|
Hồi kư
của một Việt Cộng (I)
Minh Vơ
“Nhưng các đồng chí đảng viên không thể
nào bị thuyết phục bởi những luận cứ
t́nh cảm hay lẽ phải. Họ đă từ bỏ cả
lương tâm lẫn cảm quan thực tiễn v́
những tín điều tôn giáo chính trị mà họ
cho rằng không thể sai lầm. Giữa niềm
tin sắt thép và ngạo mạn của họ”. –
Trương Như Tảng
Hai từ Việt Cộng (thường được người
Mỹ gọi tắt là Vi-Xi (V.C.=Vietnamese
communists) có nghĩa là người cộng sản Việt
Nam. Trong thực tế chúng chỉ những kẻ theo
Cộng sản để chống chính quyền Quốc Gia, dù
họ có phải là đảng viên cộng sản hay không.
Cũng như trước kia có nhiều người theo Việt
Minh kháng chiến chống Pháp; mà Việt Minh
th́ do đảng cộng sản lănh đạo; nhưng không
phải ai kháng chiến chống Pháp cũng là cộng
sản. Hơn nữa, trong sch bo ngoại ngữ, hai
tiếng “ Việt Cộng” thường được dùng để
chỉ lính hay cán bộ thuộc mặt trận “Giải
Phóng Miền Nam”, chứ không phải bộ đội hay
cán bộ miền Bắc. Nguyên cái phức tạp của
nguồn gốc từ ngữ ấy cũng đă cho thấy phần
nào khía cạnh phức tạp của cuộc chiến tranh
quốc cộng trong ba thập niên.
 |
Trương Như
Tảng
Nguồn: A Vietcong Memoir
|
Chính v́ vậy Trương Như Tảng đă đề tựa cuốn
hồi kư của ông là Hồi Kư của một Việt
Cộng (nguyên văn bằng Php ngữ:"Mémoire
d'un Vietcong”, và bản dịch Anh ngữ: “A
Vietcong Memoir” ). ( 1) Mà trong tác
phẩm này ông lại cho biết ông không phải là
đảng viên cộng sản Việt Nam, và nhiều thành
viên trong Mặt trận cũng như trong “chính
phủ lâm thời Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam”
cũng không phải là đảng viên cộng sản.
Với cương vị một cựu bộ trưởng tư pháp của
“chính phủ lâm thời cộng ḥa miền Nam Việt
Nam”, là chính phủ đă được ngồi ngang hàng
với chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa dưới quyền
tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tại ḥa đàm
Paris, Trương Như Tảng đă được người ngoại
quốc hết sức chú ư khi ông rời bỏ hàng ngũ
cộng sản, để t́m về với thế giới tự do. Nhất
là khi ông cho ra cuốn hồi kư viết rất cẩn
thận, gồm nhiều chi tiết lư thú lôi cuốn
người đọc, như những đoạn tả cảnh sinh hoạt
lén lút cực kỳ gian khổ trong rừng ở biên
giới Việt Miên, hay cảnh cùng với hàng chục
“thuyền nhân” chen chúc trên chiếc
tầu nhỏ xíu lênh đênh trên biển cả trong một
tuần lễ, với bao trắc trở, hiểm nguy.
Trong cuốn hồi kư này họ Trương cũng nói khá
chi tiết về thân thế và công việc làm của
ông trong vùng quốc gia cũng như ở ngoài “bưng”,
qua đó người đọc có thể biết thêm nhiều thủ
đoạn, mưu mô mánh lới của đảng và sự việc
những nhà trí thức miền Nam bị cộng sản đánh
lừa và phản bội ra sao.
