|
Tại sao bỏ Đảng, bỏ Bác mà chạy trốn? (Kết)
Minh Vơ
Về xă hội
miền Bắc cuối thập niên 60, đầu thập niên 70
“Hàng ngày, vào các buổi chiều, người miền
Bắc lắng nghe đài “Mẹ Việt Nam” trong chương
tŕnh “sinh Bắc tử Nam” và cầu nguyện cho
đừng nghe tên của thân nhân ḿnh. Ban ngày
những xác chết ph́nh trương, mất đầu, cụt
tay. Người ta bỏ chạy tránh máy bay Mỹ. Ban
đêm dùng chiếu bó lại, đốt đuốc đưa ra những
cánh đồng chôn vội vă. Khắp mọi nơi, mọi
cánh đồng mỗi lần máy bay Mỹ oanh tạc đều có
những buổi chôn người tập thể về đêm…
Chính sách của
đảng đối với anh em đi làm nghĩa vụ ở
miền Nam đều được chính phủ trợ cấp cho
vợ con và được hợp tác xă nâng đỡ. Nhưng
cứ sau mỗi lần Đảng ủy xă và hợp tác làm
lễ truy điệu th́ khoản trợ cấp bị cắt và
hợp tác hết trách nhiệm. Phần trợ cấp
vật chất để giải quyết cho đợt mới lớp
người sắp bị hy sinh. Lúc ấy người ta sợ
nhất là nh́n thấy người phát thơ. Hàng
ngày hàng trăm cái thơ báo tử để trong
xắc cốt người cán bộ xă. Anh ta đi đến
nhà nào là mang đau thương tang tóc đến
nhà đó. …họ sợ nhất là sau cái lễ “truy
điệu trọng thể” để “Tổ Quốc ghi công”,
là họ bị đẩy ra lề xă hội, không ai nuôi
dưỡng. (10)
Tiếp tục nói về
thảm cảnh chiến tranh, nơi trang 145 tập một,
Hoàng Hữu Quưnh đă nêu lên tệ nạn bi hài
kịch “con của ông, em của bố”: Thanh niên
trai tráng đi B rồi chết như rạ. Ở nhà chỉ
c̣n cha già, vợ trẻ. Vậy là cha chồng lấy
nàng dâu.
Nhiều đoạn khác Hoàng Hữu Quưnh cũng tả cảnh
bi đát của kinh tế nông thôn khiến nhiều cô
thôn nữ trẻ phải vào thành “bán trôn nuôi
miệng”, trong số đó không ít vị thành niên.
Trang 140 tập một, Hoàng Hữu Quưnh viết:
Tại Hà-nội trong đợt thanh niên làm nhiệm vụ
kiểm tra nếp sống thời chiến, trong ṿng một
đêm bắt được hơn 400 cô gái làm đĩ, phần lớn
là người các tỉnh lân cận Hà-nội.” Sang
trang sau ông lại viết: “Thành,
bạn tôi đă kể cho tôi nghe tại thành phố Nam
định, những bé gái chỉ 13, 14 tuổi đă lang
thang ở vườn hoa bến tầu. Mỗi lần thấy người
đi qua các em gọi lại.
“Chú ơi, chú chơi
cháu đi. Chú muốn Tam Đảo hay Điện Biên tùy
ư chú.
Nói về việc ngăn chặn tệ nạn đĩ điếm, ăn cắp…
Hoàng Hữu Quưnh viết:
Trưởng ban chỉ
đạo là những thứ trưởng, cục vụ trưởng
đă bị thi hành kỷ luật v́ gian dâm vợ
người có hệ thống, ăn cắp ăn hối lộ cũng
có hệ thống. Nay họ lại là người cầm cân
nảy mực để hạ thủ các bộ hạ của ḿnh.
