Tại sao bỏ Đảng, bỏ Bác mà chạy trốn? (Kết)

Minh Vơ
 

Về xă hội miền Bắc cuối thập niên 60, đầu thập niên 70

“Hàng ngày, vào các buổi chiều, người miền Bắc lắng nghe đài “Mẹ Việt Nam” trong chương tŕnh “sinh Bắc tử Nam” và cầu nguyện cho đừng nghe tên của thân nhân ḿnh. Ban ngày những xác chết ph́nh trương, mất đầu, cụt tay. Người ta bỏ chạy tránh máy bay Mỹ. Ban đêm dùng chiếu bó lại, đốt đuốc đưa ra những cánh đồng chôn vội vă. Khắp mọi nơi, mọi cánh đồng mỗi lần máy bay Mỹ oanh tạc đều có những buổi chôn người tập thể về đêm…

Chính sách của đảng đối với anh em đi làm nghĩa vụ ở miền Nam đều được chính phủ trợ cấp cho vợ con và được hợp tác xă nâng đỡ. Nhưng cứ sau mỗi lần Đảng ủy xă và hợp tác làm lễ truy điệu th́ khoản trợ cấp bị cắt và hợp tác hết trách nhiệm. Phần trợ cấp vật chất để giải quyết cho đợt mới lớp người sắp bị hy sinh. Lúc ấy người ta sợ nhất là nh́n thấy người phát thơ. Hàng ngày hàng trăm cái thơ báo tử để trong xắc cốt người cán bộ xă. Anh ta đi đến nhà nào là mang đau thương tang tóc đến nhà đó. …họ sợ nhất là sau cái lễ “truy điệu trọng thể” để “Tổ Quốc ghi công”, là họ bị đẩy ra lề xă hội, không ai nuôi dưỡng. (10)

Tiếp tục nói về thảm cảnh chiến tranh, nơi trang 145 tập một, Hoàng Hữu Quưnh đă nêu lên tệ nạn bi hài kịch “con của ông, em của bố”: Thanh niên trai tráng đi B rồi chết như rạ. Ở nhà chỉ c̣n cha già, vợ trẻ. Vậy là cha chồng lấy nàng dâu.

Nhiều đoạn khác Hoàng Hữu Quưnh cũng tả cảnh bi đát của kinh tế nông thôn khiến nhiều cô thôn nữ trẻ phải vào thành “bán trôn nuôi miệng”, trong số đó không ít vị thành niên. Trang 140 tập một, Hoàng Hữu Quưnh viết:

Tại Hà-nội trong đợt thanh niên làm nhiệm vụ kiểm tra nếp sống thời chiến, trong ṿng một đêm bắt được hơn 400 cô gái làm đĩ, phần lớn là người các tỉnh lân cận Hà-nội.” Sang trang sau ông lại viết: “Thành, bạn tôi đă kể cho tôi nghe tại thành phố Nam định, những bé gái chỉ 13, 14 tuổi đă lang thang ở vườn hoa bến tầu. Mỗi lần thấy người đi qua các em gọi lại. “Chú ơi, chú chơi cháu đi. Chú muốn Tam Đảo hay Điện Biên tùy ư chú.

Nói về việc ngăn chặn tệ nạn đĩ điếm, ăn cắp… Hoàng Hữu Quưnh viết:

Trưởng ban chỉ đạo là những thứ trưởng, cục vụ trưởng đă bị thi hành kỷ luật v́ gian dâm vợ người có hệ thống, ăn cắp ăn hối lộ cũng có hệ thống. Nay họ lại là người cầm cân nảy mực để hạ thủ các bộ hạ của ḿnh. Nghĩ cũng nực cười đứa ăn cắp lớn đi bắt đứa ăn cắp nhỏ. (140)

Trong chương đầu tập hai Hoàng Hữu Quưnh đă viết về hậu quả tai hại của phim ảnh Liên Xô ảnh hưởng đến tuổi trẻ miền Bắc:

Hoàng Hữu Quưnh
Nguồn: Tôi Bỏ Đảng/MV


Sau cái lần chiếu phim nữ tài tử dậy hổ của Liên Xô, th́ ở ngay phố Khâm Thiên có 3 em trai dưới tuổi vị thành niên, vào khoảng 13, 14 đón bắt cóc một nữ công an trói tay chân lại, đem vào nhà khóa cửa lại, thi nhau hăm hiếp từ chiều cho đến sáng. Về sau đám thanh niên cũng bắt chước, bắt cóc con gái ở các tỉnh về Hà Nội, nhốt vào nhà riêng khóa chặt cửa lại, rồi thi nhau hăm hiếp cho tới chết. Dạo đó ban đêm con gái không dám ra đường….

Cả Hà-nội nhốn nháo về vụ một phạm nhân được tháo cũi sổ lồng, vào ngay nhà viên thiếu tướng công an hăm hiếp rồi giết con gái của ông.

Theo lư thuyết, chủ nghĩa duy vật vô thần của cộng sản không coi việc trai gái, mại dâm là phi đạo đức. Hơn nữa các cán bộ cao cấp thường tự cho phép ḿnh hết vợ bé, đến t́nh nhân. Nhưng đối với cán bộ cấp dưới và đảng viên th́ lại hết sức nghiêm khắc. Như Hoàng Văn Chí đă chứng nhận họ muốn cán bộ và chiến sĩ của họ để dành sinh lực cho cuộc chiến, cho lao động, giống như người ta nuôi gà chọi, hay gầy dựng đội bóng đá. Hoàng Hữu Quưnh cũng nêu lên những trường hợp đảng cấm đoán và chế tài những vụ trai gái yêu nhau đến kỳ cục:
“Ông bí thư đảng ủy giao cho ban chấp hành Đoàn thực hiện chiến dịch “bắt ếch” tại trận.” Công cuộc được bố trí ra sao, các nạn nhân sa bẫy như thế nào được Hoàng Hữu Quưnh mô tả chi tiết hấp dẫn trên hơn 3 trang sách:

“Ích đẩy cửa bước vào. Nga chuẩn bị cơm rượu sẵn sàng. Khi Ích vào pḥng, cánh cửa đóng sập lại….Nga vén hai ống quần lụa …Ích người run lẩy bẩy, sờ soạng…cái giường kêu cót két…Bên ngoài cửa sổ Lê Đạt, Thuyên bí thư chi bộ, Huỳnh trong ban chấp hành đoàn, Nghệ đoàn viên, Tiến đảng viên …và một đám đông trẻ con…Bọn họ theo dơi từ lúc Ích đẩy cửa bước vào ..Những cử chỉ của cô y tá và anh kỹ sư đă làm cho mọi người xem nín thở chờ đợi. Phút cuối cùng, ở giây phút mà cả hai người run lên, không biết ǵ nữa….th́ cánh của sổ mở tung và mọi người nhất tề đổ bộ vào…Biên bản hủ hóa được lập tại chỗ. Hà-nội ngày 19 tháng 6… …Chúng tôi đă bắt được tại trận anh Nguyễn Tiến Ích đang hủ hóa với cô Vũ Thị Thúy Nga vào hồi 18g30 tại học viện Thủy Lợi Hà-nội. Lúc bắt qủa tang th́ hai người thoát y tại pḥng cô Nga…..” (tập một trang 158)

