Tết Con Heo Nhớ Xuân Con Mèo (I)

Minh Vơ


Khi chúng tôi gửi bài này tới DCV th́ con chó hăy c̣n khóc đứng khóc ngồi, chưa nghe tiếng lợn ủn ỉn “mua hành cho tôi”, nhưng hoa mai vàng đă rực rỡ dưới trời Nam và hoa đào nhuộm thắm Hà Thành rồi. Mong rằng mấy ư kiến dưới đây, viết thêm vào một bài trước, sẽ không làm nhàm mắt bạn đọc trong dịp xuân sang.
 

Môi son tươi thắm cánh đào xuân
Nguồn: g3studios.com


Sau bài Hoa Đào Và Máu Đào (đăng trên Đàn Chim Việt Online các ngày 31 tháng 10, 1 tháng 11 2 tháng 11 năm 2006), tôi đă nhận nhiều ư kiến của độc giả liên quan đến cành đào ông Hồ tặng ông Diệm và những hệ quả của toan tính hiệp thương hai miền Nam–Bắc. V́ vậy nhân dịp Tết Đinh Hợi, nhớ lại sự việc xảy ra ngày Tết Quí Măo, chúng tôi xin được trở lại vấn đề này để bổ túc và giải thích thêm một số điểm gây tranh căi. Chúng tôi chỉ xin nêu lên bốn ư trong số rất nhiều ư kiến của độc giả. (Vài ư khác ra ngoài đề cũng được nhắc qua và giải thích vắn tắt nơi chú thích)

Có người khẳng định là người viết bịa đặt. Họ bảo ông Hồ không đời nào hạ ḿnh trước kẻ làm tay sai cho Mỹ như Diệm. Không hề có chuyện ông Hồ gửi tặng ông Diệm cành đào nào cả.

Người khác lại bảo ông Hồ gửi cành đào cho ông Diệm nhằm mục đích ly gián ông này với Mỹ. Ông Diệm không hiểu thâm ư đó nên đă cho trưng bày cành đào, và từ đó sóng gió nổi lên lật nhào con thuyền Đệ Nhất Cộng Ḥa. Đúng như ông Hồ tiên liệu. Theo ư họ, đáng lẽ ông Diệm phải sáng suốt cho vứt cành đào vào sọt rác, hay lịch sự hơn, gửi trả lại.

Có người c̣n đi xa hơn nữa, bảo chính CIA Mỹ đă gửi cành đào đó để tạo bằng chứng Ngô Đ́nh Diệm phản bội lư tưởng chống Cộng, rồi từ đó thúc giục mấy tướng lật ông Diệm. Và đồng thời dựa vào bằng chứng đó biện minh cho hành động lật đổ và sát hại anh em ông Diệm. Một sử gia tên tuổi, giáo sư ở Úc c̣n cho biết ông đă t́m thấy một tài liệu mật mới được giải mật ở thư viện Kennedy cho biết Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ đă có mật lệnh cho ngụy tạo (fabricate) chứng cớ ông Ngô Đ́nh Nhu liên hệ với Bắc Việt.

Nhưng đáng chú ư hơn cả là một vài bạn bè cũng tỏ vẻ nghi kỵ người viết, cho rằng lập luận như người viết là đă coi ông Hồ như người yêu nước và đánh đổ ṣng hai ông Ngô, Hồ. Viết như vậy là ngược lại công tŕnh nghiên cứu của cuốn Hồ Chí Minh nhận định tổng hợp. Một vị cựu dân biểu đệ nhị Cộng ḥa ở Pháp c̣n bảo đă đọc Hồ Chí Minh nhận định tổng hợp rồi đọc bài Hoa Đào Và Máu Đào th́ thấy như có hai Minh Vơ, không phải một Minh Vơ.

Đáp lại những ư kiến phức tạp đa dạng đến đối chọi nhau như thế, chúng tôi xin tŕnh bày thêm một số dữ kiện và tư liệu để bạn đọc cùng suy nghiệm.

