|
Hoa đào và máu đào (II)
Nhân giỗ
43 Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm (2/11/1963)
Minh Vơ
Tiếng nói của vai chính – Đến đây,
chắc độc giả nóng ḷng muốn biết nhân vât
chính là Mieczyslaw Maneli đă viết ǵ về vấn
đề này.
Mieczyslaw Maneli , sinh năm 1922, là giáo
sư đại học luật Warsaw, năm 1963 được cử làm
trưởng đoàn Ba Lan trong Ủy Hội Quốc Tế Kiểm
Soát Đ́nh Chiến (UHQT). Là một người cộng
sản có xu hướng tự do, lại dính líu vào việc
liên lạc giữa Sài G̣n và Hà Nội nên năm 1968
đă bị trục xuất khỏi đảng và khỏi nước. Ông
đến Nữu Ước (New York) dậy về chính trị học.
|
 |
|
Marguerite
Higgins: phóng viên New York Herald
Tribune. Nữ kư giả đầu tiên nhận
giải Pulitzer 1951. Vợ của Thiếu
tướng Không quân William Hall. Qua
đời v́ nhiễm bệnh vùng nhiệt đới khi
công tác ở Vietnam, Pakistan and
India. (1920–1966)
Nguồn: prixbayeux.org
|
Trong tác phẩm
The War Of The Vanquished (cuộc chiến
của những kẻ chiến bại) (12), Maneli
đă dành nguyên chương 6 (dài 20 trang) để kể
chi tiết về vai tṛ con thoi của ḿnh. Mở
đầu chương sách, tác giả đă nói đến dư luận
báo chí khắp thế giới xôn xao về việc trưởng
đoàn Ba Lan trong UHQT đă trở thành môi giới
để ông Diệm bán đứng miền Nam cho cộng sản.
Sau khi nhắc lại lời tuyên bố chính thức của
nhóm tướng lănh đảo chính kết án ông Diệm
phản quốc qua trung gian tác giả, ông đă
nhắc lại làn sóng tố khổ và làm nhục gia
đ́nh họ Ngô qua báo chí Sài G̣n những ngày
liền sau đảo chính.
Tấm h́nh bà Ngô Đ́nh Nhu đang thoát y đứng
bên cạnh một người ngoại quốc chỉ mặc quần
tắm được đưa lên mặt báo (13). V́ có
băng đen che nửa mặt người đàn ông nên người
ta cứ bảo đó là h́nh của Maneli. Tác giả đă
tốn công cải chính. Nhưng càng cải chính th́
lại càng có vẻ gián tiếp xác nhận. Dí dỏm ở
chỗ tác giả bảo ông chỉ cải chính lấy lệ,
một cách miễn cưỡng, v́ phải chăng ông cũng
muốn nổi tiếng với người được ví như
Lucrettia de Borgia, hay Cleopatra? Nữ kư
giả Marguerite Higgins, một người rất mến
phục và bênh vực ông Diệm đă đặc biệt chú ư
tới tấm h́nh này. Maneli viết:
“Marguerite mê
câu chuyện tôi có dính dáng đến cuộc
“giao du thân mật” (chữ của bà Ngô Đ́nh
Nhu, tác giả luật gia đ́nh) này. Cô ấy
hỏi tôi nhiều câu hỏi thăm ḍ. Có lẽ cô
ta rất lấy làm tiếc không thể cung cấp
cho độc giả Mỹ những nhận xét của cá
nhân tôi về sự duyên dáng hấp dẫn của
một phu nhân mà nhiều người đàn ông thèm
muốn và tranh giành c̣n hơn cả
Cleopatra.”
(***)
Sau đó Maneli nhắc đến chuyện bịa đặt
của tờ Jeune Afrique là ông đă gặp ông
Nhu ngày Quốc Khánh của Pháp (14 tháng
7) tại nhà riêng đại sứ Roger Lalouette.