Ông hănh diện được ở trong một gia đ́nh mà
cả 6 anh em đều thành đạt gần đúng như sự
mong muốn và xếp đặt của cha ông, ngay từ
khi ông mới 13 tuổi: một bác sĩ, một dược sỹ,
một giám đốc ngân hàng và 3 kỹ sư. Sau khi
tốt nghiệp trung học Chasseloup-Laubat, là
nơi ông có những người bạn nổi tiếng như
Norodom Sihanouk, Dương Quỳnh Hoa, Phạm Ngọc
Thảo v.v… ông được gia đ́nh gửi sang Pháp du
học. Ông là người con duy nhất trong gia
đ́nh không theo đúng lời dặn của cha là phải
học dược, v́ đă bỏ khoa này nửa chừng để
chuyển sang học chính trị và luật. Ông đă
thi đậu cao học chính trị và cử nhân luật
năm 1951. Rồi đi theo cộng sản Pháp chống
chiến tranh. Cha ông hiểu cộng sản. Gia đ́nh
ông đă bị điêu đứng v́ cộng sản. Cơ sở làm
ăn buôn bán của gia đ́nh ông bị cộng sản phá
sạch. V́ vậy khi nghe tin ông theo cộng sản.
Cha ông gọi ông về. Ông không về. Cha ông và
cha vị hôn thê của ông bày mưu đưa cô này,
lúc ấy mới 17 tuổi, sang Pháp làm đám cưới
với ông, rồi đưa đi thăm thú nơi nọ nơi kia
với mục đích làm ông mê vợ trẻ, quên chính
trị. Nhưng ông lại thuyết phục được vợ theo
chí hướng của ông mà cả hai coi là “chủ
nghĩa yêu nước”. Đến nước này gia đ́nh hai
bên chỉ c̣n cách làm áp lực tài chính. Cắt
chuyển ngân. Không tiếp tế ǵ nữa. Trương
Như Tảng bèn để vợ mang bầu về Saigon c̣n
ḿnh ở lại đi rửa chén, gọt khoai kiếm tiền
sinh sống ngỏ hầu có thể tiếp tục theo hướng
đi đă vặch sẵn. Nhưng rồi sau ông cũng mềm
ḷng v́ thương gia đ́nh, (cha ông không c̣n
đủ tiền cho các anh em ông tiếp tục theo học).
Ông về nước vào năm 1954. Ông đă kể rơ
trường hợp đó trong hai chương 3 và 4 của
cuốn hồi kư.
Khi mới chân ướt chân ráo tới Pháp ông đă
được hân hạnh gặp Hồ Chí Minh cũng vừa tới
để thương thuyết với Sainteny. ( 1bis)
Ông Hồ đă để cả một buổi chiều tiếp ông và
một nữ sinh khác cũng người miền Nam tại
pḥng làm việc của phái đoàn Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hoà ở Fontainebleau. Cuộc gặp gỡ
này đă để lại cho ông một kỷ niệm khó quên
và những t́nh cảm sâu đậm dành cho ông Hồ,
người luôn bắt ông phải gọi là “bác” chứ
không được xưng hô là Hồ chủ tịch, hay chủ
tịch. Cũng v́ vậy cho nên khi về nước vào
năm 1954, ông đă từ khước lời mời của những
Vơ Văn Hải, Ngô Khắc Tỉnh, Trần Hữu Thế là
những người quốc gia chống cộng, để rồi chạy
theo những người thuộc phe ông Hồ. Ngay từ
1958 ông đă bắt đầu hoạt động bí mật cho
cộng sản, tại Saigon. Sau khi tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm bị lật đổ, ông được cử làm tổng
giám đốc Công Ty Đường Việt Nam, một công ty
quốc gia lớn với trên 5000 nhân viên. Trong
thời gian này theo ông cho biết ( 2)
ông đă hoạt động ngầm qua hai tổ chức thân
cộng là “Phong trào Tự Quyết” và “Ủy ban bảo
vệ Hoà B́nh” do bác sĩ Phạm Văn Huyến, cha
của nữ luật sư Ngô Bá Thành, điều khiển. Năm
1967, do sự “phản bội” của Ba Trà, một cán
bộ cộng sản khác, hành tung của ông bị bại
lộ và ông bị cảnh sát quốc gia bắt giam. Nhờ
có Trần Bạch Đằng ( 3) thu xếp với
người Mỹ về trao đổi tù binh, ông được phóng
thích cùng với vợ của Trần Bặch Đăng để ra
bưng hoạt động hẳn cho cộng sản cho đến năm
1976.
