|
AGIT–PROP
(1)
Minh Vơ
Trước hết tôi phải
xin lỗi độc giả v́ lại dùng ngoại ngữ để làm
tiêu đề cho bài này, sau khi đă có một bài
với cái tựa Orchestration.
Từ Orchestration dùng trong trường
hợp nói về chiến tranh, tiếng Việt không có
từ tương đương. Dịch là Phối Khí, hay Ḥa Âm
th́ lại chỉ có nghĩa đen về âm nhạc, không
áp dụng vào chiến tranh hay tuyên truyền
được. Cho nên đành để nguyên một từ đă trở
thành quốc tế.
Lần này danh từ kép Agit-Prop cũng vậy.
Đây là viết tắt của hai từ Agitatsiya-Propaganda
(Agitation-Propaganda) mà trong tiếng Việt
có người dịch là Tuyên Vận (viết tắt của
Tuyên Truyền Và Vận Động Quần Chúng).
Cách dịch này tuy tạm ổn, nhưng có vẻ hiền
lành theo tinh thần công tác của các chính
quyền quốc gia, dân chủ nên vẫn không diễn
tả được trọn vẹn ư nghĩa của nguyên ngữ vốn
cô đọng trong 2 từ Agit-Prop là Khuấy
Động-Tuyên Truyền. Đầy đủ hơn th́ nội dung
của Agit-Prop phải được hiểu là khuấy
động quần chúng và tuyên truyền chính trị.
Đây c̣n là danh xưng một cơ quan quan trọng
trong chính quyền Liên Xô là bộ Agit-Prop.
Bộ phận tuyên truyền của trung ương đảng
cộng sản Trung Quốc cuối thập niên 20 và đầu
thập niên 30 do Lư Lập Tam kiêm nhiệm với
chức ủy viên thường vụ bộ chính trị dưới
quyền của Hướng Trung Phát cũng rập khuôn
theo mẫu mực Agit-Prop của Liên Xô. Bộ Tuyên
Truyền trong chính phủ đầu tiên của Hồ Chí
Minh do Trần Huy Liệu làm bộ trưởng cũng thế.
Nhưng về sau để đánh lừa dư luận, Hồ Chí
Minh đă bỏ bộ này, đồng thời cũng giải tán
đảng cộng sản, biến nó thành hội nghiên cứu
Marx-xít (ṇng cốt) và đảng Lao Động (ngoại
vi). Nhưng “đội vũ trang tuyên truyền” của
Vơ Nguyên Giáp th́ vẫn được duy tŕ rồi phát
triển thành “lực lượng vơ trang nhân dân”
sau này, giống hệt như chủ trương tuyên
truyền bằng bạo lực, vũ trang của Lư Lập Tam
ở Trung Quốc.
|
 |
|
Agitprop
Nguồn: wikipedia.org
|
Trong bài này, chúng tôi xin miễn bàn về tổ
chức, điều hành của cái bộ đặc biệt này. Mà
chỉ nói đến nội dung công tác tuyên
truyền chính trị và khuấy động quần
chúng của nó mà thôi.
Sau bài Orchestration, có độc giả phê
b́nh là nói bóng bảy “cao siêu” quá,
lắm chỗ không biết người viết muốn nói ǵ.
Thực ra, orchestration là tột đỉnh của tuyên
truyền v́ nó phối hợp sử dụng tất cả mọi
h́nh thức tuyên truyền và khuấy động quần
chúng một cách cao và đầy đủ nhất, khác nào
nhạc sĩ sáng tác ḥa âm đă sử dụng đến tất
cả các nhạc khí, nhạc cụ để dàn dựng nên một
tuyệt tác nhạc giao hưởng. V́ thế bài này có
mục đích trở lại những kiến thức cơ bản về
tuyên truyền của cộng sản, để giúp một số
độc giả hiểu thêm về orchestration hơn. Dĩ
nhiên, đây chỉ là tóm tắt đại cương mấy điểm
cơ bản thông thường, v́ nếu bàn kỹ ra cần
phải có cả một pho sách lớn.