Nghĩ cũng nực cười đứa ăn cắp lớn đi bắt
đứa ăn cắp nhỏ. (140)
Trong chương đầu
tập hai Hoàng Hữu Quưnh đă viết về hậu quả
tai hại của phim ảnh Liên Xô ảnh hưởng đến
tuổi trẻ miền Bắc:
|
 |
|
Hoàng Hữu
Quưnh
Nguồn: Tôi Bỏ Đảng/MV
|
Sau cái lần
chiếu phim nữ tài tử dậy hổ của Liên Xô,
th́ ở ngay phố Khâm Thiên có 3 em trai
dưới tuổi vị thành niên, vào khoảng 13,
14 đón bắt cóc một nữ công an trói tay
chân lại, đem vào nhà khóa cửa lại, thi
nhau hăm hiếp từ chiều cho đến sáng. Về
sau đám thanh niên cũng bắt chước, bắt
cóc con gái ở các tỉnh về Hà Nội, nhốt
vào nhà riêng khóa chặt cửa lại, rồi thi
nhau hăm hiếp cho tới chết. Dạo đó ban
đêm con gái không dám ra đường….
Cả Hà-nội nhốn nháo về vụ một phạm nhân
được tháo cũi sổ lồng, vào ngay nhà viên
thiếu tướng công an hăm hiếp rồi giết
con gái của ông.
Theo lư thuyết,
chủ nghĩa duy vật vô thần của cộng sản không
coi việc trai gái, mại dâm là phi đạo đức.
Hơn nữa các cán bộ cao cấp thường tự cho
phép ḿnh hết vợ bé, đến t́nh nhân. Nhưng
đối với cán bộ cấp dưới và đảng viên th́ lại
hết sức nghiêm khắc. Như Hoàng Văn Chí đă
chứng nhận họ muốn cán bộ và chiến sĩ của họ
để dành sinh lực cho cuộc chiến, cho lao
động, giống như người ta nuôi gà chọi, hay
gầy dựng đội bóng đá. Hoàng Hữu Quưnh cũng
nêu lên những trường hợp đảng cấm đoán và
chế tài những vụ trai gái yêu nhau đến kỳ
cục:
“Ông bí thư đảng ủy
giao cho ban chấp hành Đoàn thực hiện chiến
dịch “bắt ếch” tại trận.” Công
cuộc được bố trí ra sao, các nạn nhân sa bẫy
như thế nào được Hoàng Hữu Quưnh mô tả chi
tiết hấp dẫn trên hơn 3 trang sách:
“Ích đẩy cửa bước
vào. Nga chuẩn bị cơm rượu sẵn sàng. Khi Ích
vào pḥng, cánh cửa đóng sập lại….Nga vén
hai ống quần lụa …Ích người run lẩy bẩy, sờ
soạng…cái giường kêu cót két…Bên ngoài cửa
sổ Lê Đạt, Thuyên bí thư chi bộ, Huỳnh trong
ban chấp hành đoàn, Nghệ đoàn viên, Tiến
đảng viên …và một đám đông trẻ con…Bọn họ
theo dơi từ lúc Ích đẩy cửa bước vào ..Những
cử chỉ của cô y tá và anh kỹ sư đă làm cho
mọi người xem nín thở chờ đợi. Phút cuối
cùng, ở giây phút mà cả hai người run lên,
không biết ǵ nữa….th́ cánh của sổ mở tung
và mọi người nhất tề đổ bộ vào…Biên bản hủ
hóa được lập tại chỗ. Hà-nội ngày 19 tháng
6… …Chúng tôi đă bắt được tại trận anh
Nguyễn Tiến Ích đang hủ hóa với cô Vũ Thị
Thúy Nga vào hồi 18g30 tại học viện Thủy Lợi
Hà-nội. Lúc bắt qủa tang th́ hai người thoát
y tại pḥng cô Nga…..” (tập một
trang 158)
Sự việc trên thực khó tin, nếu tác giả đă
không cam đoan ở đầu sách là ông “đă dùng
ngựi thật việc thật”. Nhưng c̣n một chuyện
nữa c̣n khó tin hơn, khi ông nói về tính
hiếu dâm của Hồng Mỹ con của Lê Duẫn. Cô này,
tên thực là Lê Thị Muội, thích "làm tiền " "với"
người ngoại quốc trên băi và dưới biển ở
Sochi, Liên Xô. Lúc ấy có ba cô con gái của
tổng bí thư Lê Duẫn tại Liên Xô. Khi tôi đọc
cuốn sách này lần đầu ở thư viện Linda
Vista, th́ thấy có độc giả ghi bút ch́ ở bên
lề: “Vớ vẩn! Con gái Lê Duẫn th́ đâu thiếu
tiền. Bố nó hút máu của nhân dân thiếu ǵ
tiền.” Nếu ta tin tác giả hơn vị độc giả này,
th́ ta chỉ có thể giải thích là bọn lănh tụ
cộng sản thường có thói “đạo đức giả” cho
nên con y cũng không biết y có nhiều tiền.