Trước hết về ư kiến thứ nhất, chúng tôi đă kiểm tra lại cẩn thận hơn. Chẳng những ông cựu đổng lư văn pḥng Quách Ṭng Đức đă xác nhận với luật sư Lâm Lễ Trinh, và cựu nghị sĩ Lê Châu Lộc cũng xác nhận với tôi như vậy, như tôi đă viết ở bài trước. Sau khi hỏi lại ông Lộc một lần nữa cho chắc th́ tôi được biết ông đă hỏi kỹ lại nhiều người khác như cụ Cao Xuân Vỹ khi xưa từng là phụ tá của ông Ngô Đ́nh Nhu trong phong trào Thanh Niên Cộng Ḥa, như cựu trung tá Nguyễn Cửu Đắc thời ấy cũng là tùy viên bên cạnh Tổng Thống Diệm, như cựu thiếu tướng Huỳnh Văn Lạc lúc ấy đang chỉ huy đội cận vệ, v.v... Tất cả đều nhớ là đích thực có cành đào đó tại pḥng khánh tiết phủ tổng thống được trưng bày trong dịp Tết Qúi Măo. Có một điều, trong bài Hoa Đào Và Máu Đào chúng tôi đă viết sai là ở dinh Độc Lập. Đúng ra, theo các vị trên xác nhận, th́ là ở dinh Gia Long. Nhân đây chúng tôi xin đính chính và cáo lỗi cùng độc giả.

Nếu với ngần ấy nhân chứng mà ai đó c̣n bảo bịa đặt th́ chúng tôi thú thực không biết nói ǵ hơn. Tiếc rằng chúng tôi chưa t́m được tài liệu hay nhân chứng nào từ phía Bắc Việt liên quan đến cành đào của ông Hồ. Nếu quư vị nào có tin ǵ từ phía nhà cầm quyền Hà Nội về vấn đề này, xin chỉ giáo.

Về giả thuyết đây là kế ly gián của ông Hồ, chúng tôi đồng ư là con người thâm hiểm ấy có thể có nhiều mưu mô khôn lường. Nhưng trong trường hợp này, căn cứ vào những lời tường thuật của Maneli, ông Hồ, qua Phạm Văn Đồng, đă thẳng thắn đưa ra điều kiện tiên quyết và duy nhất là phải loại bỏ sự có mặt của người Mỹ tại miền Nam, sau đó “cái ǵ cũng có thể thương lượng được”.

Như vậy lá bài đă lật ngửa. Không có lư do để ông Hồ mưu mô đánh lừa. Có thể lúc ấy ông Hồ đă biết rơ con người Ngô Đ́nh Diệm luôn cương trực và có tinh thần “dân tộc cực đoan”, cũng đă sẵn có ư định thoát khỏi sự kiềm tỏa của một số người Mỹ là những người chỉ dùng sự viện trợ như một ràng buộc bắt ông Diệm phải tuân phục.

Về phía ông Diệm, tuy biết ông Hồ nhiều mưu sâu thâm độc, cần cảnh giác, nhưng ông cũng đủ tự tin và hiểu đối phương để sẵn sàng đối phó với những mưu mô ấy. Những ǵ nhà báo Úc nổi tiếng Denis Warner viết về sự hiểu biết của ông Diệm đối với Mao Trạch Đông, Che Guevara và Hồ Chí Minh mà chúng tôi đă trưng dẫn ở bài trước chứng tỏ ông Diệm là người “tri kỷ, tri bỉ”.

Cựu đại sứ Mỹ Frederick Nolting cũng không tiếc lời ca ngợi ông Diệm về những kiến thức uyên bác: ông nói thao thao bất tuyệt trong nhiều giờ mà chẳng những không làm người đối thoại nhàm chán mà c̣n khiến người ta say mê theo dơi và thán phục. (1)

 
Trần Văn Đôn
Nguồn: Minh Vơ
Ngay tướng Trần Văn Đôn, chủ chốt trong vụ đảo chính, trong cuốn Our Endless War cũng khen ông Diệm có tinh thần học hỏi, nghiên cứu, “cái ǵ cũng muốn am hiểu tường tận....” (2). Một người cực kỳ thông minh, 32 tuổi đă giữ chức thượng thư bộ Lại, tương đương với chức thủ tướng thời nay, lại chịu nghiên cứu tỷ mỷ đến nơi đến chốn về mọi khía cạnh của đất nước như vậy, chẳng lẽ lại là người quá kém cỏi về mưu lược so với ông Hồ.

Hơn nữa, trong dĩ văng, ông Diệm là chính trị gia duy nhất đă không bị ông Hồ lừa vào cái thế Liên Hiệp như các lănh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng (Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh...), Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh (Nguyễn Hải Thần...), hay các cụ Huỳnh Thúc Kháng v.v... Trong lúc như cá trốc thớt, đang bị ông Hồ giữ làm tù nhân mà ông Diệm đă dám ngang nhiên từ chối lời mời của ông Hồ giữ bộ Nội vụ là địa hạt mà “ông Diệm có tài thiên phú c̣n đàn em của ông Hồ quá kém cỏi”. (3)

Một người thông minh, có lập trường dân tộc, lại có kinh nghiệm với cộng sản không dễ ǵ bị ông Hồ đánh lừa được. Đă nhận cành đào, cho trưng bày nó tại pḥng khánh tiết phủ tổng thống có nghĩa là ông Diệm đă nhận cuộc thách đấu chính trị không những của ông Hồ và phe cộng, mà c̣n gián tiếp của một số người Mỹ đang muốn lật ông nữa.