Rồi Maneli xác nhận là có gặp ông Nhu
hai lần, ngày 25 tháng 8 và mồng 2 tháng
9. Ông cũng khẳng định sáng kiến không
phải do ông mà là do nhiều nguồn khác
nhau, và được chuẩn bị xếp đặt từ nhiều
tháng trước, vào khoảng thời điểm gần
trùng nhau. Tác giả có ư nhắc tới bốn
tên tuổi trong giới ngoại giao mà bà
Ellen Hammer đă nói trên.
Đáp lại lời khuyên của tất cả là Maneli
nên gặp ông Nhu, Maneli một mực bảo ḿnh
thuộc một nước cộng sản không nh́n nhận
chế độ Sài G̣n, nên không tiện đi t́m
gặp. Nhưng nếu được mời th́ sẽ tới.
Đại sứ Ấn Độ khuyên Maneli nên bớt ca
tụng Bắc Việt, và hăy cố nói những lời
tốt đẹp về miền Nam vào lúc và tại nơi
thích hợp. Ông khen khái niệm của ông
Nhu về xă hội chủ nghĩa, không phải thứ
xă hội chủ nghĩa dựa trên triết lư duy
vật, hay thứ xhcn của Trung Cộng, Liên
Xô. Nhưng nó là xă hội chủ nghĩa ǵ th́
chẳng rơ. Ông Nhu từng đă có lúc nói,
trên thế giới chỉ có ông ta là người xă
hội chủ nghĩa đích thực. Phải chăng ông
ta được soi sáng và gợi hứng từ khái
niệm của người Ấn? Hay đó chỉ là một
cách nói mà thôi? Maneli tự hỏi thế. Dầu
sao th́ khái niệm đó cũng làm cho sự ve
văn trở nên dễ dàng.
Về đại sứ Pháp
Lalouette, Maneli viết:
“Ông ấy đă có
một kế hoạch dài hạn và nh́n thấy những
phương tiện dẫn đến sự thực hiện nó. Kế
hoạch đó là mở đối thoại giữa Sài G̣n và
Hà Nội và trao đổi tượng trưng về văn
hóa, kinh tế giữa hai miền. Rồi những
hội đàm chính trị sẽ được thực hiện trên
nền tảng đó. Căng thẳng, nghi ngờ, thù
địch giữa hai chính phủ sẽ giảm bớt và
ḥa b́nh có thể được bảo đảm. Một nền
ḥa b́nh lâu dài và một cuộc đối thoại
chính trị là những điều kiện bất khả vô
cho những giải pháp chính trị dài hạn,
kể cả sự thống nhất trong ḥa b́nh, bầu
cử tự do, và quốc tế kiểm soát. Cần phải
bắt đầu bằng bước thứ nhất: tôi sẽ điều
khiển những cuộc nói chuyện với Hà Nội.
C̣n ông ta sẽ duy tŕ sự tiếp xúc với
chính quyền miền Nam về vấn đề này.”
Và sau đây là phản
ứng của Hà Nội:
“Lần
đầu đến Hà Nội, tôi tŕnh kế hoạch của đại
sứ Pháp. Chỉ trong 2 ngày đă có sự đáp ứng.
Phạm Văn Đồng nói, đề nghị mà chủ tịch Hồ
Chí Minh đưa ra đă lâu và bản tuyên cáo của
chính phủ vẫn c̣n hiệu lực: Đó là chính
quyền nhân dân sẵn sàng khởi sự thương
thuyết bất cứ lúc nào, bí mật hay công khai.
Bộ trưởng Xuân Thủy, theo chỉ thị của chủ
tịch và thủ tướng, sẵn sàng tŕnh lên một
danh sách những hàng hóa có thể trao đổi
giữa hai miền....”