Sự việc trên thực khó tin, nếu tác giả đă không cam đoan ở đầu sách là ông “đă dùng ngựi thật việc thật”. Nhưng c̣n một chuyện nữa c̣n khó tin hơn, khi ông nói về tính hiếu dâm của Hồng Mỹ con của Lê Duẫn. Cô này, tên thực là Lê Thị Muội, thích "làm tiền " "với" người ngoại quốc trên băi và dưới biển ở Sochi, Liên Xô. Lúc ấy có ba cô con gái của tổng bí thư Lê Duẫn tại Liên Xô. Khi tôi đọc cuốn sách này lần đầu ở thư viện Linda Vista, th́ thấy có độc giả ghi bút ch́ ở bên lề: “Vớ vẩn! Con gái Lê Duẫn th́ đâu thiếu tiền. Bố nó hút máu của nhân dân thiếu ǵ tiền.” Nếu ta tin tác giả hơn vị độc giả này, th́ ta chỉ có thể giải thích là bọn lănh tụ cộng sản thường có thói “đạo đức giả” cho nên con y cũng không biết y có nhiều tiền. Và y cũng dấu cả vợ con chăng. Hoặc giả như chính Hoàng Hữu Quưnh cũng đă viết rằng cô này không giống tính cha, mà c̣n phê b́nh cha “ba chỉ làm bù nh́n cho bọn Nga mà thôi”, cô ta lại có tinh thần rất tự do, phóng khoáng, sau này đă lấy người ngoại quốc. Tính tự do phóng khoáng một phần do thời niên thiếu Hồng Mỹ sống ở vùng quốc gia, theo học tiểu học ở trường quận Triệu Phong, quê Hoàng Hữu Quưnh. Vả lại tính đa dâm cũng có di truyền: Cha nào con nấy.

Trong tập hai, có lẽ không phải là phần hai của cuốn hồi kư, mà đúng ra là một tập truyện. - theo tôi nghĩ, nếu không phải là hư cấu, th́ cũng hơi cường điệu - tác giả đă thuật lại chuyện đau ḷng của một cô Nguyệt bị cố vấn Liên Xô hăm hiếp. Cô là con bí thư huyện ủy. Khi bị một cố vấn Nga tấn công t́nh dục trên băi biển Đồ Sơn, cô đă được một chàng trai nghèo tên Quảng liều thân giải cứu. Lần ấy cô đă thoát. Nhưng Quảng th́ bị đánh trọng thương, rồi bị vu vạ và đi tù năm năm. Viên bí thư huyện ủy, cha cô gái, không can thiệp cho Quảng, khiến cô buồn khổ. Nhưng rồi cái tên cố vấn đó, thấy nhà cầm quyền bênh ḿnh rơ ràng, lại t́m đến nhà cô trong lúc cô ở một ḿnh. Y đă dùng sức mạnh chiếm đoạt làm cô có bầu. Để giấu nhẹm hành động bỉ ổi này người ta đă ép cô phải lấy tên cố vấn Nga, hoặc phá thai. Nhưng cô nhất định không chịu lấy tên cố vấn. C̣n bác sĩ cả Nga lẫn Việt đều không chịu phá thai, v́ muốn cô phải lấy tên cố vấn. Lần này th́ cha cô chịu nghe lời cô. Ông đổi thái độ quay ra chống đảng, nên bị bắt giam và chết trong tù. Mẹ cô và em cô bị xe cán chết. Hoàn cảnh hết sức bi thảm. Cuối cùng Nguyệt “đă chết v́ bệnh chán chế độ, ngao ngán chủ nghĩa rồi điên loạn v́ đời sống ngặt nghèo.” (tập hai trang 102) Câu chuyện dài 36 trang đă kết thúc một cách hơi đột ngột làm cho người đọc có cảm tưởng tác giả chỉ có ư nói lên lời kết án chế độ của chính ông.