Và y cũng dấu cả vợ con chăng. Hoặc giả như
chính Hoàng Hữu Quưnh cũng đă viết rằng cô
này không giống tính cha, mà c̣n phê b́nh
cha “ba chỉ làm bù nh́n cho bọn Nga mà thôi”,
cô ta lại có tinh thần rất tự do, phóng
khoáng, sau này đă lấy người ngoại quốc.
Tính tự do phóng khoáng một phần do thời
niên thiếu Hồng Mỹ sống ở vùng quốc gia,
theo học tiểu học ở trường quận Triệu Phong,
quê Hoàng Hữu Quưnh. Vả lại tính đa dâm cũng
có di truyền: Cha nào con nấy.
Trong tập hai, có lẽ không phải là phần hai
của cuốn hồi kư, mà đúng ra là một tập
truyện. - theo tôi nghĩ, nếu không phải là
hư cấu, th́ cũng hơi cường điệu - tác giả đă
thuật lại chuyện đau ḷng của một cô Nguyệt
bị cố vấn Liên Xô hăm hiếp. Cô là con bí thư
huyện ủy. Khi bị một cố vấn Nga tấn công
t́nh dục trên băi biển Đồ Sơn, cô đă được
một chàng trai nghèo tên Quảng liều thân
giải cứu. Lần ấy cô đă thoát. Nhưng Quảng
th́ bị đánh trọng thương, rồi bị vu vạ và đi
tù năm năm. Viên bí thư huyện ủy, cha cô gái,
không can thiệp cho Quảng, khiến cô buồn khổ.
Nhưng rồi cái tên cố vấn đó, thấy nhà cầm
quyền bênh ḿnh rơ ràng, lại t́m đến nhà cô
trong lúc cô ở một ḿnh. Y đă dùng sức mạnh
chiếm đoạt làm cô có bầu. Để giấu nhẹm hành
động bỉ ổi này người ta đă ép cô phải lấy
tên cố vấn Nga, hoặc phá thai. Nhưng cô nhất
định không chịu lấy tên cố vấn. C̣n bác sĩ
cả Nga lẫn Việt đều không chịu phá thai, v́
muốn cô phải lấy tên cố vấn. Lần này th́ cha
cô chịu nghe lời cô. Ông đổi thái độ quay ra
chống đảng, nên bị bắt giam và chết trong tù.
Mẹ cô và em cô bị xe cán chết. Hoàn cảnh hết
sức bi thảm. Cuối cùng Nguyệt “đă chết v́
bệnh chán chế độ, ngao ngán chủ nghĩa rồi
điên loạn v́ đời sống ngặt nghèo.” (tập hai
trang 102) Câu chuyện dài 36 trang đă kết
thúc một cách hơi đột ngột làm cho người đọc
có cảm tưởng tác giả chỉ có ư nói lên lời
kết án chế độ của chính ông.
