|
Chiến thắng bỏ lỡ (I)
Minh Vơ
Từ trước tới giờ phần đông kư giả và sử gia
Mỹ đều cho rằng Hoa Kỳ đă lầm khi ủng hộ
miền Nam Việt Nam chống lại Cộng Sản miền
Bắc. Họ ca ngợi Hồ Chí Minh là nhà ái quốc,
có tài trí hơn người và được ḷng dân. Họ
coi các nhà lănh đạo miền Nam, kể cả ông Ngô
Đ́nh Diệm đều bất tài, vô tướng và là tay
sai thực dân đế quốc. Quan điểm lịch sử đó
được mệnh danh là “chính thống” (!) (tạm
dịch từ Orthodox của tác giả Mark Moyar)
|
 |
|
Tác giả Mark Moyar
Nguồn: triumphforsaken.com
|
Nhưng gần đây một số sử gia Mỹ đă bắt đầu
xét lại quan điểm đó. Trong số này có giáo
sư tiến sĩ sử học Mark Moyar. Tiến sĩ Mark
Moyar đậu cử nhân (hạng tối ưu với lời khen
của ban giám khảo) về môn sử tại đại học
Havard danh tiếng nhất của Mỹ. Sau đó đậu
tiến sĩ sử học tại đại học Cambridge. Ông
từng giảng dậy tại đại học Cambridge, đại
học Tiểu Bang Ohio, đại học A&M Texas, và
đại học Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ ở
Quantino, Virginia.
Năm ngoái (2006) sở Báo Chí Đại Học
Cambridge đă xuất bản cuốn sách 512 trang
khổ lớn của ông nhan đề TRIUMPH FORSAKEN.
Đây là tập I của bộ sách 2 tập về cuộc chiến
Việt Nam. Theo tác giả, cuộc chiến này đáng
lẽ đă kết thúc bằng một chiến thắng oanh
liệt, mà lại trở thành một chiến bại nhục
nhă. Trong cuốn sách này, tác giả đă rà xét
lại tất cả mọi dữ kiện, đối chiếu nhiều tài
liệu vô số kể của nhiều nguồn thuộc mọi phía,
trong đó có những tài liệu mới được giải mật
của Mỹ và tài liệu Cộng Sản (Liên Xô cũ,
Trung Quốc, và Việt Nam), để đi đến một kết
luận có cơ sở vững vàng.
|
 |
|
Chiến tha'ng bỏ lỡ
Nguồn: Cambridge University Press,
October 2006
|
Cuối sách không có phần thư mục như phần lớn
các sách biên khảo. Nhưng gần 2000 chú thích
ghi chi tiết trong 85 trang sách đă cho thấy
hàng trăm tác phẩm và tài liệu được tham
khảo và dẫn chứng một cách tỷ mỷ để chứng
minh lập luận “xét lại” của tác giả. Ví dụ
chỉ nguyên một chương 16 đă có tới 176 chú
thích trưng dẫn hàng trăm tác phẩm hay chỉ 3
trang đầu của bài tựa thôi đă có tới 19 chú
thích mà chi tiết choán hẳn 3 trang, Cũng
trong lời tựa này, nguyên một chú thích 2 đă
trưng dẫn gần 100 tác phẩm
Tập một này có 17 chương, trong đó có 10
chương về chính quyền Ngô Đ́nh Diệm.
Đọc kỹ lời tựa và chương đầu, ta sẽ thấy đại
cương về lập luận của tác giả.
Nhà xuất bản trích dẫn lời phê b́nh và đánh
giá của 6 tác giả và giáo sư sử học về tác
phẩm của Mark Moyar. Sau đây là ư kiến của
Giáo sư sử học Thomas Alan Schwartz:
“Triumph forsaken là một cuốn
sách đặc sắc. Công tŕnh (biên
khảo) của Mark Moyar là sự thách
đố mạnh mẽ nhất đối với sự giải
thích chính thống về nguồn gốc
việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam.
Bằng cái nh́n mới mẻ vào những
nguồn tài liệu gốc, cũng như t́m
hiểu, khai thác những tư liệu
mới từ các văn khố Mỹ cũng như
Cộng Sản, Moyar đă tạo nên một
lối giải thích khác về cội nguồn
của sự dấn thân (tham chiến) của
Hoa Kỳ. Tác phẩm của Moyar thúc
đẩy các sử gia phải mở lại cuộc
tranh luận về ư nghĩa cuộc chiến
tranh Việt Nam.”