Nói là thách đấu, nghe có vẻ bất thân thiện, hiếu chiến. Nhưng thực ra h́nh thức th́ lại có tính xă giao, thân t́nh: Một cành đào tặng trong dịp Xuân. Do đó nếu có ngồi lại thương thảo với nhau, th́ thế của ông Diêm lúc ấy hơn hẳn thế của đệ nhị Cộng Ḥa ở ḥa đàm Paris sau này. Phe ông Hồ ở ḥa đàm Paris ngay đối với Mỹ cũng không lịch thiệp nhă nhặn như đối với ông Diệm 6 năm trước.

Thay v́ đi bước trước bằng cành đào, ông Hồ mặc dù sắp chết (1969), đă chẳng những không đưa tay tiếp nhận tẩu thuốc hoà b́nh Nixon đưa mời mà c̣n giật lấy tẩu thuốc, toan đánh Nixon, và đổ tàn thuốc c̣n nóng hổi vào bàn tay người mời như cách ví von của tướng Philip Davidson trong Vietnam At War. (4)

Cuối cùng, hơn hai năm sau khi ông Hồ đă xuôi tay, Nixon phải cho lệnh phong tỏa hải cảng Hải Pḥng, oanh kích Hà Nội, Hải Pḥng ṛng ră 12 ngày trong dịp Giáng Sinh năm 1972, Lê Đức Thọ mới chịu tái họp nghiêm chỉnh để có thể đi đến Hiệp định Paris (27 tháng 1, 1973). Hiệp định này tuy cứu được phần nào danh dự Mỹ, nhưng đă bức tử Việt Nam Cộng Ḥa.

Tất cả chỉ v́ một số người Mỹ cũng như Việt lúc ấy quá tin vào biện pháp quân sự, với lực lượng hùng hậu của Hoa Kỳ có thể tiêu diệt Việt Cộng dễ dàng. Họ quên rằng đưa quân đội nước ngoài vào Việt Nam mà không có một hiệp ước song phương được quốc hội phê chuẩn (như trước kia ông Diệm, khi đàm đạo với đại sứ Frederick Nolting đă luôn nằng nặc đ̣i cho bằng được một hiệp ước như thế nếu cần có quân Mỹ can thiệp), th́ chính nghĩa tự vệ của miền Nam sẽ mất. Quân sĩ dù thiện chiến và có tinh thần quyết chiến hy sinh đến đâu vẫn bị đối phương tuyên truyền, gọi là lính đánh thuê để lừa bịp dư luận Mỹ và thế giới. Kết quả là phong trào phản chiến nổi lên khắp nơi. Lúc ấy (trong trận chiến ư thức hệ đặc biệt) bom nguyên tử cũng thành vô dụng.

Trước khi sang ư kiến thứ 3, tưởng cũng nên có một cảnh giác bên lề. Tuy Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản có thể có nhiều mưu kế, nhưng cũng không nên huyền thoại hóa khả năng của họ về mặt này để khỏi rơi vào bẫy để họ có thể thổi phồng khả năng cài người, đặt nội gián (cỡ Phạm Xuân Ẩn, Huỳnh Văn Trọng, hay Vũ Ngọc Nhạ) vào trung tâm quyền lực của Việt Nam Cộng Ḥa trước đây.

Việc CIA ngụy tạo danh thiếp của Hồ Chí Minh kèm theo cành đào, nếu chuyện đó có thực th́ phải có nhiều đồng lơa, kể cả của nhân viên trong Ủy Hội Quốc tế Kiểm soát đ́nh chiến (ICC), v́ ông Lê Châu Lộc cho biết chính ông đi nhận cành đào ở Ủy Hội. Vả lại khi mà ông Nhu nói chuyện công khai với Maneli, “một thứ phái viên của Hà Nội” ngay tại buổi tiếp tân của ngoại trưởng Trương Công Cừu ngày 25 tháng 8 năm 1963 th́ c̣n có sự hiện diện của tân đại sứ Mỹ Cabot Lodge.