Ngày 8 tháng 6 năm 1969 Trương Như Tảng được
chỉ định vào chức vụ bộ trưởng bộ Tư Pháp
của “chính phủ lâm thời cộng ḥa miền Nam
Việt Nam”, do Huỳnh Tấn Phát, một đảng viên
cộng sản kỳ cựu, làm thủ tướng. Gần 6 năm
trời, từ 08/06/1969 đến 30 tháng 4 năm 1975,
trong cuốn hồi kư không hề thấy tác giả nói
ông làm ǵ trong cái bộ đó và nó hoạt động
ra sao. ( 4) Đó chính là một điểm khôi
hài nhất của cái gọi là chính phủ kia, đồng
thời cũng là một lỗ hổng to tướng của cuốn
hồi kư.
Sau khi Saigon thất thủ, Trương Như Tảng có
dịp liên lạc với gia đ́nh th́ được biết cha
ông mới qua đời, con gái ông đă được phu
nhân tổng thống Thiệu bảo trợ cho đi du học
ở bên Mỹ, con trai ông cũng đă sang Pháp,
c̣n mấy người anh em ông th́ bị đi “học tập
cải tạo”, trong đó có một người cho đến khi
ông viết xong cuốn hồi kư (1985) vẫn c̣n ở
trong tù. Ông buồn rầu nhớ lại lời cha ông
nói lúc vào thăm ông trong nhà tù của tổng
nha cảnh sát quốc gia năm 1967:
Con à, ba không thể hiểu được con. Con
đă bỏ tất cả - một gia đ́nh êm ấm, hạnh
phúc, giầu có - để đi theo bọn cộng sản.
Chúng sẽ không cho lại con được mảy may
những ǵ con đă bỏ đi. Rồi sẽ thấy.
Chúng sẽ phản bội con và con sẽ khổ suốt
đời. (5)
Ông cho rằng trước kia ông cùng với một số
trí thức miền Nam khác vốn tin ḿnh tranh
đấu cho một miền Nam có một chế độ riêng, và
thi hành chính sách ḥa hợp hoà giải với phe
quốc gia. Nhưng sau 30 tháng tư ông thấy
những lời hứa hẹn, cam kết của những Tôn Đức
Thắng, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ (trang
283-284) chỉ là giả dối. Chỉ một năm sau
chiến thắng đảng đă hoàn tất việc thống nhất
đất nước, nghĩa là giải tán chính phủ lâm
thời cộng ḥa miền Nam của nhóm các ông.
Không có ḥa hợp ḥa giải. Không có chính
phủ ba thành phần. Mà chỉ có đảng, một đảng
duy nhất, từ danh xưng đảng Lao động đă đổi
ngay trở lại thnh “đảng Cộng sản Việt Nam”,
như trước khi đảng này giả vờ tự giải tán
một cch xảo quyệt ngày 11/11/1945. Hơn
300.000 người (con số tối thiểu của ông đưa
ra) bị bắt giữ, không có xét xử và không
biết ngày về, trong đó có anh em ruột thịt,
bà con thân thích, bạn bè của ông, hay của
những người tai to mặt lớn trong Mặt trận,
kể cả con rể của luật sư Trịnh Đ́nh Thảo,
người bạn vong niên của ông.
V́ đă tỉnh mộng, hết tin tưởng ở đảng nên
khi được mời làm thứ trưởng bộ Thực Phẩm và
Tiếp Tế, ông đă từ chối khéo. Cảm nhận được
sự bất măn của ông, chính Vơ Văn Kiệt, lúc
ấy là bí thư thành ủy Saigon, đă t́m cách
giải thích và khuyến dụ ông nhận một chức
nhỏ hơn tại miền Nam. Nhưng ông đă lợi dụng
sự tin cẩn của Kiệt để tính chuyện chuẩn bị
vượt biên. Ngày 25 tháng 8 năm 1979 ông
xuống thuyền làm “thuyền nhân” và hơn một
tuần sau th́ được một tầu hàng Singapore chở
tới đảo Galang, thuộc Indonesia, bắt đầu
cuộc sống tha hương.