Ngày nay ta đă quá quen với từ Propaganda,
cho nên khi nói tuyên truyền là hiểu ngay đó
là tuyên truyền chính trị. Nhưng vào thế kỷ
19, nó hăy c̣n đuợc hiểu một cách đơn sơ là
truyền bá, loan truyền. Ṭa thánh Vatican có
một bộ gọi là thánh bộ truyền giáo
(Propaganda Fide), không ai dịch là bộ
tuyên truyền đức tin cả.
Chữ agitation do động từ agitate (gốc từ
động từ La Tinh agito) có nghĩa là lắc, lay
động, lay chuyển, khuấy động … Ở đây, hiểu
ngầm là khuấy động quần chúng. Người cộng
sản để hai công tác tuyên truyền và khuấy
động quần chúng vào làm một bộ phận duy
nhất. V́ trong thực tế, hai công tác đó như
bóng với h́nh, thường hỗ trợ lẫn nhau, chồng
chéo lên nhau, quyện vào nhau, xoắn lấy
nhau, rất khó phân biệt. Nhưng muốn hiểu đến
nơi đến chốn về lư thuyết th́ cần tách ra
làm hai để dễ phân tích.
Tuyên truyền có mục đích đem đến cho
một đối tượng – hay một nhóm đối tượng có
lập trường khuynh hướng giống nhau – nhiều
hay rất nhiều ư, nhằm lôi cuốn họ đi theo
chiều hướng của ḿnh, chấp nhận lập trường
của ḿnh, hành động theo ư ḿnh. Điều này
rất khó nếu những tin tưởng, suy nghĩ, sinh
hoạt của đối tượng trái ngược với ta.
Cán bộ tuyên truyền có thể dùng nhiều h́nh
thức khác nhau để đạt mục đích tuyên truyền
như dùng lời lẽ trong các câu chuyện riêng
tư, trong các buổi tọa đàm… hoặc dùng những
tài liệu, sách báo, tranh ảnh, truyền đơn
vv…
Những cử chỉ, thái độ, hành động của một
người, một lănh tụ, hay chiến thắng của một
đơn vị, hoặc nhỏ, hoặc lớn từ tiểu đội đến
đại đoàn đều có thể có một tác dụng tuyên
truyền nào đó.
1. Tuyên truyền chính trị cũng
như giáo dục và quảng cáo thương mại thường
dựa vào những định luật tâm sinh lư giống
nhau.
Hai nhà tâm lư học thực nghiệm Pháp là hai
anh em Pierre Janet và Paul Janet đă dựa vào
những cuộc thí nghiệm trên những bệnh nhân
thần kinh u uất để chứng minh rằng hành động
là kết quả của ư niệm. Khi chỉ có một ư duy
nhất trong đầu bệnh nhân, th́ lập tức ư đó
biến thành hành động.
Khi có nhiều ư th́ ư nào chiếm ưu thế, ư đó
sẽ có khả năng nhất để biến thành hành động.
Các nhà duy vật có thể bảo đó là theo chủ
nghĩa duy tâm, lạc hậu. Nhưng không thể phản
bác những kết quả cụ thể của công cuộc thí
nghiệm theo đúng tiêu chuẩn khoa học thực
nghiệm của hai nhà bác học này. (1)
Dĩ nhiên những nhà tuyên truyền cộng sản,
theo thuyết duy vật, không thích lối giải
thích duy tâm đó. Họ t́m tới Ivan Petrovich
Pavlov (Nobel 1904), một khoa học gia người
Nga, với thuyết phản ứng điều kiện, bắt
nguồn từ những thí nghiệm trên con chó với
tiếng chuông, để đi đến kết luận mọi hành
động của con người đều do sự điều kiện hóa
một cách máy móc.