Ngoài ra, theo nữ tiến sĩ Ellen Hammer th́ ông Nhu c̣n cho ông Lodge biết chuyện Maneli nói với ông. Vậy th́ đâu có cần phải ngụy tạo làm ǵ? Việc ngụy tạo này, nếu có sẽ vô cùng khó khăn và cực kỳ nguy hiểm, nếu bị phát giác sẽ liên hệ đến danh dự của siêu cường Mỹ. Tuy nhiên, mặc dù riêng cá nhân tôi không được biết có tài liệu nào liên quan đến sự ngụy tạo nói trên, tôi cũng không có bằng chứng ǵ để phủ nhận một tin rất lạ lùng về việc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ chỉ thị cho CIA ngụy tạo (nguyên văn fabricate) bằng cớ về sự dính líu của bào đệ của Tổng thống Diệm với Bắc Việt.

Chúng tôi xin được giải thích kỹ hơn những nghi ngờ của một vài thân hữu về thái độ của người viết đối với ông Hồ, cho rằng chúng tôi coi ông Hồ cũng v́ quyền lợi dân tộc như ông Diệm,.

Giải thích điểm này đáng lẽ phải phân tích lư thuyết Mácxít – Lêninít và nhất là chiến lược, sách lược đấu tranh chính trị của Lênin. Hay nói theo tập quán suy luận của tôi là chiến tranh (ư thức hệ) toàn bộ, toàn cầu, toàn diện, thường trực của cộng sản. Khi viết về ông Hồ, hay ông Diệm, hay cuộc chiến Việt Nam chúng tôi luôn luôn đặt đối tượng nghiên cứu vào trong bối cảnh chiến tranh ư thức hệ mà tôi coi như thế chiến III (4bis) Tuy nhiên trong cuốn Hồ Chí Minh, nhận định tổng hợp, chương 43 của phần 3 tôi đă nói một cách hết sức tóm tắt về những điều có tính lư thuyết, trừu tượng đó. (5)

Ở đây, xin đi thẳng vào vấn đề một cách cụ thể. Ông Hồ, nh́n qua lăng kính của chiến tranh ư thức hệ toàn cầu, trong phạm vi chiến lược, là một cán bộ cao cấp của Quốc Tế Cộng Sản (QTCS) với mục tiêu tối hậu là xích hóa toàn thế giới, để cuối cùng thiết lập chế độ độc tài toàn diện chuyên chính vô sản theo đúng lư thuyết Mácxít–Lêninít.

Nhưng nh́n ông ta dưới lăng kính của chủ nghĩa dân tộc, nghĩa là trong phạm vi sách lược giai đoạn của Lênin, (muốn tới Paris phải qua ngă Bắc Kinh, ṿng vo, dài ḍng, lắt léo) th́ trong con người Quốc tế Hồ Chí Minh, c̣n có con người Việt Nam Hồ Chí Minh. Con người thứ hai này lại được một số trí thức và các tầng lớp nhân dân trong nước và thế giới coi là nhà ái quốc do sự hướng dẫn sai lạc của một số nhà báo thiên tả hay kém hiểu biết, vô t́nh hay hữu ư không đếm xỉa đến con người quốc tế của ông ta.

Ông Diệm cũng biết rơ điều này như cựu đại sứ Frederick Nolting đă viết trong cuốn From Trust To Tragedy. Ông Diệm cũng biết sở dĩ ông Hồ được một số trí thức và một số dân chúng coi như yêu nước là v́ họ không nh́n thấy chiến lược dài hạn của Lênin (trong đề cương chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa dân tộc).

Ông Diệm cũng như nhiều thành phần quốc gia am hiểu chiến lược, sách lược cộng sản đều hiểu do tuyên truyền xảo quyệt tinh vi với kỹ thuật caocộng sản đă tạo được một h́nh tượng, một huyền thoại HCM yêu nước với hào quang chiến thắng Điện Biên đánh thắng đoàn quân viễn chinh hùng hậu của Pháp, cộng với hào quang cách mạng tháng 8– 1945 khởi nghĩa thành công giành độc lập, đánh đổ chế độ quân chủ phong kiến.

Những thực tế đó đă làm cho ông Hồ thành đối thủ rất đáng gờm của ông Diệm. Ông Hồ, tay sai thực sự của QTCS, tức của Liên Xô, Trung Cộng, được dư luận xem là nhà ái quốc v́ đă giấu kỹ được sự hiện diện của cán bộ Nga Cộng và Tàu Cộng ở Bắc Việt (do kiểm soát hoàn toàn các nguồn thông tin, bằng độc tài tuyệt đối). Trong khi đó tại miền Nam, ai cũng biết sự diện diện của các cố vấn Mỹ càng ngày càng tăng, từ vài trăm trong những năm 1954– 55 lên đến 16 ngàn vào năm cuối cùng của Đệ I Cộng Ḥa là 1963.