Bây giờ ta hăy xem trong cuốn hồi kư 350
trang của ông, Trương Như Tảng đă viết ǵ về
những nhân vật và tổ chức có ảnh hưởng quyết
định đến t́nh h́nh Việt Nam trong những năm
ông bắt đầu nhập cuộc.
Về ông Hồ Chí Minh:
Như đă nói, sinh viên Trương Như Tảng, sau
khi được gặp “chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Ḥa” tại Pháp, liền bị con người “khéo
thu phục nhân tâm” này thu hút. Nhớ lại
những giờ được gần ông Hồ trong hoàn cảnh
thương thuyết có cơ thất bại ấy, Trương Như
Tảng nhận định:
(Lúc ấy) ông (Hồ) biết rơ ông đang đối
diện với khả năng kết liễu sinh mạng
chính trị của ḿnh, bằng không th́ cũng
là một cuộc chiến cam go, đẫm máu. Chính
trong lúc tâm trí bị những ư nghĩ đó dày
ṿ mà ông đă dành cả một buổi chiều cho
hai sinh viên trẻ miền Nam. Thật khó có
thể nghĩ về một nhà lănh đạo thế giới
nào, trong hoàn cảnh tương tự, làm được
như ông. ( 6)
Đầu năm 1969 phái đoàn Liên Minh Trịnh Đ́nh
Thảo ra Bắc. Trương Như Tảng tả cuộc đón
tiếp như của một quốc truởng, và được Hồ Chí
Minh đích thân tới thăm. Ông viết:
Thảo có phần nào ngạc nhiên thấy ḿnh
được trọng đăi như một quốc trưởng…Người
ta cũng xếp chương tŕnh để phái đoàn
tới yết kiến Hồ Chí Minh (lúc ấy đang
bệnh nặng, và thực sự là chỉ mấy tháng
sau ông qua đời). Nhưng ông Hồ, bằng một
cử chỉ đặc sắc, đă từ chối không cho
phái đoàn đến căn nhà gỗ của ông trong
khuôn viên dinh chủ tịch. Thay vào đó
ông đă gửi cho Thảo một thông điệp nói
rằng đại diện của nhân dân miền Nam hào
hùng không cần phải tới thăm ông, tốt
hơn nên cho ông vinh dự đến thăm phái
đoàn. (7)
Rồi ông Hồ đi vào cửa sau không có tiền hô
hậu ủng và bắt gặp bà Thảo đang trang điểm.
Ông Tảng viết:
Tất cả bọn họ cảm động nói không nên
lời, v́ cái vinh dự mà ông Hồ dành cho
ḿnh qua cử chỉ thân hữu giản dị đó.
(tr.141)
Trong chương 16, nói về những lủng củng với
cán bộ miền Bắc, Trương Như Tảng đă bênh ông
Hồ, ngụ ư là nếu ông Hồ c̣n sống chắc không
có những rắc rối, mâu thuẫn xảy ra. Ông cũng
nói là nếu có cơ hội có lẽ ông Hồ đă thân
thiện với Tây Phương chứ không đi theo con
đường xă hội chủ nghĩa, mặc dù ông ta đă bấu
víu lấy sự ủng hộ của cộng sản quốc tế như
người sắp chết đuối vớ được cái phao. Lời lẽ
của ông Tảng có vẻ cân nhắc, đắn đo:
…Nhưng ngay cả khi đắm ḿnh trong chủ
nghĩa Quốc Tế III và chủ nghĩa cách mạng
chan ḥa ông (Hồ) vẫn giữ ḿnh ở vị thế
cởi mở đối với những cơ hội có thể có.