Cũng trong tập hai tác giả đă để 20 trang
tiếp thuật lại chuyện của một cô gái trong
đội nữ binh 5 người đóng ở trên đỉnh núi cao
một cây số rưỡi gần đèo Nậm U. Tên cô ta là
Ngọc, có người yêu là một sinh viên ở Hà-nội,
nhưng ngoài công việc nguy hiểm là gỡ ḿn,
cô c̣n phải “hộ lư” cho viên chính ủy sư
đoàn tên Lê Văn Tài. Khi nào thích y cứ điện
thoại lên hầm trú ẩn của đội nữ binh yêu cầu
đội trưởng phái Ngọc xuống phục vụ y. Một
hôm Ngọc sắp hoàn thành nhiệm vụ gỡ ḿn
trong ngày, đến lúc gặp quả cuối cùng th́ bị
nạn, ḿn nổ tan xác cô. Nữ đôi trưởng Thành
cử cô khác tới sư đoàn, bị chính ủy Tài gọi
điện khiển trách : “Các
đồng chí không chấp hành mệnh lệnh cấp trên,
vô tổ chức, vô kỷ luật! Cử không đúng đối
tượng lên nhận nhiệm vụ ở sư đoàn bộ…” Thành
gục mặt xuống nức nở. Đến nước này quá lắm
rồi không nhịn được nữa…” Tác giả
kết thúc câu chuyện như sau:
Thời gian vẫn
trôi đi. Ở Nậm-U quanh năm sương mù che
phủ, tính cũng đă sáu năm rồi dài đằng
đăng trên cao điểm 1500 mét này. Những
người lính gái ngày đêm quanh quẩn trong
căn hầm tăm tối và cuộc đời giống những
áng mây đen trên bầu trời Nậm-U mà nhiệm
vụ cứ thế mỗi ngày: phá ḿn, nối giây
điện thoại, hộ lư cho các thủ trưởng mua
vui và chờ chết…”
Về t́nh h́nh tổ
chức đảng đoàn trong nhà máy
Ngay chương đầu tập II Hoàng Hữu Quưnh đă
dành để nói về “Ông thủ trưởng của tôi”, Vũ
Văn Thân. (11) Một ông giám đốc kiêm
phó bí thư đảng ủy mà thua kém cấp dưới về
mọi mặt, chẳng bao giờ, hay hầu như chẳng
bao giờ, được b́nh bầu “lao động tiên tiến”.
Nhân câu chuyện về ông Thân, tác giả đă cho
người đọc biết qua về tổ chức đảng đoàn
trong nhà máy Cơ Khí Thủy Lợi Hà-nội như
sau:
Đó là một nhà
máy có quy mô lớn hơn 1200 công nhân…Thường
th́ giám đốc có chân trong đảng ủy và
giữ chức phó bí thư đảng ủy. Bí thư đoàn
thanh niên là đảng ủy viên. Tất cả số
đảng viên nhà máy tổ chức thành đảng bộ.
Dưới đảng bộ là các chi bộ, dưới chi bộ
là các tổ đảng rồi đến đảng viên.
Nhà máy chúng tôi số đảng viên chưa tới
100 người mà phải lănh đạo hơn 1100 công
nhân. Trong đó có khoảng 500 đoàn viên
thanh niên cộng sản. Số c̣n lại là quần
chúng ngoài đoàn, ngoài đảng.
Nhà máy của chúng ta có hàng chục kỹ sư…
Dạo đó ngày đầu tiên rời ghế nhà trường
về đây nhận công tác, là một kỹ sư trẻ,
tôi mới 22 tuổi đời. Hành trang chẳng có
ǵ, trên vai mang chiếc ba lô và ở trong
ba lô có vài ba bộ áo quần, một năm nhà
nước chỉ cấp cho 4 mét vải bằng phiếu,
nhưng có lúc chẳng có vải mà mua…
Trong chuyện “thủ
trưởng của tôi" Hoàng Hữu Quưnh không chỉ
nói xấu ông thủ trưởng mà c̣n nói đến thứ
trưởng Hoàng Tiến đă nhân lúc viên kỹ sư
Hoành vắng nhà hăm hiếp vợ y rồi sau gọi
Hoành lên bộ nói là vợ Hoành thuận t́nh… Thủ
trưởng Thân đă khuyên Hoành “nên chín bỏ làm
mười. Một điều nhịn là chín điều lành. Đi
đâu cũng thân cô thế cô. Hoành là một kỹ sư
ngoài đảng mà anh Hoàng Tiến lại là thứ
trưởng và có chân trong đảng ủy bộ…..” (tập
hai trang 27)
Chiến tranh càng kéo dài th́ người dân càng
bất măn và không c̣n giữ mồm giữ miệng:
Nhiều lần nhân dân
Hà Tây, quê hương của ông Nguyễn Cao Kỳ và
Phan Kế Toại vừa chạy trốn máy bay Mỹ , vừa
chửi đảng: “Nếu không đánh nổi th́ liệu mà
đầu hàng, đừng đem mạng của dân mà thí như
con ruồi con muỗi. Tiên sư cha chúng nó Đảng
và Bác!”