Sự hiện diện cũng như nhịp điệu gia tăng đó được các cơ quan truyền thông, do bản chất chế độ dân chủ tự do của miền Nam lúc ấy – mặc dù chỉ tương đối – không ngừng loan truyền trên khắp thế giới. Bộ máy tuyên truyền qui mô của ông Hồ làm cho ông Diệm nhức nhối với danh từ Mỹ–Diệm hàng ngày ra rả kêu réo trên đài Hà Nội và đài bí mật của mặt trận Giải Phóng Miền Nam.

Là người thực sự yêu dân, yêu nước lại bị một cán bộ Quốc tế Cộng Sản lấn lướt trong mặt trận tuyên truyền về ḷng yêu nước, ông Diệm chẳng lẽ lại muối mặt không dám bắt tay nhận cuộc thách đấu khi ông Hồ ch́a tay ra với cành đào Xuân? Với cành đào này, có thể ông Hồ muốn chơi tṛ tháu cáy, nhắn bảo ông Diệm, “hăy đuổi Mỹ đi để chứng tỏ ông không phải tay sai của Mỹ. Có thế ông mới xứng đáng là đối thủ của tôi”.

Phe thế giới Tự Do, trong đó gồm cả Việt Nam Đệ Nhất Cộng Ḥa từng thua kém phe CS về tuyên truyền (mặt tiêu cực cũng mặt tích cực) là vũ khí chủ soái của chiến tranh ư thức hệ Cộng Sản. Điều đó xin đừng v́ tự ái mà phủ nhận. Nhưng nếu đề cao được chính nghĩa của cuộc chiến là chủ nghĩa dân tộc, là ḷng yêu nước, th́ sẽ tức khắc lấy lại được sự cân bằng, nếu không nói là thế thượng phong.. Hơn nữa ḿnh có chính nghĩa thực sự. C̣n đối phương chỉ là chính nghĩa giả tạo, v́ đó chẳng qua chỉ là chính nghĩa giai đoạn sách lược, theo sách lược giai đoạn của Lênin.

Ngoài ra, tuy là ở hai chiến tuyến đối kháng trong cuộc chiến ư thức hệ, nhưng hai khối Đông Tây lúc ấy không phải đă ở trong t́nh trạng chiến tranh (quân sự). Liên Xô và các cường quốc Phương Tây vẫn có quan hệ ngoại giao với nhau. Vẫn có những cuộc gặp gỡ, thương thuyết, ḥng giữ cho sự đối kháng không đưa tới chiến tranh gây tai họa cho cả đôi bên. Thế th́ tại sao giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa và Cộng Ḥa Việt Nam lại không có thể dần dần tiến tới một quan hệ nào đó để tránh chiến tranh mở rộng?

Ông Diệm hẳn c̣n nhớ hồi 1954 chính Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Cộng đă đề nghị với ông Ngô Đ́nh Luyện, bào đệ của Thủ Tướng Diệm vừa được chỉ định, rồi lại đề nghị với ngoại trưởng Trần Văn Đỗ là “miền Nam Việt Nam nên lập bang giao với Trung Quốc”. Ba năm sau, lănh tụ Liên Xô Nikita Khrushchev c̣n đề nghị cho cả hai miền Nam, Bắc vào Liên Hiệp Quốc.

Mặc dù ông Diệm cũng lại hiểu đó chỉ là một h́nh thức đấu tranh chính trị, một mặt trận ngoại giao trong thế chiến toàn bộ, toàn diện mà thôi nhưng khi ấy ông Diệm chưa đủ sức và thấy chưa đến lúc phải thoát hẳn ra ngoài qũy đạo của Hoa Kỳ trong thế chiến lược toàn cầu đối với phe Cộng. Nhưng nay hoàn cảnh đă khác. Đă am hiểu thế nào là chiến tranh ư thức hệ, toàn cầu, toàn diện th́ không thể nào không biết tiếp đ̣n và trả đ̣n đối phương.

Xét riêng về mặt quân sự, các binh thư kim cổ đều bàn về thế công và thế thủ, và cả về thoái lui có trật tự để bảo toàn lực lượng. Th́ cũng tương tự như thế, xét về mặt phi quân sự, cuộc chiến ư thức hệ cũng có những giai đoạn thế công, thế thủ, và tạm rút lui, lùi một bước để tiến hai bước, thậm chí, lùi hai bước, để tiến lên một bước như Lênin đă đặt tên cho tác phẩm của ông Hai Bước Lùi Một Bước Tiến. Có khi lùi chỉ là diện để tiến về điểm. Lùi ở mặt trận này để tiến ở mặt khác v.v...