Viễn kiến chính trị độc đáo của ông
phóng về trước hàng nhiều thập niên đă
luôn luôn giữ lại sự bén nhậy đối với
những lựa chọn và những đồng minh có thể
có. Và những cơ hội đă đến, trong những
năm 1944, 1945 khi ông điều khiển cuộc
ve văn với Mỹ ở cấp thấp, trong năm 1946
ở Fontainebleau khi ông nghĩ rằng có thể
làm thân với Pháp, và cả năm 1954 khi
chiến tranh với Pháp chấm dứt, và người
Mỹ đứng trước sự lựa chọn của ḿnh.
(tr.190-191)
Trương Như Tảng chê các chính quyền Mỹ
(Eisenhower và Kennedy) đánh giá sai ông Hồ,
cho rằng ông Hồ là dụng cụ của Trung Quốc
dùng để thực hiện chủ nghĩa bá quyền mà
không đếm xỉa đến sự toàn vẹn và sức mạnh
của ḷng yêu nước của nhân dân Việt Nam.
(tr.213)
Nhắc lại cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu
trong những năm 55-56, Trương Như Tảng cũng
bênh ông Hồ bằng cách giải thích rằng khi
biết là có sai lầm, ông Hồ đă hủy bỏ chiến
dịch cải cách và “trừng phạt” những kẻ có
trách nhiệm. Ông c̣n viết: “Đoạn ông Hồ đă
làm một cử chỉ bất thường là đích thân xin
lỗi nhân dân, công nhận “đă có bất công”.
(tr.300). (Trương Như Tảng không biết rằng
thực ra ông Hồ đă đẩy Vơ Nguyên Giáp, với
hào quang chiến thắng Điện Bin c̣n rực rỡ,
ra thay ông ta xin lỗi nhân dân. Chứ ông Hồ
đă chẳng bao giờ đích thân xin lỗi đâu.)
Trong hồi kư của ông, Trương Như Tảng đă
nhiều lần nhắc đến những danh ngôn của ông
Hồ và như vậy đă đề cao ông ta một cách gián
tiếp. Chẳng hạn: “Những lời ông Hồ nói
với chúng tôi trong năm 1946, tôi luôn luôn
canh cánh bên ḷng: “Chúng ta phải chống
giặc ngoại xâm, chống giặc đói, chống giặc
dốt”. Để “thành công, thành công, đại thành
công”, chúng ta phải “đoàn kết, đoàn kết,
đại đoàn kết” (tr.26) hay: “Càng gần
chiến thắng, càng nhiều khó khăn”
(tr.239) Hoặc: “Hồ Chí Minh đă viết rằng:
“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là
một. Sông có thể cạn, núi có thể ṃn. Nhưng
chân lư đó không bao giờ thay đổi.” (trang
282)
Về việc huấn luyện cán bộ của mặt trận “Dân
Tộc Giải Phóng miền Nam”, Trương Như Tảng
bảo nhóm các ông không hề dạy thuyết Mác-xít.
“trái lại các huấn luyện viên chuyên chú
vào việc khai thác những khẩu hiệu yêu nước
của Bác Hồ như: “Không có ǵ quư hơn độc lập
tự do”… (tr.264)
Quả thực ông Tảng đă coi Hồ Chí Minh là thần
tượng, là “cha già dân tộc”. Nơi trang 68
ông viết: “Hồ Chí Minh là cha thiêng liêng
của phong trào ở miền Nam cũng như ở miền
Bắc.”