Sau đây là nhan đề của 17 chương
sách trong tập I:
1. Di sản
2. Hai nước Việt Nam: Từ tháng 7 năm
1954 đến tháng 12 năm 1955
3. Sống chung ḥa b́nh: Từ 1956 đến
1959
4. Cuộc nổi dậy: 1960
5. Cam kết nhập cuộc: 1961
6. Sự trẻ trung hoá: Từ tháng 1 đến
tháng 6 năm 1962
7. Tấn công: Từ tháng 7 đến tháng 12
năm 1962
8. Trận Ấp Bắc; Tháng 1 năm 1963
9. Ông Diệm gặp gian nan: Từ tháng 2
đến tháng 7 năm 1963
10. Sự phản bội: Tháng 8 năm 1963
11. Tự hủy: Từ tháng 9 đến ngày 2
tháng 11 năm 1963
12. Trở lại t́nh trạng “Thập Nhị Sứ
Quân": Từ 3 tháng 11 đến tháng 12
năm 1963.
13. Tự chế: Từ tháng 1 đến tháng 7
năm 1964
14. Những tín hiệu: Từ tháng 8 đến
tháng 10 năm 1964
15. Xâm nhập: Từ tháng 11 đến tháng
12 năm 1964
16. Phần thưởng chiến thắng: Từ
tháng 1 đến tháng 5 năm 1965
17. Quyết định: Từ tháng 6 đến tháng
7 năm 1965.
Lời tựa
Sau khi nhấn mạnh sự cần thiết phải
nghiên cứu phân tách kỹ những nguồn
tài liệu gốc càng ngày càng được
phát hiện ra về mọi mặt của cuộc
chiến, từ quân sự, chính trị, ngoại
giao, do đó tác phẩm phải gồm 2 tập,
thay v́ một tập như dư tính ban đầu,
tác giả tŕnh bày thực trạng lịch sử
Hoa Kỳ do hai xu hướng “chính thống”
và “xét lại”. Quan điểm “chính thống”
có vẻ lấn át quan điểm xét lại. Thậm
chí trong giới khoa bảng, người ta
cho rằng phe xét lại không đáng gọi
là sử gia, chỉ là những nhà “ư thức
hệ” (ideologues).
Theo quan điểm “chính thống” th́ dân
Việt vốn thù dân Tầu, và thường đánh
thắng quân Tầu. V́ vậy nếu đừng xua
đuổi Hồ Chí Minh, th́ ông ta đă có
thể trở thành một Ti Tô của Việt
Nam, chứ không đi theo Tầu Cộng, và
Liên Xô.
Tác gỉa đă ghi rằng nghiên cứu kỹ
lịch sử Việt Nam th́ sẽ thấy, các
cuộc chiến tranh xảy ra phần lớn
giữa người Việt với nhau, và giữa
người Việt với những sắc dân khác,
như Chàm, Khmer hay Mông Cổ... chứ
không phải giữa người Việt với người
Tầu. Chỉ trừ một vài trường hợp cá
biệt.
Từ đó ông cho rằng Hồ Chí Minh nếu
có ghét Tầu là ghét Tầu Quốc Dân,
như phe Tưởng Giới Thạch, chứ không
bao giờ ghét Tầu Cộng của Mao Trạch
Đông. Trái lại sẵn sàng rước Tầu
Cộng vào để đánh người Việt yêu nước.
Ông viết:
|
 |
|
Hồ thường
tỏ ḷng kính cẩn với quan
thầy
Nguồn: Triumph Forsaken
|
“Hồ thường tỏ ḷng kính
cẩn với quan thầy hơn
đối thủ của ông ta ở
miền Nam là Ngô Đ́nh
Diệm, người đă thà chết
hơn là làm theo yêu cầu
của đồng minh Hoa Kỳ của
ông ta. Hồ là tín đồ
nhiệt thành của Mác và
Lênin, dấn thân sâu đậm
vào chủ nghĩa Quốc Tế
Cộng Sản, cho nên không
thể hy sinh t́nh liên
đới Cộng Sản cho quyền
lợi “hẹp ḥi” của Việt
Nam. Do đó, trái với
những suy diễn được
nhiều người chia sẻ, ông
ta sẽ chẳng bao giờ lại
chống người láng riềng
Trung Cộng, hay bất cứ
nước bạn Cộng sản nào
khác, nếu Hoa Kỳ cho
phép ông ta thống nhất
Việt Nam. Ông ta không
bao giờ để Hoa Kỳ biến
nước Việt Nam thành một
Nam Tư của châu Á.”