Về lập trường và quan điểm của đại sứ Ấn,
cũng như của người Ấn nói chung, Maneli cho
là họ đứng hẳn về phía anh em ông Diệm và sẽ
rất buồn nếu mất lá bài này. Theo Maneli,
anh em ông Diệm tinh khôn đủ để thỉnh thoảng
nhỏ to với đại sứ Goburdhun về một thứ ǵ đó
liên quan đến thái độ “chống thực dân”,
“chống đế quốc”, “chống Mỹ” và “yêu thích
trung lập”. Riêng hai từ trung lập đặc biệt
hấp dẫn đối với người Ấn. V́ họ tưởng tượng
ra rằng với ông Diệm có thể họ sẽ có thêm
một thành viên vào khối Không Liên Kết mà Ấn
Độ đang lănh đạo. V́ vậy người Ấn chẳng
những trung thành với chế độ Diệm mà c̣n sốt
sắng bênh vực chống lại người Mỹ. Maneli
viết:
“Đại sứ
Goburdhun nhận vai tṛ biện hộ cho ông
Nhu, giới thiêu ông ta như một chính
khách lỗi lạc với người Mỹ, người Anh,
người Pháp và Vatican. Và dĩ nhiên với
tôi, để tôi sẽ quảng bá ư kiến đó khắp
nơi cho mọi người biết ông Nhu là người
tốt nhất và người duy nhất để thương
lượng.
Về những toan tính
của người Pháp mà đại sứ Lalouette có nhiệm
vụ thực hiện, Maneli viết một cách bóng bảy:
“Nhưng đại sứ
Lalouette th́ đang chơi tṛ này ở một
phạm vi rộng lớn hơn nhiều, có thể nói
là toàn cầu. Xem ra ông ta muốn cứu chế
độ Diệm cho nước Pháp khỏi tay người Mỹ
vô tâm. Người Mỹ gạt bỏ món hàng này,
th́ người Pháp sẽ mua nó với giá hời,
cái giá của một cơ sở bị phá sản. Vả
người Mỹ cư xử như một người vợ không
chung thủy; phản bội chồng, nhưng lại
quá ghen không muốn để chồng lọt vào tay
ai.”
Khi biến cố Phật
Giáo xảy ra th́ Maneli đang ở Sài G̣n. Ngày
27/6/63 ông báo cáo cho chính phủ Hà Nội và
ṭa đại sứ Liên Xô: Trong số phe Phật Giáo
đấu tranh chống chính phủ Diệm có 2 thành
phần: một là những kẻ ủng hộ Mặt Trận Giải
Phóng, hai là những kẻ có liên hệ mật thiết
với Mỹ. Có lẽ có một số người Mỹ muốn dùng
phong trào Phật Giáo đấu tranh lật ông Diệm,
để sau này người ta khỏi tố cáo Mỹ dàn dựng
cú đảo chính.”
Trong một báo cáo khác, tối mật, đề ngày
10/7/63, chỉ gửi cho chính phủ Ba Lan và ṭa
đại sứ Liên Xô, Maneli lấy làm lạ là Hà Nội
và mặt trận Giải Phóng Miền Nam không lợi
dụng lúc chế độ Diệm gặp khó khăn này để ra
tay. Ông ta suy đoán là ông Hồ muốn để nó
sống sót qua cơn ngặt nghèo hầu có thể đi
đến một thỏa hiệp với nó sau lưng Mỹ.
“Sài G̣n lúc ấy
đầy những tin đồn về những cuộc tiếp xúc
mật giữa anh em ông Diệm với ông Hồ. Ở
Hà Nội không ai xác nhận những tin này.
Nhưng cũng chẳng có ai trả lời câu hỏi
của tôi một cách rơ rệt là không có....
“Tôi hỏi Phạm Văn Đồng và Xuân Thủy, nếu
Nhu mời tôi tới nói chuyện, tôi sẽ phải
hành động ra sao. Họ trả lời ngay: Hăy
tới và lắng nghe cho kỹ.