Cũng trong tập hai tác giả đă để 20 trang tiếp thuật lại chuyện của một cô gái trong đội nữ binh 5 người đóng ở trên đỉnh núi cao một cây số rưỡi gần đèo Nậm U. Tên cô ta là Ngọc, có người yêu là một sinh viên ở Hà-nội, nhưng ngoài công việc nguy hiểm là gỡ ḿn, cô c̣n phải “hộ lư” cho viên chính ủy sư đoàn tên Lê Văn Tài. Khi nào thích y cứ điện thoại lên hầm trú ẩn của đội nữ binh yêu cầu đội trưởng phái Ngọc xuống phục vụ y. Một hôm Ngọc sắp hoàn thành nhiệm vụ gỡ ḿn trong ngày, đến lúc gặp quả cuối cùng th́ bị nạn, ḿn nổ tan xác cô. Nữ đôi trưởng Thành cử cô khác tới sư đoàn, bị chính ủy Tài gọi điện khiển trách : “Các đồng chí không chấp hành mệnh lệnh cấp trên, vô tổ chức, vô kỷ luật! Cử không đúng đối tượng lên nhận nhiệm vụ ở sư đoàn bộ…” Thành gục mặt xuống nức nở. Đến nước này quá lắm rồi không nhịn được nữa…” Tác giả kết thúc câu chuyện như sau:

Thời gian vẫn trôi đi. Ở Nậm-U quanh năm sương mù che phủ, tính cũng đă sáu năm rồi dài đằng đăng trên cao điểm 1500 mét này. Những người lính gái ngày đêm quanh quẩn trong căn hầm tăm tối và cuộc đời giống những áng mây đen trên bầu trời Nậm-U mà nhiệm vụ cứ thế mỗi ngày: phá ḿn, nối giây điện thoại, hộ lư cho các thủ trưởng mua vui và chờ chết…”

Về t́nh h́nh tổ chức đảng đoàn trong nhà máy

Ngay chương đầu tập II Hoàng Hữu Quưnh đă dành để nói về “Ông thủ trưởng của tôi”, Vũ Văn Thân. (11) Một ông giám đốc kiêm phó bí thư đảng ủy mà thua kém cấp dưới về mọi mặt, chẳng bao giờ, hay hầu như chẳng bao giờ, được b́nh bầu “lao động tiên tiến”. Nhân câu chuyện về ông Thân, tác giả đă cho người đọc biết qua về tổ chức đảng đoàn trong nhà máy Cơ Khí Thủy Lợi Hà-nội như sau:

Đó là một nhà máy có quy mô lớn hơn 1200 công nhân…Thường th́ giám đốc có chân trong đảng ủy và giữ chức phó bí thư đảng ủy. Bí thư đoàn thanh niên là đảng ủy viên. Tất cả số đảng viên nhà máy tổ chức thành đảng bộ. Dưới đảng bộ là các chi bộ, dưới chi bộ là các tổ đảng rồi đến đảng viên.

Nhà máy chúng tôi số đảng viên chưa tới 100 người mà phải lănh đạo hơn 1100 công nhân. Trong đó có khoảng 500 đoàn viên thanh niên cộng sản. Số c̣n lại là quần chúng ngoài đoàn, ngoài đảng.

Nhà máy của chúng ta có hàng chục kỹ sư…

Dạo đó ngày đầu tiên rời ghế nhà trường về đây nhận công tác, là một kỹ sư trẻ, tôi mới 22 tuổi đời. Hành trang chẳng có ǵ, trên vai mang chiếc ba lô và ở trong ba lô có vài ba bộ áo quần, một năm nhà nước chỉ cấp cho 4 mét vải bằng phiếu, nhưng có lúc chẳng có vải mà mua…

Trong chuyện “thủ trưởng của tôi" Hoàng Hữu Quưnh không chỉ nói xấu ông thủ trưởng mà c̣n nói đến thứ trưởng Hoàng Tiến đă nhân lúc viên kỹ sư Hoành vắng nhà hăm hiếp vợ y rồi sau gọi Hoành lên bộ nói là vợ Hoành thuận t́nh… Thủ trưởng Thân đă khuyên Hoành “nên chín bỏ làm mười. Một điều nhịn là chín điều lành. Đi đâu cũng thân cô thế cô. Hoành là một kỹ sư ngoài đảng mà anh Hoàng Tiến lại là thứ trưởng và có chân trong đảng ủy bộ…..” (tập hai trang 27)