Về lănh tụ miền Nam, tác giả
viết:
“Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm của
miền Nam, không
ngừng bị các sử
gia phe “chính
thống” mô tả như
một kẻ đần độn,
tên phản động,
một bạo chúa.
Nhưng thực ra
ông là một lănh
tụ rất khôn
ngoan, uyên bác
và đắc lực. Là
một người hiến
thân cho hạnh
phúc của dân tộc
ḿnh, ông “dùng
uy tín cá nhân
để trị nước gần
như một nhà độc
tài” (12 từ
trong ngoặc kép
của người viết
để tạm dịch từ
authoritarian
của tác giả) v́
ông cho rằng chế
độ dân chủ kiểu
Tây phương không
thích hợp với
một đất nước
đang bị phân tán
và có một nền
văn hoá độc
đoán. Những biến
cố xảy ra sau
khi ông bị giết
đă chứng tỏ niềm
tin đó là đúng.”
(....)
Sau khi nêu đích
danh Trung tá John
Paul Vann, hai nhà
báo trẻ David
Halberstam và Neil
Sheehan và đại sứ
Cabot Lodge, kết tội
họ đă loan tin thất
thiệt, thiếu lương
thiện và đánh lừa
thượng cấp để cố hạ
uy tín của Tổng
Thồng Diệm, vu khống
là chính quyền của
ông bất lực trong
việc giữ an ninh,
tác giả viết về cuộc
đảo chính
01/11/1963:
“Cho đến
nay, đă
rơ cuộc
đảo
chính
tháng 11
năm 1963
là một
lỗi lầm
tệ hại
nhất của
người
Mỹ. Trái
hẳn với
những
lời quả
đoán sau
đó của
những kẻ
cổ vơ
cho cuộc
đảo
chính,
rằng nỗ
lực
chiến
tranh
của Nam
Việt đă
bước vào
thời kỳ
suy
thoái
trong
những
tháng
cuối
cùng của
chế độ
Ngô Đ́nh
Diệm.
Các
nguồn
tin từ
phía Bắc
Việt,
cũng như
từ phía
Hoa Kỳ
đă cung
cầp bằng
chứng
cho thấy
cuộc
chiến
lúc ấy
đang
tiến
hành một
cách
thỏa
đáng,
thuận
lợi.”
Về t́nh
trạng rối
lọan và sự
kém cỏi của
các chính
quyền hậu
đảo chính,
tác giả cho
rằng chưa
mấy người
hiểu rơ
nguyên nhân.
Ông viết:
“Hậu quả của sự điều hành kém cỏi của chính quyền miền Nam từ sau khi ông Diệm chết cho đến năm 1965 th́ hầu như ngày nay ai cũng đă thấy. Nhưng về những nguyên nhân của nó th́ chưa mấy người hiểu. Theo một cách giải thích “chuẩn” th́ chính quyền Saigon thất bại v́ những nhà lănh đạo Việt Nam và những cố vấn Mỹ đă chọn lầm phương pháp để đánh địch. Tuy nhiên thực ra, vấn đề không nằm ở khái niệm mà ở cách thi hành. Một sự giải thích tiến bộ hơn, gần trọng điểm hơn, nhưng vẫn chỉ đúng một phần, đó là miền Nam lúc ấy bị chao đảo, lọang chọang v́ giới thượng lưu cầm quyền đă mất những nhà lănh đạo kiên cường. Nhiều cá nhân giữ những địa vị trong chính quyền trong thời hậu Diệm, đích thực, thiếu các đức tính cần thiết của một nhà lănh đạo, và chẳng ai có tài bằng Ngô Đ́nh Diệm. Nhưng tầm cỡ của tập thể giới lănh đạo nói chung không phải là vấn đề then chốt. Vấn đề quan trọng , thực ra chính là sự lọai trừ một số người trong giới thượng lưu ra khỏi chính phủ và sự thao túng của phong trào Phật Giáo trong việc vận dụng các nhà lănh đạo chính phủ. Kể từ tháng 11 năm 1963 về sau những lănh tụ hàng đầu ở Saigon không ngừng lặp đi lặp lại việc lọai trừ những người có tài đáng kể, hoặc v́ những người này đă trung thành với ông Diệm, hoặc v́ những lănh tụ đó bị áp lực từ nhóm Phật Giáo tranh đấu...”