“Tôi lại hỏi: các ông có muốn tôi chuyển
đạt điều ǵ không? Th́ được trả lời:
“Tất cả những ǵ mà ông biết về lập
trường của chúng tôi về trao đổi kinh tế,
văn hóa, về ḥa b́nh, thống nhất. Có một
điều dứt khoát là người Mỹ phải ra đi.
Trên căn bản chính trị đó, chúng ta có
thể thương thảo về mọi sự.
“Tôi hỏi Phạm Văn Đồng, trước mặt Hồ Chí
Minh (ông này ngồi im, như là sợ sệt, và
lắng nghe chúng tôi nói), liệu họ có
thấy khả năng có một thứ liên bang với
Diệm–Nhu hoặc một thứ chính phủ liên
hiệp không. Đồng đáp: Mọi sự đều có thể
thương lượng trên cơ sở nền độc lập và
chủ quyền tối thượng của dân tộc.”
Cũng trong báo cáo
này (10/7/63), Maneli nói hai bên muốn có
thể đi tới một thỏa hiệp mà không c̣ sự tham
dự của các đại cường, của Moscow,
Washington, và chắc chắn không có sự tham dự
của Bắc Kinh.
Về phản ứng của ṭa đại sứ Liên Xô, tác giả
cho biết tất cả đều cho thấy những kết luận
của Maneli là đúng. “Có lư do để nghi rằng
người Việt họ muốn thu xếp riêng với nhau”.
Ông đại sứ bảo Maneli thế.
C̣n phía toà đại sứ Trung Cộng th́ xem ra
không biết ǵ về những cuộc tiếp xúc giữa Hà
Nội và Sài G̣n, hoặc giả biết nhưng không
chấp nhận.
Và Maneli kết thúc chương sách của ông bằng
câu:
“Xét về mặt chính
trị mà nói th́ việc Hà Nội hành động mà
không có sự chấp thuận của Bắc Kinh là điều
có ư nghĩa nhất.”
|
 |
|
Bà Trần Lệ Xuân,
khẩu súng lục và thanh nữ cộng hoà
Nguồn: politicalfriendster.com
|
Khả năng thực
thi và những trở ngại – Qua tất cả các
thông tin ở trên do nhiều nguồn, từ Karnow
với nhà bác học Bửu Hội và bà Ngô Đ́nh Nhu;
qua hồng y Nguyễn Văn Thuận với một công cán
ủy viên của nhà vua Bỉ; kư gia Joseph Alsop
với tổng lănh sự Jacques de Buzon; cựu trung
tá Nguyễn Văn Minh với đồ án Tam Túc trong
quốc sách Ấp Chiến Lược của ông Ngô Đ́nh Nhu;
cho đến Ellen Hammer và Mieczyslaw Maneli
với rất nhiều nhân vật ngoại giao và các nhà
lănh đạo hai miền Nam Bắc... người ta có thể
xác quyết: chuyện tiếp xúc bí mật giữa hai
miền là có thật và có lư do thực tiễn của nó.
Sở dĩ nó chưa đi đến kết quả cụ thể nào, v́
người Mỹ đă sớm ra tay.
Có nhiều lư do để người Mỹ hạ ông Diệm.
Nhưng những cuộc tiếp xúc này đă là cái cớ
thuận tiện nhất. Đề nghị của Roger Hilsman
đă được hội đồng an ninh quốc gia Mỹ chấp
thuận. Ngoại trưởng Mỹ đă hối thúc đại sứ
Cabot Lodge lệnh cho các tướng đảo chính
phải công bố ngay lư do đảo chính là anh em
ông Diệm bắt tay với Hà Nội. Những chiến sĩ
chống cộng hăng say tại miền Nam ngỡ ngàng.