Về chiến dịch
cải cách ruộng đất
Trong chương 1 chúng tôi đă trích dịch một
số nhận xét và phân tích của giáo sư Hoàng
Văn Chí về các chiến dịch giảm tô và cải
cách ruộng đất và những cuộc đấu tố long
trời lở đất mà cộng sản đă giật dây, điều
khiển và xúi nông dân thực thi đối với những
người mà đảng muốn tiêu diệt hay ǵm xuống
cảnh cùng cực không ngóc đầu lên được. Nó
không khác ǵ những điều mà đồng bào di cư
năm 1954 và những người vượt tuyến trong
những năm sau đó thuật lại cho đồng bào miền
Nam nghe. Nhưng lúc ấy chẳng mấy người tin,
mà chỉ cho rằng tuyên truyền chống cộng
cường điệu mà thôi. Nhưng đến nay th́ quá
nhiều tài liệu về việc này đă được khắp thế
giới biết, không c̣n mới mẻ ǵ. Tuy nhiên để
có thêm một tiếng nói nữa cho tập sách,
chúng tôi xin trích dẫn thêm một nhân chứng
nữa. Dĩ nhiên khuôn khổ một chương sách
không cho phép đi vào chi tiết, mà chỉ có
thể chọn lựa một vài đoạn cốt yếu.
Trước hết xin tóm lược đại ư của tác giả.
Hoàng Hữu Quưnh đă để ra 86 trang của chương
2 nói rất chi tiết. Trong không khí hoang
mang cùng cực “ai
cũng có thể trở thành địa chủ, việt gian,
phản động”, “người ta chiếu những bộ phim
của Trung Quốc như Bạch Mao Nữ…”
tả cảnh nông dân bị điạ chủ ức hiếp, đầy đọa,
chỉ “trở lại cuộc
sống hạnh phúc nhờ có đảng và Mao chủ tịch
đưa đường dẫn lối.” (trang 26)
Trường Chinh và Hồ Viết Thanh (12)
đứng đầu chiến dịch, được các cố vấn Trung
Quốc chỉ dẫn. Họ lập ra các đội cải cách
toàn quyền hành động tại các thôn xă. “Đội
trưởng là Trời”. Họ phái một số cán bộ trung
kiên về nông thôn “cùng ở, cùng ăn, cùng làm”
việc với nông dân để t́m hiểu, gây cảm t́nh
và điều tra tỷ mỷ về cuộc sống của người dân,
nhất là liên hệ giữa địa chủ với nông dân
hầu t́m ra cách kết tội địa chủ hữu hiệu
nhất.
Việc điều tra
những cuộc t́nh duyên nhằm mục đích đặc
biệt: Người phụ nữ nào thời c̣n con gái
có dính líu với một địa chủ th́ người đó
bị bắt buộc phải tố trước công chúng
rằng hồi c̣n con gái chị ta đă bị địa
chủ hăm hiếp, rồi đánh đập tàn nhẫn vân
vân…”(tr.36)
Hoàng Hữu Quưnh
ghi nhận trong cải cách ruộng đất có 5 giai
đoạn gọi là 5 bước:
1. Quy định thành phần.
2. Phân loại địa chủ.
3. Tịch thu tài sản.
4. Nông dân học tập về tội ác của địa chủ.
5. Đấu tố. (từ trang 38 đến tr. 73)
Về buớc 1, Sau khi
cho nông dân học tập trong 10 ngày, nông dân
được hướng dẫn phân loại dân ở nông thôn
thành 7 loại chính:
1. Điạ chủ (lại chia làm ba A, B, C)
2. Phú nông cũng chia làm ba.
A/ Trung nông lớp trên (3 loại).