Vài
trích
đọan
trên
đây
của
Lời
Tựa
đă
tóm
tắt
quan
điểm
“xét
lại”
của
tác
giả
về
những
sự
kiện
lịch
sử
liên
quan
đến
ông
Hồ
Chí
Minh,
ông
Ngô
Đ́nh
Diệm
và
chính
t́nh
miền
Nam
Việt
Nam
từ
1945
đến
1965.
Hơn
400
trang
sách
kế
tiếp
đă
được
tác
giả
dùng
để
trưng
dẫn
những
tài
liệu
chính
xác
để
chứng
minh
quan
điểm
trên
là
đúng.
V́
là
những
tài
liệu
phức
tạp,
mới
có,
cũ
có
từ
nhiều
nguồn
khác
nhau
nhiều
khi
trái
ngựoc
mâu
thuẫn
nhau.
Nên
không
thể
nào
thu
gọn
trong
phạm
vi
một
bài
báo.
V́
vậy
chúng
tôi
xin
để
độc
giả
t́m
đọc
trong
chính
tác
phẩm
TRIUMPH
FORSAKEN
tập
I.
Sau
đây
chỉ
xin
tóm
tắt
vài
ư
chính
và
trích
dịch
một
số
đọan
đáng
chú
ư
của
mấy
chương
đầu
của
tập
I,
v́
tập
II
chưa
xuất
bản.
Chương
1:
Di
Sản
Mở
đầu
là
quang
cảnh
tấp
nập
tưng
bừng
tại
công
trường
Puginier,
Hà
Nội
(nay
là
quảng
trường
Ba
Đ́nh)
ngày
ra
đời
của
Việt
Nam
Dân
Chủ
Cộng
Ḥa.
“Theo lời mời của ông Hồ, vài sĩ quan t́nh báo OSS Mỹ đứng gần khán đài. Hai chiếc máy bay chiến đấu Lightning P-38 t́nh cờ bay trên đám đông trong buổi lễ. Cả hai điều đó đă tạo nên một cảm tưởng sai lầm rằng chính phủ Hoa Kỳ ủng hộ Hồ Chí Minh.”
Trong lời tuyên bố độc lập mở đầu với lời lẽ lấy từ bản tuyên ngôn Độc Lập của Mỹ và Pháp, ông Hồ đă kịch liệt đả kích thực dân và xác quyết rằng chính phủ của ông đại diện ṭan thể nhân dân Việt Nam.
“Ông ta không nói ǵ đến ư thức hệ chính trị, mà chỉ bàn về mục đích của ông là thành lập một nước Việt Nam độc lập.”
Nhiều người đă cho rằng bản tuyên ngôn này chứng tỏ chủ nghĩa quốc gia chứ không phải chủ nghĩa quốc tế Cộng Sản đă là động lực cách mạng của ông Hồ. V́ vậy nếu như Mỹ đừng ủng hộ Pháp thực dân, và đừng dựng nên những chính phủ tay sai ở miền Nam chống lại ông Hồ th́ Việt Nam và Hoa Kỳ đă có thề là đồng minh, và ông Hồ đă quay lại chống Trung Cộng.
“Nếu người Mỹ hiểu lịch sử Việt Nam, th́ ṭan bộ thảm kịch đă có thể tránh được.” (...)
“Cái lối lư luận trên đă sai lầm một cách chết người.”
“V́ lịch sử Viêt Nam và lịch sử của ông Hồ thực sự đă hỗ trợ cho những kết luận ngược hẳn”.
Tác giả đă ôn lại lịch sử Việt Nam qua 7 trang sách để chứng minh.