V́ thế ông Hồ (có lẽ bắt chước Voltaire) đă
từng có lần nói với cán bộ tuyên truyền
rằng: “Nói láo, cứ nói láo, ban đầu người
ta không tin, rồi nói măi ngựi ta cũng bán
tín bán nghi, rồi th́ cuối cùng tin như
thật.” Chính v́ chủ trương như vậy, cho
nên khi tại Việt Nam xuất hiện lần đầu cái
bộ tuyên truyền và đội vũ trang tuyên
truyền, trong dân gian đă có thành ngữ
“nói dối như Vẹm”. (2)
Muốn thu lượm kết quả, các nhà tuyên truyền,
ngoài việc nắm vững quy luật về tâm sinh lư
nói trên, c̣n phải “điều nghiên” (chữ
CS thường dùng: điều tra, nghiên cứu) về đối
tượng, khác nào nhà trồng trọtmuốn gieo
trồng một giống rau, giống lúa … phải nghiên
cứu đất xem cần đào xới theo phương pháp
nào, cần thêm phân bón ǵ, độ ẩm bao nhiêu
vv… Sau đó mới lựa cách thích hợp với từng
đối tượng để tiếp cận và truyền đạt ư tưởng
của ḿnh: những triết thuyết, chủ nghĩa, chủ
trương, lập trường chính trị … là những điều
phức tạp cao siêu, hay chỉ là một lời khen,
lời mời gọi, một gợi ư nhỏ, đơn sơ.
Với một cán bộ tuyên truyền cấp thấp, công
việc có khi thật khó khăn, đ̣i nhiều thời
gian, để thuyết phục đối tượng. Nhưng với
những người có thiên khiếu về đắc nhân tâm,
nhất là lại có cái mà ngoại ngữ gọi là
“charisma” tức sức thu hút lạ lùng của lănh
tụ, th́ có khi chỉ cần một lần tiếp xúc, một
vài lời nói, một cử chỉ, một cái nh́n cũng
có thể lôi cuốn đối tượng. Người ta thường
nghe đồn về việc ông Hồ đă thu phục Tạ Đ́nh
Đề, Thụy An, Trần Đại Nghĩa theo cách đó. Và
trong hồi kư của Trương Như Tảng, ông này đă
thuật lại bị ông Hồ thuyết phục ra sao trong
dịp ông ta và một nữ sinh cùng lớp tiếp xúc
với ông Hồ ở thủ đô Paris của Pháp. Chỉ
nguyên lời ông Hồ nói với hai sinh viên trẻ
này rằng đừng gọi ông là chủ tịch mà hăy gọi
ông một cách thân mật là bác đă đủ khiến họ
cảm mến và muốn đi theo rồi. Trong cuốn tiểu
sử của giám mục Lê Hữu Từ nhan đề Giám
mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm, tác giả cũng
thuật lại rằng ông Hồ đă dùng tới tuyệt
chiêu của ông để cố chinh phục niềm tin của
nhà tu hành này:
Trong lúc chỉ có hai người trong
một bầu không khí thân mật cởi
mở, ông Hồ, theo lời của vị giám
mục nói lại với tác giả, đă ngỏ
lời xin giám mục rửa tội cho
ḿnh! Có điều vị giám mục không
bị lừa bởi con người khôn khéo
nhưng giả dối này.
Những Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn …
đă bị ông Hồ chiêu dụ dễ dàng. Thậm
chí cả Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải
Thần, Nguyễn Tường Tam cũng bị lừa
khi nghe lời đường mật của ông Hồ,
và lời khuyên – gần như cưỡng ép –
của các tướng Tầu Lư Hán, Tiêu Văn
để nhận lấy 70 ghế không được bầu
trong “quốc hội” (hoàn toàn biếu
không như một món quà hối lộ!) và
mấy chức phó chủ tịch, bộ trưởng …
cũng đă mắc mưu ông Hồ, nếu không
nói là bị quái chiêu “tuyên truyền”
của ông ta chinh phục.
