khởi đầu
bởi các bạn Bùi Minh Quốc, Hà Sỹ Phu, Lê
Hồng Hà, Phan Đ́nh Diệu, Lê Đăng Doanh, Mai
Thái Lĩnh... cuốn sách ''Những điều chưa
biết về Mao'' ra mắt thật đúng lúc, v́ mối
quan hệ Việt - Trung luôn có ư nghĩa quyết
định đối với quá khứ, hiện tại và tương lai
của Việt nam ta. Độc lập, tự chủ, chủ quyền
toàn vẹn, quan hệ hợp tác b́nh đẳng, hội
nhập trọn vẹn với thế giới dân chủ văn minh
phải chăng là con đường phải theo của nhân
dân ta trong quan hệ Việt - Trung. Từ bỏ dứt
khoát thái độ sùng bái, phụ thuộc, bất b́nh
đẳng, quỵ lụy đàn em, để bị lấn lướt hiếp
đáp miệt thị, thiệt hại đủ đường và không
sao lường hết...
Khi biết và đọc những bài này, từ trong nước
những người c̣n nặng ḷng với ''bác Mao'' sẽ
lại vu cáo tôi là theo lập trường phản động,
bôi xấu đảng và nhà nước ta, rồi lải nhải là
tôi bất măn, phá hoại. Xin thưa cả làng: tôi
cất công phỏng dịch và tóm tắt công tŕnh
này chỉ v́ ḷng ngay dạ thẳng, v́ thương dân
ḿnh chưa có tự do, yêu đồng bào ḿnh chưa
hoàn toàn giải thoát khỏi nạn độc quyền đảng
trị, xót xa với tuổi trẻ ḿnh c̣n bị mê
hoặc, nên quê hương ta vẫn hèn kém so với
thiên hạ. Cái nhục lớn này toàn dân ta hăy
tỉnh dậy. Cuốn sách này là lọai sách thức
tỉnh. Cần và quư lắm.
Các bạn hăy t́m đọc toàn bộ cuốn sách đồ sộ,
phong phú, biên tập cực kỳ công phu, với tâm
huyết tràn đầy này. Không ǵ thay được
nguyên bản. Trong khi chờ đợi, xin hăy vui
ḷng với bản phỏng dịch và tóm tắt trong 14
bài này, tôi làm gấp trong 3 tháng qua, miệt
mài, say mê, ở tuổi 80, không tránh khỏi sơ
xuất, xin được miễn thứ.
Một số tên Trung Quốc trong sách này, là do
anh Phùng Nguyên ở Paris phiên âm giúp ra
tiếng Việt, xin cám ơn anh.
Xin chân thành cám ơn các bạn.
Paris, tháng 10-2007. |