Sau đó tác giả viết:
“Chỉ có một bằng chứng duy nhất có thể dùng để biện luận rằng ông Hồ không ưa người Tầu và những ngọai nhân khác là câu ông ta nói để bào chữa cho việc để quân Pháp vào Bắc Việt. (Theo Paul Mus, MV) ông Hồ đă nói: “Thà ngửi cứt Pháp một lúc c̣n hơn là phải ăn cứt Tầu suốt đời”.
Nhưng rồi tác giả lại viết:
“Chút bằng chứng nhỏ nhoi đó rất yếu. V́ khi ông Hồ nói câu đó, theo lời thuật lại (của Paul Mus), th́ phần lớn nướcTầu đang ở dưới quyền cai trị của những người Trung Hoa theo chủ nghĩa Dân Tộc hăng hái chống cộng, và là những người đang tích cực ủng hộ những người Việt quốc gia chống cộng, là đối thủ hùng mạnh nhất của Việt Cộng.”
Tác giả thuật lại việc ông Hồ nhanh chóng chớp thời cơ sau khi Nhật đầu hàng, đem quân cướp chính quyền trong khi các toán quân của các đảng Quốc Gia c̣n đang tiến chậm chạp từ Trung quốc về. Ông cũng nhấn mạnh đến việc quân của Hồ đă dùng vũ khí của Trung Hoa Dân Quốc và của Mỹ.
|

|
|
Phạm Văn Đồng (t), Vơ Nguyên Giáp (p) bên cạnh Hồ Chí Minh ngồi ghế mặc veston, quần ngắn, đi dép râu (Mùa Thu 1945)
Nguồn: Triumph Forsaken
|
Và yếu tố quan trọng khiến ông Hồ thành công bước đầu là “cá tính” của ông ta được người dân tin phục. Người dân Việt chú ư đến lănh tụ hơn là đảng và chủ thuyết của lănh tụ.
Tác giả nêu lên sự kiện Hồ Chí Minh cố thuyết phục những người Mỹ mà ông gặp rằng ḿnh không phải Cộng Sản, mà chỉ là người yêu nước, muốn đem lại độc lập cho đất nước. Nhiều sĩ quan OSS đă tin theo và muốn ủng hộ Việt Minh, trong đó có cả đại tá Archimedes Patti (lúc ấy là đại úy, MV). Nhưng tác giả đă trưng dẫn bức điện cùa chính Patti gửi về Hoa Thịnh Đốn ngày 29-8-45 viết rằng, “‘những phần tử đỏ’ đang lănh đạo chế độ Việt Minh đi trệch đường, và rằng những nhà lănh đạo chế độ thường nói tốt về chế độ tự do dân chủ, nhưng trong thực tế họ đang chuẩn bị những hành động phi tự do, phi dân chủ.”
Sau đó tác giả đă nêu lên việc Việt Minh giết những người yêu nước như Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn (2 lănh tụ VNQDĐ) và Bùi Quang Chiêu (Đảng Lập Hiến), Hồ Văn Ngà, Nguyễn Văn Sâm, Trương Đ́nh Thi, Trương Tử Anh (lănh tụ Đại Việt)...
Về chiến thắng Điện Biên của CS, tác giả đă trưng dẫn Janos Radvanyi (Ảo tưởng và thực tại, South Bend: Gateway, 1978) cho biết chính Vơ Nguyên Giáp đă tiết lộ với tác giả (Janos):
“Trận Điện Biên Phủ là cố gắng tuyệt vọng cuối cùng của Quân Đội Việt Minh. Lực lượng chiến đấu của nó sắp sửa kiệt quệ ḥan ṭan. Nguồn tiếp tế gạo đă cạn kiệt. Dân chúng đă lănh đạm thờ ơ đến độ thật là khó có thể lấy thêm lính. Nhiều năm chiến đấu trong rừng rậm đă làm cho tinh thần chiến đấu của các đơn vị sa sút tột cùng.”
Sau một số bằng chứng khác, Mark Moyar kết luận: “Tóm lại cả hai phía đều đă có cơ may chiến thắng trận quyết định tại Điện Biên Phủ.” (trang 26)
(C̣n tiếp)
© DCVOnline
|
|
|
|