Về mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam:
Trương Như Tảng đă để nguyên chương 7 (từ
trang 63 đến trang 80) để nói về mặt trận
này. Ông nói, v́ thấy ông Diệm “chỉ lo
củng cố địa vị mà không làm ǵ cho dân cho
nước” cho nên ông cùng một số người muốn có
một “tổ chức chính trị ngoài ṿng pháp luật”
(8) để thách đố sự độc quyền cai trị
của ông Diệm. Ban đầu chỉ có chừng từ 8 đến
10 người họp bàn để dần dần đưa ra một
chương tŕnh hoạt động, trong số đó có hai
bác sĩ: Dương Quỳnh Hoa, Phùng văn Cung,
luật sư Trịnh Đ́nh Thảo ông Nguyễn Hữu
Khương và kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, về
sau có thêm các ông Nguyễn Văn Hiếu, Ưng
Ngọc Kỷ, Nguyễn Long và Trần Bửu Kiếm. 6
người trong số này thuộc ủy ban vận động gồm
Trương Như Tảng, các ông Hiếu, Kiếm, Kỷ,
Long và Huỳnh Tấn Phát.
Ông Tảng luôn để ông Huỳnh Tấn Phát xuống
dưới, như thể không quan trọng. Nhưng Phát
lại là người trụ chốt. Sau này ông ta là thủ
tướng của chính phủ. Ông ta cũng là người đă
gia nhập đảng cộng sản Đông Dương ngay từ
1940. Các ông Hiếu, Kỷ, Kiếm cũng vào đảng
Lao Động (tức đảng cộng sản trá h́nh) từ năm
1951. Và ông Hiếu đảng viên này đă được phái
ra Bắc để nhận sự chỉ dẫn của ông Hồ (!)
trước khi hoàn tất cương lĩnh và chương
tŕnh hoạt động của mặt trận. (trang 71)
Ông Tảng nói rằng các ông muốn hoạt động
trong phạm vi ôn ḥa, chứ không chủ trương
vũ trang, nếu có đôi lúc cần đến bạo động
cũng chỉ nhằm mục tiêu chính trị, hơn là
quân sự. Nhưng ông cũng cho biết là kể từ
sau đại hội III của đảng Lao Động ở Hà-nội
vào tháng 9 năm 1960 (9) với chủ
trương dành ưu tiên cho việc giải phóng miền
Nam, các ông đă quyết liệt hơn, không c̣n dè
dặt, lúng túng nữa.
Dưới sự điều động của Huỳnh Tấn Phát một
toán biệt kích cố bắt cóc luật sư Nguyễn Hữu
Thọ đang bị chính quyền quốc gia giam lỏng ở
Tuy Ḥa. Nhưng họ đă thất bại. Cho nên khi
tuyên bố ngày thành lập mặt trận 20 tháng 12
năm 1960 đă không có mặt vị chủ tịch. Trương
Như Tảng cũng măi đến ngày 17 mới rời Saigon
lên “mật khu” qua ngả Tây Ninh để dự phiên
họp ngày 19. Phiên họp cũng kết thúc vội vă
vào sáng sớm ngày 20, rồi lập tức trở lại
Saigon, trong ḷng mọi người đều phập pḥng
lo sợ không biết bị phát giác và bị bắt lúc
nào.
Từ đầu đến cuối tuy tác giả vẫn nói cứng là
chủ trương và công việc của các ông do các
ông tự lo, nhưng lại cũng thuật lại mọi việc
đều do Huỳnh Tấn Phát điều động, kể cả việc
tŕnh danh sách ủy ban lâm thời và việc chỉ
định Nguyễn Hữu Thọ, vắng mặt, làm chủ tịch
và việc bắt cóc sẩy ông chủ tịch mặt trận
này, đáng lư phải có mặt trong buổi họp
thành lập mặt trận.
Ông cũng cho biết ông là một trong những
người tổ chức ra mặt trận ngay từ 1958.