Chiến tranh càng kéo dài th́ người dân càng bất măn và không c̣n giữ mồm giữ miệng:
 

Nhiều lần nhân dân Hà Tây, quê hương của ông Nguyễn Cao Kỳ và Phan Kế Toại vừa chạy trốn máy bay Mỹ , vừa chửi đảng: “Nếu không đánh nổi th́ liệu mà đầu hàng, đừng đem mạng của dân mà thí như con ruồi con muỗi. Tiên sư cha chúng nó Đảng và Bác!”
 

Về chiến dịch cải cách ruộng đất

Trong chương 1 chúng tôi đă trích dịch một số nhận xét và phân tích của giáo sư Hoàng Văn Chí về các chiến dịch giảm tô và cải cách ruộng đất và những cuộc đấu tố long trời lở đất mà cộng sản đă giật dây, điều khiển và xúi nông dân thực thi đối với những người mà đảng muốn tiêu diệt hay ǵm xuống cảnh cùng cực không ngóc đầu lên được. Nó không khác ǵ những điều mà đồng bào di cư năm 1954 và những người vượt tuyến trong những năm sau đó thuật lại cho đồng bào miền Nam nghe. Nhưng lúc ấy chẳng mấy người tin, mà chỉ cho rằng tuyên truyền chống cộng cường điệu mà thôi. Nhưng đến nay th́ quá nhiều tài liệu về việc này đă được khắp thế giới biết, không c̣n mới mẻ ǵ. Tuy nhiên để có thêm một tiếng nói nữa cho tập sách, chúng tôi xin trích dẫn thêm một nhân chứng nữa. Dĩ nhiên khuôn khổ một chương sách không cho phép đi vào chi tiết, mà chỉ có thể chọn lựa một vài đoạn cốt yếu.

Trước hết xin tóm lược đại ư của tác giả. Hoàng Hữu Quưnh đă để ra 86 trang của chương 2 nói rất chi tiết. Trong không khí hoang mang cùng cực ai cũng có thể trở thành địa chủ, việt gian, phản động”, “người ta chiếu những bộ phim của Trung Quốc như Bạch Mao Nữ… tả cảnh nông dân bị điạ chủ ức hiếp, đầy đọa, chỉ “trở lại cuộc sống hạnh phúc nhờ có đảng và Mao chủ tịch đưa đường dẫn lối. (trang 26) Trường Chinh và Hồ Viết Thanh (12) đứng đầu chiến dịch, được các cố vấn Trung Quốc chỉ dẫn. Họ lập ra các đội cải cách toàn quyền hành động tại các thôn xă. “Đội trưởng là Trời”. Họ phái một số cán bộ trung kiên về nông thôn “cùng ở, cùng ăn, cùng làm” việc với nông dân để t́m hiểu, gây cảm t́nh và điều tra tỷ mỷ về cuộc sống của người dân, nhất là liên hệ giữa địa chủ với nông dân hầu t́m ra cách kết tội địa chủ hữu hiệu nhất.

Việc điều tra những cuộc t́nh duyên nhằm mục đích đặc biệt: Người phụ nữ nào thời c̣n con gái có dính líu với một địa chủ th́ người đó bị bắt buộc phải tố trước công chúng rằng hồi c̣n con gái chị ta đă bị địa chủ hăm hiếp, rồi đánh đập tàn nhẫn vân vân…”(tr.36)

Hoàng Hữu Quưnh ghi nhận trong cải cách ruộng đất có 5 giai đoạn gọi là 5 bước:

1. Quy định thành phần.
2. Phân loại địa chủ.
3. Tịch thu tài sản.
4. Nông dân học tập về tội ác của địa chủ.
5. Đấu tố. (từ trang 38 đến tr. 73)
 

Về buớc 1, Sau khi cho nông dân học tập trong 10 ngày, nông dân được hướng dẫn phân loại dân ở nông thôn thành 7 loại chính:

1. Điạ chủ (lại chia làm ba A, B, C)
2. Phú nông cũng chia làm ba.