Xét tương quan lực lượng đôi bên, lúc ấy Việt Nam Cộng Ḥa tuy không là thành viên SEATO (Tổ chức Liên Pḥng Đông Nam Á) nhưng được tổ chức này bảo vệ. Nếu có một cuộc xâm lăng quy mô của Bắc Việt, th́ quân các nước thành viên SEATO sẵn sàng tham chiến để đẩy lui.

Về mặt ngoại giao, tuy lúc ấy ông Diệm bị khó khăn với Mỹ nhưng được đại đa số các nước Tây Phương và một số đông các nước trong khối quốc gia không liên kết ủng hộ.

Về kinh tế, miền Nam hơn hẳn miền Bắc. Cải Cách Ruộng Đất và kế hoạch hợp tác hóa công, nông, thương nghiệp đă làm cho Bắc Việt lâm vào cảnh cha chung không ai khóc khiến đời sống nhân dân đói khổ.

 
Nguyễn Văn Linh
Nguồn: dangcongsan.vn
Về an ninh, như chính Nguyễn Văn Linh đă thú nhận với Neil Sheehan, và sau này Văn Tiến Dũng cũng xác nhận trong hồi kư của ḿnh, từ 75 (NVL) đến hơn 90 (VTD) phần trăm cán bộ nằm vùng đă bị mật vụ của ông Nhu, ông Cẩn phá vỡ. Chính Lê Duẩn cũng than rằng các cơ sở trong Nam bị phá hầu hết. (6)

Thế c̣n mối nguy Trung Cộng can thiệp giúp Bắc Việt trong khi Mỹ đă rút hết? Mặc dầu ông Hồ là cán bộ Quốc tế cộng sản, không dễ ǵ được tự do thương lượng với ông Diệm. Có người c̣n nghi rằng ông Hồ ch́a cành đào ra cũng nằm trong kế sách của đàn anh, nhưng xét t́nh h́nh bang giao lúc ấy giữa hai đàn anh đang có xung đột về vấn đề biên giới, khả năng Trung Cộng giúp Bắc Việt đánh úp miền Nam sau khi Mỹ rút ít có triển vọng xảy ra. Trung Cộng cũng sợ SEATO trả đũa chứ.

Cân nhắc những yếu tố đó, cộng với sự đánh giá tác động của tuyên truyền cộng sản mà ông Diệm thấy ḿnh khó có thể hơn, ông Diệm hẳn là phải suy tính lung lắm.

Theo thiển kiến đó là những ǵ quay cuồng trong đầu hai anh em ông Diệm, trước khi cho trưng bày cành đào của ông Hồ tại pḥng khánh tiết dinh Gia Long, chứ không bảo đem ném nó vào thùng rác như có nhiều người muốn hai ông làm như vậy.

Tác dụng tối đa của cành đào Xuân Quư Măo, mà ông Diệm nhắm tới chỉ là mở đầu cho một giai đoạn “détente” (giảm sự căng thẳng giữa đôi bên đối kháng) chứ không phải “entente” (thỏa hiệp giữa hai bên cùng có những quyền lợi chung) giữa hai họ Hồ – Ngô.

Riêng độc giả Hồ Chí Minh, nhận định tổng hợp, chắc đă nhận thấy là ngay ở hàng đầu của Lời Nói Đầu Minh Vơ đă viết: “Trong mỗi con người đều tiềm ẩn một thiên thần và một ác quỷ”. Hơn nữa, ngay trang đầu, liền dưới nhan sách, cũng có ghi danh ngôn của Pascal, nhà toán học, khoa học gia Pháp trứ danh với nhiều phát biểu trở thành danh ngôn của nhân loại: Con người không phải thiên thần, cũng không phải thú vật.

Chúng tôi vẫn nghĩ đă là con người th́ ai cũng có những ưu và khuyết điểm. Nhân vô thập toàn. Dù tài giỏi đến mấy cũng có những lúc tỏ ra kém cỏi. Dù thánh thiện đến đâu cũng có những khi phạm lỗi lầm. Ngược lại dù tàn bạo, gian ác, xảo trá đến mấy cũng có những lúc, v́ hoàn cảnh, hoặc v́ lư do nào khác không rơ rệt đă có những hành vi nhân đạo, lương thiện dù chỉ là nhất thời.