Chỉ có ông Ngô Đ́nh Diệm không bị
lừa, không nghe ông ta mà nhận chức
bộ trưởng nội vụ và đă may mắn thoát
chết trong đường tơ kẽ tóc. Có người
cho rằng ông Hồ không để đàn em
“thịt” ông Diệm là nhằm mục đích
dùng hành động đó tuyên truyền lấy
ḷng cộng đồng công giáo lúc ấy,
hoặc ít nhất ông Hồ cũng nhận thức
được rằng giết ông Diệm lúc ấy sẽ
gây ác cảm với cộng đồng giáo dân là
một tập thể mà ông Hồ cho rằng không
thể thiếu trong cái mặt trận Việt
Minh “cứu quốc” giả dối của ḿnh.
Những người vốn có thiện cảm với ông
Hồ th́ cho rằng ông Hồ kính nể thân
phụ ông Diệm là Ngô Đ́nh Khả – người
đă sáng lập trường Quốc Học Huế mà
Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Vơ
Nguyên Giáp … đều là học sinh sau
này. Ông Ngô Đ́nh Khả là người duy
nhất trong triều lúc ấy đă can đảm
chống lại việc thực dân Pháp xử biệt
xứ vị vua yêu nước Thành Thái, rồi
sau nổi tiếng với câu “đầy vua không
Khả, đào mả không Bài”, truyền tụng
nơi cố đô, mà ông Hồ cũng biết và
chính ông ta đă viện dẫn câu đó để
giải thích với đàn em về việc ra
lệnh cho phóng thích ông Diệm. (3)
Ap dụng 5 chữ W (Who, What, When,
Where, Why) của Mỹ vào tuyên
truyền, cán bộ tuyên vận phải lựa
lời mà nói, tùy lúc, tùy nơi, tùy
người mà nói th́ mới đạt kết quả
mong muốn. Về điểm này cứ xét lư do
thay đổi chính sách và đối tượng
tuyên truyền tùy theo t́nh h́nh thế
giới và t́nh h́nh trong nước, tùy
theo sự thành bại của phong trào vận
động quần chúng trong nước th́ có
thể hiểu tuyên truyền mà không đúng
lúc cũng rất tai hại. Ví dụ khi mới
thành lập và thống nhất (1930) cán
bộ c̣n non nớt, hăng say nghe theo
đường lối của QT3 theo nghị quyết
đại hội kỳ 6, muốn sớm đưa cách mạng
cộng sản, cách mạng giai cấp đến
thắng lợi, họ bèn kêu gọi công nhân,
nông dân nổi dậy lập những tổ chức
giống như ở Nga, gọi là Xô Viết, mà
mạnh nhất là ở vùng Nghệ Tĩnh, nên
mới có cái gọi là phong trào Xô Viết
Nghệ Tĩnh với khẩu hiệu sắt máu
“Trí Phú Địa Hào, đào tận gốc, trốc
tận rễ.” Đó là khẩu hiệu rất
kêu, rất hấp dẫn đối với giới vô
sản, thành phần mà cộng sản cho là
ṇng cốt của cách mạng giai cấp.
Nhưng đợt ra quân đầu tiên này đă
chuốc lấy thảm bại. Nhiều cán bộ bị
bắt, bị giết, tổ chức tan tành v́
phát động không đúng lúc, chưa đến
lúc. Lư do thất bại là v́ không điều
nghiên kỹ về đối tượng. Dân chúng
Việt Nam lúc ấy chỉ muốn độc lập,
không muốn cách mạng cộng sản, không
muốn đấu tranh giai cấp. Hồ Chí Minh
đă rút kinh nghiệm. Ngay lập tức,
ông ta t́m cách len lỏi vào các tổ
chức cách mạng dân tộc ở Hoa Nam,
thề trước các cán bộ Trung Hoa Quốc
Dân Đảng rằng ḿnh không phải cộng
sản. Trong nước, các nhóm đệ tam
liên kết với đệ tứ, với các đoàn
thanh niên không cộng sản. Cộng sản
đưa ra một lời kêu gọi mới: mặt trận
chống đế quốc ra đời. Rồi mặt trận
thống nhất dân tộc, mặt trận Việt
Nam Độc Lập Đồng Minh (gọi tắt là
Việt Minh). Toàn là những tổ chức có
cái tên nhuộm màu sắc dân tộc. Nhưng
trên thực tế th́ mặt trận nào cũng
chỉ là cái vỏ bề ngoài trong khi cốt
lơi vẫn là các đảng viên cộng sản,
hoạt động theo đường lối của QT3,
thay đổi tùy theo sự thay đổi của
t́nh h́nh thế giới được phản ánh qua
các nghị quyết của các đại hội.