A/ Trung nông lớp trên (3 loại).
B/ Trung nông (4 loại).
C/ Trung nông lớp dưới (4 loại).
D/ Bần nông (4 loại).
E/ Bần cố nông. (2 loại).(tr.29)
 

Khi cuộc đấu tố được thi hành ở xă nào th́ cộng sản đưa hàng tiểu đoàn về làm áp lực, “nói là để đề pḥng phản động”. Đảng và nhà nước hoàn toàn phủ nhận trách nhiệm, “họ công bố đó là việc riêng của nông dân hoàn toàn do nông dân chủ trương…Đảng chỉ giúp ư kiến cho nông dân biết cách đấu tranh mà thôi” (tr. 33) Nhưng Trường Chinh đă đưa ra khẩu hiệu “Thà giết lầm c̣n hơn tha sót “ Và trong thực tế ở Nghệ An là nơi tác giả có mặt “thực tế mỗi xă có tới 6, 7 người bị xử tử h́nh” (tr.32) Chỉ có một số ít những xă thuộc tỉnh Quảng Trị không có ai bị xử tử v́ lư do những xă đó nằm sát vĩ tuyến 17, e rằng dân sợ và sẽ liều chết chạy sang bên Quốc gia. Cũng có một số xă hay bản thuộc vùng dân thiểu số không bị tổ chức đấu tố, để tránh mất ḷng hai nước Thái, Lào…: “Theo Trường Chinh, những nơi đặc biệt như vậy “phải có chính sách đặc biệt” có nghĩa là sẽ giết dần ṃn cách khác.” (tr. 33)

Sau đây là một vài trường hợp cá biệt:

Khảo của và tống tiền: “Trong khi địa chủ trả thoái tô hoặc bằng tiền mặt, hoặc bằng vàng bạc th́ nhà cửa của họ bị niêm phong. Họ không được bán chác bất cứ một thứ ǵ. Tất cả, kể cả đồ đạc trong nhà đều được công bố trở thành tài sản của nhân dân. Thực tế mục đích sâu xa của việc đ̣i nợ thoái tô là bắt buộc địa chủ phải đem hết của ch́m ra nộp cho hết chứ không phải để đ̣i nợ thật sự. Nếu vợ con của địa chủ không đem nộp hoặc chậm chạp th́ người địa chủ bị đưa ra tra tấn dă man để người vợ đau ḷng phải chạy cho đủ số. Cán bộ sẽ đặt những câu hỏi vặn như sau: Cái kiềng vàng hoặc cái ṿng cẩm thạch mày đeo hôm đám cưới đâu rồi? Mày bảo rằng không có tiền, thế th́ phần gia tài của bà ngọai mày để lại cho mẹ mày tiêu đâu hết? Đó là những câu hỏi mà bọn cán bộ đă nghiên cứu thật kỹ, từng trường hợp, để rồi đem ra áp dụng cho nên nghe nhắc đến ai cũng giật ḿnh. Một cách tống tiền cướp bóc khác là bắt vợ địa chủ mang tấm biển lớn với hàng chữ “Tôi là địa chủ ngoan cố” đi ṿng quanh khắp làng. Nếu có con mọn, th́ người mẹ, vợ của địa chủ sẽ được đưa cách riêng ra không cho con bú, vú sữa người mẹ sẽ bị căng lên không chịu nổi trong khi đó đau ḷng v́ con không có sữa mẹ để bú nên phải khai vàng bạc cất giấu ở đâu để được cho về với con. Trường hợp có nhiều con th́ mỗi đứa bị đưa ra một nơi khác nhau để tra khảo dọa nạt bắt buộc chúng phải khai và bọn cán bộ đem bản cung khai về đối chiếu để đ̣i thêm nợ. Lũ trẻ không chịu nổi tra tấn nên khai lung tung cho qua chuyện, thế là, nhà cửa địa chủ được đào xới lên từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng nọ. Sự việc này mới đây đă diễn ra ở Saigon trong chiến dịch gọi là “cải tạo tư sản ở các thành thị miền Nam” (trang 45-46)