Phần đông cũng lên án âm mưu “bán đứng miền
Nam cho cộng sản” và “ngang nhiên đâm sau
lưng chiến sĩ”. Ông Cabot Lodge được an toàn
không bị lộ diện là sát hại lănh tụ đồng
minh, v́ đă có cái cớ chính đáng là tội bội
phản, cộng thêm với tội “đàn áp Phật giáo,
cho nên Phật tử đứng lên đạp đổ bạo quyền”.
Khi xảy ra đảo chính th́ người viết chỉ là
một sĩ quan cấp úy đang tu nghiệp tại đài
BBC, Luân Đôn. Đă 3 tháng xa nhà, không biết
ǵ về những diễn biến dồn dập trong mấy
tháng đó (và 4 tháng sau). Cho nên tâm trạng
cũng hoang mang, không biết “tội” của anh em
ông Diệm đúng ra ở chỗ nào. Nhưng nghe bài
b́nh luận của đài BBC liền ngay ngày hôm sau
đảo chính – lúc ấy tôi có mặt tại pḥng vi
âm, và được nghe chính người xướng ngôn viên
đọc trực tiếp – th́ thấy chính phủ Anh (14)
không quên nêu lên những việc ích quốc lợi
dân mà Tổng Thống Diệm đă làm trong 9 năm
cầm quyền và kết luận: lịch sử sẽ công
b́nh đối với ông.
Những năm gần đây, được đọc lại một số tài
liệu lịch sử về các biến bố tại Việt Nam, và
theo rơi t́nh h́nh thế giới suốt nửa thế kỷ
qua, chúng tôi xin có một vài ư kiến riêng
sau đây.
Trước hết xin được bỏ qua những nhược điểm
và khuyết điểm của ông Diệm, cũng như vấn đề
tế nhị gọi là “cuộc khủng hoảng Phật Giáo”
và các vấn đề khác. Chỉ xin chú trọng đến
riêng vấn đề toan tính hiệp thương với miền
Bắc mà thôi.
Nhiều người nêu thắc mắc, không hiểu tại sao,
hồi 1955–1956, khi ông Hồ kêu gọi hiệp
thương để chuẩn bị tổng tuyển cử theo đúng
quy định của hiệp định Geneve, th́ ông Diệm
đă cực lực bác bỏ. Thậm chí năm 1954 thủ
tướng Chu Ân Lai của Trung Cộng ngỏ ư muốn
ông đặt liên lạc ngoại giao với Bắc Kinh ông
cũng gạt đi. Đặc biệt hơn nữa khi Khrushchev
đề nghị cả hai miền Nam Bắc đều gia nhập
Liên Hiệp Quốc năm 1957 ông cũng nhất định
không chịu. Mà đến năm 1962, 1963 anh em ông
lại tính chuyện hiệp thương. Như vậy có phải
là tự mâu thuẫn không? Hay phải chăng đây
chỉ là đ̣n tháu cáy của anh em ông với chính
quyền Kennedy, khi chính quyền này đang t́m
cách lật ông?
Có thể tạm giải thích mấy thắc trên như sau:
Năm 1954, vừa về nước trong hoàn cảnh phe
quốc gia gần như bị phá sản, sau chiến thắng
Điện Biên của cộng sản. Mọi sự phải trông
nhờ vào viện trợ của Mỹ lúc ấy do đảng Cộng
Ḥa cầm quyền với Tổng Thống Eisenhower và
ngoại trưởng John Foster Dulles là hai nhân
vật quyết liệt chống Cộng hơn ai hết. Chứng
kiến cảnh Trung Cộng chiếm toàn lục địa
Trung Hoa (1949), rồi xua quân tràn qua vĩ
tuyến 38 ở Triều Tiên (1953), phái tướng sĩ
sang giúp Hồ Chí Minh điều khiển quân của Vơ
Nguyên Giáp chiến thắng ở Điện Biên, khiến
nửa Việt Nam rơi hẳn vào tay cộng sản, các
nhà lănh đạo Hoa Kỳ cương quyết hơn bao giờ
hết để đối đầu với khối Cộng. V́ vậy muốn có
viện trợ Mỹ, không thể lập liên hệ ngoại
giao với Trung Cộng được, dù cho Chu Ân Lai
có hảo ư chăng nữa.