B/ Trung nông (4 loại).
C/ Trung nông lớp dưới (4 loại).
D/ Bần nông (4 loại).
E/ Bần cố nông. (2 loại).(tr.29)
Khi cuộc đấu tố
được thi hành ở xă nào th́ cộng sản đưa hàng
tiểu đoàn về làm áp lực, “nói là để đề pḥng
phản động”. Đảng và nhà nước hoàn toàn phủ
nhận trách nhiệm, “họ công bố đó là việc
riêng của nông dân hoàn toàn do nông dân chủ
trương…Đảng chỉ giúp ư kiến cho nông dân
biết cách đấu tranh mà thôi” (tr. 33) Nhưng
Trường Chinh đă đưa ra khẩu hiệu “Thà giết
lầm c̣n hơn tha sót “ Và trong thực tế ở
Nghệ An là nơi tác giả có mặt “thực tế mỗi
xă có tới 6, 7 người bị xử tử h́nh” (tr.32)
Chỉ có một số ít những xă thuộc tỉnh Quảng
Trị không có ai bị xử tử v́ lư do những xă
đó nằm sát vĩ tuyến 17, e rằng dân sợ và sẽ
liều chết chạy sang bên Quốc gia. Cũng có
một số xă hay bản thuộc vùng dân thiểu số
không bị tổ chức đấu tố, để tránh mất ḷng
hai nước Thái, Lào…: “Theo Trường Chinh,
những nơi đặc biệt như vậy “phải có chính
sách đặc biệt” có nghĩa là sẽ giết dần ṃn
cách khác.” (tr. 33)
Sau
đây là một vài trường hợp cá biệt:
Khảo của và tống tiền: “Trong khi địa chủ
trả thoái tô hoặc bằng tiền mặt, hoặc bằng
vàng bạc th́ nhà cửa của họ bị niêm phong.
Họ không được bán chác bất cứ một thứ ǵ.
Tất cả, kể cả đồ đạc trong nhà đều được công
bố trở thành tài sản của nhân dân. Thực tế
mục đích sâu xa của việc đ̣i nợ thoái tô là
bắt buộc địa chủ phải đem hết của ch́m ra
nộp cho hết chứ không phải để đ̣i nợ thật sự.
Nếu vợ con của địa chủ không đem nộp hoặc
chậm chạp th́ người địa chủ bị đưa ra tra
tấn dă man để người vợ đau ḷng phải chạy
cho đủ số. Cán bộ sẽ đặt những câu hỏi vặn
như sau: Cái kiềng vàng hoặc cái ṿng cẩm
thạch mày đeo hôm đám cưới đâu rồi? Mày bảo
rằng không có tiền, thế th́ phần gia tài của
bà ngọai mày để lại cho mẹ mày tiêu đâu hết?
Đó là những câu hỏi mà bọn cán bộ đă nghiên
cứu thật kỹ, từng trường hợp, để rồi đem ra
áp dụng cho nên nghe nhắc đến ai cũng giật
ḿnh. Một cách tống tiền cướp bóc khác là
bắt vợ địa chủ mang tấm biển lớn với hàng
chữ “Tôi là địa chủ ngoan cố” đi ṿng quanh
khắp làng. Nếu có con mọn, th́ người mẹ, vợ
của địa chủ sẽ được đưa cách riêng ra không
cho con bú, vú sữa người mẹ sẽ bị căng lên
không chịu nổi trong khi đó đau ḷng v́ con
không có sữa mẹ để bú nên phải khai vàng bạc
cất giấu ở đâu để được cho về với con.