Trong nhiều trường hợp cán bộ ép chính con gái địa chủ lên trước công chúng tố rằng chính cô ta bị người cha hiếp. Người trong cuộc mới biết có sự thông đồng giữa hai cha con v́ biết thế nào người cha cũng chết, người con gái đành tâm phải tố như vậy để—theo lời cán bộ - được qui là trung nông, và như vậy có hy vọng sống yên ổn nuôi lũ em dại. Thật là không c̣n thuần phong mỹ tục nào, không c̣n một luân thường đạo lư nào. (trang 61)

Người công an gọi mấy dân quân mang người đàn ông tên Thục ra cho bà con nông dân hỏi tội. Ông Thục được hai dân quân điệu ra trước vành móng ngựa bởi một cái đ̣n gánh. Ông Thục nằm sấp vắt người qua chiếc đ̣n gánh. V́ ông đă già và mấy ngày liền bị đói nên ông đă xỉu. Hai người dân quân cứ lôi ông đi xành xạch….Đoạn ngừng lại trước mặt mọi người. Cô Sỹ, đứa cháu gái của ông nhảy lên hỏi: - Thục! Mày có biết bà là ai không ? Bà nói cho mày biết, bà không phải là cháu của mày, mà là bà của mày! Mọi người bấm bụng bịt miệng cười! Rồi cô Sỹ dựng lên câu chuyện: Mày có biết mày giết vợ mày bịt đầu mối như thế nào không? Mày có biết tội mày không Thục? Cứ như thế đứa cháu gọi. Người ông “dạ thưa bà”, làm tôi rất khó chịu, lịch sử 4000 năm của dân tộc Việt chưa bao giờ lại có lối văn hóa mà trật tự đảo lộn như vậy! Chỉ có Đảng mới dậy cho mọi người như vậy. (trang 66-67)

Một vài nhận xét về trường hợp Hoàng Hữu Quưnh

Ông đă nói ông không phải nhà văn. Ông cũng không được học nhiều về lư thuết Mác-xít. Ông có gia nhập đảng, nhưng hoàn toàn để tiến thân, chứ không hề v́ tin ở đảng hay ở chủ thuyết cộng sản. Ông là một cán bộ kỹ thuật có tŕnh độ, lại được đào tạo ở nước ngoài. Ông viết cuốn sách chỉ là để nói lên những điều ông được mắt thấy tai nghe hầu cảnh giác người khác. Những trang sách của ông là tài liệu quư cho những người muốn t́m hiểu thêm vế cấp lănh đạo của đảng, đặc biệt là về chiến dịch cải cách ruộng dất long trời lở đất mà đảng đă thi hành theo lệnh và dưới sự giám sát của cố vấn Trung Quốc.

 
© DCVOnline



(1) “Tôi Bỏ Đảng”, tập 1: Bản cáo trạng chế độ Hà-nội. Xuất bản
năm 1989, trang 130. Nguên văn: "... Nghĩ đến đĩ tơi bỗn giật ḿnh, sợ bác như sợ ma. Tơi không tin ở Bác. H́nh như bác có cái ǵ bí ẩn giấu giếm. Vẻ mặt bác gian ác, con người bác nhiều thủ đọan. Tôi lạnh toát mồ hôi."
...
(10) SĐD tr. 136-138
(11) Trung tá. Bí danh Tám Niềm sinh 6-3-1925, quê Hà Bắc.
Vào đảng 19/08/1944.
(12) Hồ Viết Thắng.