Dĩ nhiên chúng tôi cũng hiểu xét một người không chỉ xét một vài hành vi cá biệt mà phải xét tính t́nh, nghĩa là xu hướng nội tâm, cộng với tập quán, hay thói quen của con người. Một người với tính t́nh hay thói quen xấu cũng có thể có một vài hành vi tốt. Nhưng hành vi cá biệt tốt đó không thể là tập quán hay thói quen. Tập quán hay thói quen phải là nhiều, rất nhiều hành vi được lặp đi lặp lại một cách đều ḥa, thường xuyên. Đó là một thứ bản tính tự nhiên (hay thiên nhiên) thứ hai: (L’habitude est une seconde nature)

Như vậy đă rơ chúng tôi không phải có tư tưởng cực đoan khi nghiên cứu và bày tỏ quan điểm về ông Hồ. Nhiều chỗ trong sách chúng tôi đă không ngần ngại khen ông Hồ. Tôi vẫn nghĩ nếu không có khả năng, không có tài cán ông ta đă không đánh bại được phe quốc gia và đă không làm cho đàn em của ông thống trị đất nước được cho đến ngày nay. Nhưng, dĩ nhiên, khả năng, “tài cán” không đồng nghĩa với anh hùng dân tộc, “cha già dân tộc” (7). Nếu phe quốc gia chúng ta không tự kiểm điểm để biết ḿnh biết địch, t́m hiểu lư do thực sự của sự thất trận, cứ măi măi biện minh rằng ta thua v́ bị Mỹ bỏ rơi, Mỹ phản bội... th́ đảng cộng sản c̣n thống trị nhân dân ta lâu, rất lâu. Hy vọng lời nói thẳng này không làm một số vị nổi giận.

Mong rằng mấy hàng trên đă giải đáp phần nào bốn thắc mắc chính của độc giả.

(C̣n tiếp)


Copyright © 2006–2007 DCVOnline


 
(1) Trong hồi kư From Trust To Tragedy, (nxb Praeger, N.Y. 1988, trang 22-23) cựu đại sứ Mỹ Frederick Nolting viết: “Cuộc hội đàm của chúng tôi (giữa ông và ông Diệm) kéo dài 6 giờ. Thực sự xem ra không thấy lâu mấy. V́ tôi thấy những đề tài mà chúng tôi thảo luận vô cùng hấp dẫn. Ông (Diệm) khởi sự bằng việc giải thích lịch sử Việt Nam từ thời quá khứ xa xăm qua các cuộc chiến tranh với Trung Hoa, cuộc chiếm đóng của quân Pháp, quân Nhật và thời kỳ hỗn loạn sau thế chiến 2. Những tài liệu nghiên cứu phong phú về dân tộc Việt Nam, về nguồn gốc, văn hóa, và vận mệnh của dân tộc đó bắt đầu trước kỷ nguyên Thiên Chúa, chấm dứt không phải trong hiện tại mà măi nhiều thế kỷ trong tương lai. (....)

“Tôi đă có đọc lịch sử Việt Nam và đă biết các cuộc chiến tranh giành độc lập của sứ sở này, và cũng đă biết là ông Diệm hiểu biết tường tận, thấu đáo vấn đề. May mắn là tôi cũng đă có một căn bản hiểu biết đáng kể về triết học và khoa tôn giáo đối chiếu. Nhưng tôi hoàn toàn không được chuẩn bị để nghe những điều như thế này. Càng nghe tôi càng thích thú. Tôi đặt những câu hỏi. Mỗi câu hỏi lại mở ra một chương mới, và sau một thời gian tôi nhận ra sự dấn thân, tận hiến và ḷng say mê của con người này, một người hiến trọn đời ḿnh để giữ cho bằng được căn cước lịch sử của dân tộc ông ta và ông ta hiểu nó, yêu nó.

(2) Trong Our Endless War (Presidio Press, 1987 trang 51) tướng Trần Văn Đôn viết: “Ông Diệm muốn học thật nhiều, học hết sức ḿnh, về mọi khía cạnh của đất nước, chính phủ, Việt Minh, và quân đội. Ông hỏi tôi những câu hỏi rất tỷ mỷ, thấu đáo và có thể moi cho đến tận cùng tất cả những ǵ tôi biết lúc đó. Tôi rất cảm phục ông, coi ông là một người rất mực thông minh, cương trực và đầy ḷng yêu nước.” Đọc đến đây chúng tôi lại nhớ đến lời khen của nhà cách mạng Phan Bội Châu: “Ngô Đ́nh Diệm là chí sĩ, vĩ nhân” và của cựu hoàng Bảo Đại: “Ngô Đ́nh Diệm nổi tiếng thông minh, liêm khiết” (Con rồng Việt Nam, Nguyễn Phước Tộc, Nam Cali, 1990, trang 91)

(3) Theo Bernard Fall trong The Two Vietnams, nxb Frederick A. Praeger, USA, 1967, trang 240.