Trường hợp có nhiều con th́ mỗi đứa bị đưa
ra một nơi khác nhau để tra khảo dọa nạt bắt
buộc chúng phải khai và bọn cán bộ đem bản
cung khai về đối chiếu để đ̣i thêm nợ. Lũ
trẻ không chịu nổi tra tấn nên khai lung
tung cho qua chuyện, thế là, nhà cửa địa chủ
được đào xới lên từ ngày này qua ngày khác,
từ tháng này qua tháng nọ. Sự việc này mới
đây đă diễn ra ở Saigon trong chiến dịch gọi
là “cải tạo tư sản ở các thành thị miền Nam”
(trang 45-46)
Trong nhiều
trường hợp cán bộ ép chính con gái địa
chủ lên trước công chúng tố rằng chính
cô ta bị người cha hiếp. Người trong
cuộc mới biết có sự thông đồng giữa hai
cha con v́ biết thế nào người cha cũng
chết, người con gái đành tâm phải tố như
vậy để—theo lời cán bộ - được qui là
trung nông, và như vậy có hy vọng sống
yên ổn nuôi lũ em dại. Thật là không c̣n
thuần phong mỹ tục nào, không c̣n một
luân thường đạo lư nào. (trang 61)
Người công an gọi mấy dân quân mang
người đàn ông tên Thục ra cho bà con
nông dân hỏi tội. Ông Thục được hai dân
quân điệu ra trước vành móng ngựa bởi
một cái đ̣n gánh. Ông Thục nằm sấp vắt
người qua chiếc đ̣n gánh. V́ ông đă già
và mấy ngày liền bị đói nên ông đă xỉu.
Hai người dân quân cứ lôi ông đi xành
xạch….Đoạn ngừng lại trước mặt mọi người.
Cô Sỹ, đứa cháu gái của ông nhảy lên hỏi:
- Thục! Mày có biết bà là ai không ? Bà
nói cho mày biết, bà không phải là cháu
của mày, mà là bà của mày! Mọi người bấm
bụng bịt miệng cười! Rồi cô Sỹ dựng lên
câu chuyện: Mày có biết mày giết vợ mày
bịt đầu mối như thế nào không? Mày có
biết tội mày không Thục? Cứ như thế đứa
cháu gọi. Người ông “dạ thưa bà”, làm
tôi rất khó chịu, lịch sử 4000 năm của
dân tộc Việt chưa bao giờ lại có lối văn
hóa mà trật tự đảo lộn như vậy! Chỉ có
Đảng mới dậy cho mọi người như vậy. (trang
66-67)
Một vài nhận
xét về trường hợp Hoàng Hữu Quưnh
Ông đă nói ông không phải nhà văn. Ông cũng
không được học nhiều về lư thuết Mác-xít.
Ông có gia nhập đảng, nhưng hoàn toàn để
tiến thân, chứ không hề v́ tin ở đảng hay ở
chủ thuyết cộng sản. Ông là một cán bộ kỹ
thuật có tŕnh độ, lại được đào tạo ở nước
ngoài. Ông viết cuốn sách chỉ là để nói lên
những điều ông được mắt thấy tai nghe hầu
cảnh giác người khác. Những trang sách của
ông là tài liệu quư cho những người muốn t́m
hiểu thêm vế cấp lănh đạo của đảng, đặc biệt
là về chiến dịch cải cách ruộng dất long
trời lở đất mà đảng đă thi hành theo lệnh và
dưới sự giám sát của cố vấn Trung Quốc.
© DCVOnline
(1) “Tôi Bỏ Đảng”, tập 1: Bản cáo
trạng chế độ Hà-nội. Xuất bản
năm 1989, trang 130. Nguên văn: "... Nghĩ
đến đĩ tơi bỗn giật ḿnh, sợ bác như sợ ma.
Tơi không tin ở Bác. H́nh như bác có cái ǵ
bí ẩn giấu giếm. Vẻ mặt bác gian ác, con
người bác nhiều thủ đọan. Tôi lạnh toát mồ
hôi."
...
(10) SĐD tr. 136-138
(11) Trung tá. Bí danh Tám Niềm sinh
6-3-1925, quê Hà Bắc.
Vào đảng 19/08/1944.
(12) Hồ Viết Thắng.
|