C̣n việc từ chối gia nhập Liên Hiệp Quốc
cùng với Bắc Việt là do nguyên tắc một nước
Việt Nam bất khả phân mà ông Diệm ngoan
cường tôn trọng. Có người bảo ông ngoan cố
hay cố chấp với nguyên tắc All or Nothing (Tất
cả hoặc không có ǵ”) th́ có lẽ cũng không
quá đáng.
Đến như việc không đáp ứng lời kêu gọi, (hay
thách đố?) hiệp thương của ông Hồ những năm
1955 và 1956 là v́ cái thế của VNCH lúc ấy
c̣n quá yếu so với Bắc Việt. Hiệp thương để
tổng tuyển cử lúc ấy là cầm chắc thất bại.
V́ vây ông Diệm đă khôn khéo viện cớ không
kư hiệp định Geneve để bác bỏ lời kêu gọi
hiệp thương. Và Hoa Kỳ lúc ấy cũng tán thành
lập trường này.
C̣n việc ông Nhu có ư tháu cáy với Mỹ không
th́ chúng tôi nghĩ là không. Trước hết, đây
là chiến lược dài hạn anh em ông đă có ư
định áp dụng từ lâu trước khi có vụ Phật
Giáo và toan tính hạ ông Diệm của người Mỹ.
Vả lại, theo Ellen Hammer th́ chính ông Nhu
đă tiết lộ cho ông Cabot Lodge biết ông đang
tính liên lạc với Bắc Việt để giảm cường độ
chiến tranh. Trong khi đó th́ ông ấy lại
giấu Maneli, hay đúng ra không dám xác nhận
rơ rệt, mà chỉ trả lời câu hỏi của Maneli (về
những cuộc tiếp xúc mật giữa hai bên) bằng
một câu hỏi thoái thác, cũng giống như Phạm
Văn Đồng đă dí dỏm hỏi Maneli một câu tương
tư: (“Ông có thích, có tin những tin đồn đó
không?”). Chính thái độ không dứt khoát của
ông Nhu đă làm đại sứ Pháp thất vọng, v́ ông
này vốn bênh vực ông Diệm trước ông Lodge,
và cũng nói rơ, với ông Lodge: ông Diệm cần
ông Nhu.
Có điều chắc chắn là cả ông Nhu lẫn ông Diệm
đều chuẩn bị từ lâu để thoát khỏi sự ràng
buộc bởi viện trợ Mỹ, v́ các ông hiểu rơ nó
sẽ trói chặt các ông, không cho thực hiện
những chính sách đường lối chống cộng trong
các điều kiện của ḿnh mà các ông xác tín là
hữu hiệu hơn phương pháp thuần túy quân sự
của Mỹ. Quốc sách “Ấp Chiến Lược” vói lư
thuyết Tam Túc và tự lực tự cường được đem
thực hiện từ đầu 1962 là một bằng chứng.
Những lời phát biểu của ông Nhu trong các
khóa huấn luyện về Ấp Chiến Lược ở suối Lô
Ồ, cũng như lời ông Diệm tâm sự vói ông Vơ
Như Nguyện được Đỗ Mậu trưng dẫn ở trên là
những dấu chỉ khác.
Ngoài ra, tuy rất ghét chủ nghĩa duy vật vô
thần trong học thuyết Mác, và những phương
pháp hành động tàn bạo dựa trên nguyên lư
“cứu cánh biện minh cho phương tiện” mà ông
Hồ và đảng của ông ta áp dụng, ông Diệm vẫn
có phần nào kính nể, hay ít nhất là nể sợ
ông Hồ về phương pháp tuyên truyền hữu hiệu
trước quần chúng rằng ông ta chiến đấu chống
ngoại xâm, giành độc lập. Mà một trong những
điều làm cớ cho luận điệu tuyên truyền đó có
tác dụng tốt, là sự hiện diện càng ngày càng
đông của người Mỹ trên lănh thổ miền Nam
Việt Nam. Hễ cứ có thêm một toán cố vấn đến
Sài G̣n, là báo chí khắp thế giới đều biết.