(4) Xem Vietnam At War, Presidio Press, Novato, California, 1988, trang 597...

(4bis) Trước đây ít nhất đă có bảy người sau đây gọi cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối Đông Tây là thế chiến III. Một trong bảy người đó là Tổng Thống Richard Nixon (xin xem The Real War, chapter 2) viết rằng thế chiến III đă khởi sự kể từ khi thế chiến II chưa kết thúc. Riêng người viết đă viết trong HCM, nđth rằng thế chiến III đă nhen nhúm với Tuyên Ngôn Cộng Sản của Mác và Ăng Ghen. Và chúng tôi luôn luôn cho rằng thế chiến III không phải chỉ là cuộc chiến giữa hai khối Đông Tây mà là cuộc chiến giữa một bên là khối Cộng khai chiến, chủ chiến và một bên là toàn thể nhân loại cần phải tự vệ để sinh tồn. Theo những ǵ chúng tôi đă được đọc th́ bốn người đầu tiên dùng những từ thế chiến III là Robert Strausz-Hupé và 3 cộng sự viên, đồng tác giả cuốn Protracted Conflict (Cuộc Xung Đột Kéo Dài, viết về những ǵ Mao Trạch Đông bàn trong Tŕ Cửu Chiến Luận, được Trường Chinh mô phỏng viết nên Trường Kỳ Kháng Chiến Nhật Định Thắng Lợi) (Harper & Brothers, NY, 1959). Người thứ 5 là Max Eastman, người giới thiệu cuốn Protracted Conflict, trong Readers’ Digest số tháng 1- 1961. Người thứ sáu là văn hào phản kháng trứ danh của Nga Alexander Solzhenitsyn viết trên tờ Le Monde 1.5.1975, ngay sau khi nghe Saigon thất thủ. Và sau cùng là cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon.

(5) Xem HCM, ndth, nxb Tủ Sách Tiếng quê hương, tái bản năm 2006, trang 479- 522.

(6) Xem When The War Was Over của Neil Sheehan, trang 77, và Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước của Văn Tiến Dũng, trang 16 phần cước chú.

(7) Sau đây là vài ví dụ về cái tài ma giáo của ông Hồ đă được tŕnh bày chi tiết trong HCM ndth:

- Chiếm danh, chiếm luôn tổ chức và thành tích của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh hội, biến nó thành mặt trận Việt Minh;
- Xâm nhập, thao túng, lũng đoạn và biến Tâm Tâm Xă của các đồ đệ cụ Phan Bội Châu thành Việt Nam Cách Mệnh Đồng Chí Hội, cái nhân của Đông Dương Cộng Sản Đảng;
- Biến cuộc biểu t́nh của liên đoàn công chức chính phủ Trần Trọng Kim thành cuộc mít-tinh rồi biểu t́nh của Việt Minh, khởi đầu cái gọi là cách mạng tháng tám thành công v.v.... (Điểm này th́ ông Hồ không đích thân làm nhưng đàn em ông đă theo chỉ thị của ông, hoặc học được cái tài của ông.)

Cướp công thật nhanh, thật tài t́nh như vậy không giỏi sao? Nhưng v́ là cướp công của nhân dân, của những nhà đấu tranh v́ chủ nghĩa dân tộc để rồi tự xưng là “cha già dân tộc” th́ đó là ma giáo, bá đạo. Không thể là anh hùng dân tộc được. Cái tài của ông Hồ là cái tai họa của dân tộc. Chữ tài liền với chữ tai một vần.

Công b́nh mà nói việc thống nhất đảng Cộng Sản Đông Dương vào ngày 6 tháng 1 năm 1930 (sau phải đổi thành ngày 3-2-30 theo chỉ thị của Quôc Tế 3) là nhờ khả năng lănh đạo và uy tín của ông Hồ chẳng những đối với 3 đảng Cộng Sản ở Việt Nam lúc ấy đang tranh giành quyền lực, mà c̣n đối với Quốc Tế 3 là cơ quan giao trọng trách đó cho ông ta nữa. Đó là một trong những công trạng lớn khiến Hồ Chí Minh được lănh tụ Cộng Sản Liên Xô Nikita Khrushchev mệnh danh là “Tông Đồ của chủ nghĩa Cộng Sản”