Nhưng cũng lại nói là măi đến năm1962 ông
mới được bầu vào ủy ban trung ương của mặt
trận. (trang 56)
Về “chính phủ lâm thời cộng ḥa miền Nam
Việt Nam”:
Trong chương 13 Trương Như Tảng cho biết đại
hội của mặt trận nhằm thành lập và giới
thiệu chính phủ được tổ chức ở mật khu sát
biên giới Việt Miên vào ba ngày 6, 7 và 8
tháng 6 năm 1969. Nó có mục đích dằn mặt Mỹ
và VNCH cũng tổ chức gặp nhau (tổng thống
Nixon và tổng thống Thiệu) tại Midway cũng
vào ngày 8, để Mỹ tuyên bố rút quân, mở đầu
cho công cuộc Việt Nam hóa chiến tranh. (trang
147) Huỳnh Tấn Phát đệ tŕnh đại hội danh
sách chính phủ vào ngày cuối của đại hội. Y
được cử làm thủ tướng với Nguyễn Thị B́nh
làm ngoại trưởng, Dương Quỳnh Hoa làm bộ
trưởng Y Tế và Trương Như Tảng làm bộ trưởng
tư pháp.
Trương Như Tảng đă cân nhắc đắn đo khi nhận
bộ này. Ông ta có nghĩ tới vụ nhiều người bị
quân mặt trận và quân Bắc Việt thảm sát ở
Huế hồi Tết Mậu Thân và ông đă có lần chất
vấn Huỳnh Tấn Phát về việc này. Ông cũng có
ác cảm với “thứ công lư cách mạng”. Nhưng
ông hy vọng dần dần ông có thể dùng quyền
của ḿnh thay đổi t́nh h́nh, hầu đi đến một
chính phủ Liên Hiệp ở miền Nam. (trang 155)
Về lập trường của đảng đối với vấn đề ḥa
hợp ḥa giải:
Trong chương 18 Trương Như Tảng đă nói nhiều
về lập trường ḥa hợp ḥa giải của ông và
của mặt trận DTGPMN cũng như của chính phủ
LTCHMNVN và Liên Minh của Trịnh Đ́nh Thảo.
Tôi và các đồng nghiệp của tôi ước mong
dùng những cuộc thảo luận này trước hết
là để cam kết với nhau là phải đặt sự
ḥa họp ḥa giải lên trên hết, như một
nguyên lư không thể lay chuyển của chính
phủ…. (trang 222)
Nhưng khi họp chính phủ ông mới ngă ngữa ra
rằng “người ta” không muốn những thành phần
tư sản, những kẻ đă tham gia chính quyền
VNCH được hưởng chính sách ḥa giải. Những
người thuộc phe ông đă tranh luận gắt gao,
viện dẫn lời ông Hồ về sự thống nhất tổ quốc,
về nhu cầu xây dựng đất nước v.v... (trang
224 và 225)
Nhưng các đồng chí đảng viên không thể
nào bị thuyết phục bởi những luận cứ
t́nh cảm hay lẽ phải. Họ đă (tôi thấy
dường như thế) từ bỏ cả lương tâm lẫn
cảm quan thực dụng của họ để đổi lấy
những tín điều tôn giáo chính trị mà họ
cho rằng không thể sai lầm. Giữa niềm
tin sắt thép và ngạo mạn của họ, không
thể có chỗ cho thỏa hiệp."
Những cuộc tranh luận đă đưa đến sự rạn nứt
cơ bản trong cách mạng (a fondamental split
in the revolution, trang 225). Và Lê Duẫn đă
phải lên tiếng giảng ḥa bằng những lời lẽ
mền dẻo hơn:
Chính sách ḥa hợp ḥa giải dân tộc
không trả thù là chiến lược trường kỳ và
đó là đường lối chính trị và lập trường
của Đảng, và cũng là lập trường của giai
cấp công nhân.”
Với lời nói trên của viên bí thư thứ nhất
của đảng, nhóm ông Tảng hí hửng tưởng ḿnh
đă thắng. (10)
Bốn năm sau Trường Như Tảng và những nhà
lănh đạo mặt trận và chính phủ, ngoài đảng,
mới vỡ lẽ ra rằng lời tuyên bố của Lê Duẫn
chỉ là đ̣n phép, tuyệt chiêu của một tay đại
bịp. Nhưng đă muộn.
(C̣n tiếp)
© DCVOnline
|