Trong khi hẳn là trên miền Bắc cũng có cố
vấn Liên Xô và Trung Cộng, nhưng bên ngoài
chẳng mấy ai biết, v́ họ kín tiếng và giấu
kỹ lắm. V́ vậy tuyên truyền Cộng Sản Bắc
Việt nói Mỹ Diệm th́ nghe xuôi tai. C̣n nếu
có ai nói Nga Hồ th́ nghe lại không ổn. V́
vậy muốn chứng minh cho nhân dân toàn quốc
rằng miền Nam hoàn toàn độc lập sẽ khó khăn
hơn với sự hiện diện càng ngày càng đông của
cố vấn Mỹ.
Copyright © 2006 DCVOnline
Chú thích:
(12): Nguyên tác tiếng Ba Lan. Trích dẫn
theo bản dịch Anh ngữ của Maria de Gorgey, NXB
Harper & Row, San Francisco 1971. Tác giả đă
dành cả chương 6 (từ trang 112 đến trang 132) để
nói về vấn đề này.
(13): V́ bà Nhu là một người đàn bà đẹp –
(Tướng Trần Văn Đôn, vai chính trong cuộc đảo
chính viết trong Our Endless War: “She
was an immensely attractive woman, beautiful by
everybody’s standard”– Bà ấy là người đàn bà vô
cùng hấp dẫn, ai cũng thấy đẹp), lại là “một thứ
đệ nhất phu nhân” v́ ông anh chồng là tổng thống
độc thân, cho nên sau khi chế độ bị lật đổ,
những nhà báo muốn câu độc giả bèn cố tạo nên
những màn cụp lạc chung quanh bà. Biết đâu tấm
h́nh chỉ là h́nh ghép khéo? Dầu sao th́ Maneli
cuối cùng cũng tiết lộ đó là h́nh một cựu đại sứ
Ấn Độ, mấy năm trước cũng từng giữ chưc chủ tịch
UHQT.
Hoàng Trọng Miên, một nhà báo nổi tiếng, em ruột
Thanh Nghị, một bộ trưởng trong cái gọi là chính
phủ Lâm Thời Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam đă viết
hẳn một cuốn tiểu thuyết tràng giang đại hải,
lấy bà Nhu, khuê danh Trần Lệ Xuân (mà tác giả
gọi vắn tắt là Lệ) làm nhân vật chính cho cuốn
Đệ Nhất Phu Nhân. (gần đây, cuốn truyện
và tác giả, và những người xuất bản, tái bản nó
đă bị Công Tử Hà Đông, tức nhà văn Hoàng Hải
Thủy cực lực lên án.) Điều khiến nhiều người
ngạc nhiên là trong cuốn truyện hư cấu này đầy
rẫy những vụ t́nh vụng trộm giữa cô Lệ với những
tướng lănh đương quyền được nêu tên thực, mà nó
vẫn được tự do xuất bản. Không lẽ những ông
tướng ấy không biết để ngăn chặn? Hay biết mà
vẫn hănh diện v́ được “dính” với một “Cleopatra
Việt Nam?” Cũng như Maneli tự thú ḿnh cải chính
một cách miễn cưỡng, v́ c̣n tiếc cái tiếng “ảo”
là được ‘dính’ chút đỉnh?
(***): SĐD trang 114)
(14): Tuy đài BBC, mà hội đồng thống đốc
do Nữ Hoàng Bổ nhậm, hoàn toàn độc lập, nhưng
các chương tŕnh ngoại ngữ th́ lại do bộ ngoại
giao chi phối.
|