Chính sự thích nghi với hoàn cảnh,
chiều theo xu hướng và nguyện vọng
của nhân dân lúc ấy mà thay đổi đề
tài tuyên truyền đă đánh lừa được
nhiều ngựi cứ nh́n cái vỏ xanh bề
ngoài (chủ nghĩa dân tộc ngụy
trang) mà không biết đến cái
ḷng đỏ bên trong (chủ nghĩa quốc
tế vô sản tức cộng sản).
Để giữ cho cái vỏ xanh bên ngoài
khỏi trầy da tróc vẩy mà để lộ cái
ḷng đỏ bên trong, bộ máy tuyên
truyền cộng sản đă vận dụng mọi
phương tiện, huy động mọi thành phần
tổ chức, nam phụ lăo ấu, tập trung
họ vào những đoàn thể gọi là “cứu
quốc” nhồi nhét vào đầu họ rằng Việt
Minh là một phong trào, một mặt trận
yêu nuớc. Sách báo, tranh ảnh, bích
chương, truyền đơn, bươm bướm, khẩu
hiệu, biểu ngữ, và mọi loại tác phẩm
hội họa, âm nhạc, điêu khắc … được
sử dụng tối đa để làm cho nhân dân
tin vào đường lối của mặt trận.
Nhưng mặt trận chỉ là cái vỏ. Cái
cốt lơi là đảng cộng sản. Một đôi
khi, ở một nơi nào đó, trong một
lănh vực nào đó cái vỏ xanh bị vỡ,
ḷng đỏ bên trong ḷi ra, th́ lập
tức sửa sai, giải tán, tự phê …
Chung quy mọi biện pháp cần thiết đă
được thi thố để cố bảo vệ cái vỏ hầu
che giấu cái cốt lơi là cuộc cách
mạng vô sản không suy suyễn.
2. Khuấy động quần chúng
có mục đích đem đến cho đại chúng
hay nhiều tầng lớp nhân dân trong
cùng một lúc chỉ một hai ư đơn sơ
nhưng mănh liệt, khiến cả đám đông ồ
ạt đi theo chiều hướng, làm theo ư
muốn của người chủ xướng.
Những diễn văn ngắn, những bài
thuyết tŕnh cô đọng, ít dùng lư
luận, nhưng chứa nhiều lời hô hào,
kêu gọi làm phấn chấn ḷng dân,
những khẩu hiệu như ủng hộ, đả đảo,
vạn tuế, muôn năm … thường có tác
dụng khuấy động quần chúng. Nếu đưa
ra vào một lúc thích hợp, thời cơ
thuận lợi, t́nh h́nh đă chín mùi,
chúng có thể biến một đám đông ù lỳ
trở thành năng động, lôi cuốn họ dấn
thân vào những hành động nguy hiểm
như một ḍng thác, như một bầy thiêu
thân.
Khuấy động (hay vận động)
quần chúng thường được thực hiện,
dựa vào những định luật về tâm lư
quần chúng, có phần khác với tâm lư
cá nhân thông thường. Một vài ví dụ
sau đây có thể cho thấy sự khác biệt
đó.
Trong một rạp hát hay hội trường,
khi có một, hai người vỗ tay thật
lớn, th́ hầu như mọi người trong đó
liền vỗ tay theo, dù phần đông chẳng
hiểu họ tán thưởng cái ǵ.
Các nhà tâm lư đă làm cuộc thí
nghiệm như sau: trước một cử tọa
đông đảo, nhà tâm lư mở nút một
chiếc lọ rỗng không, trong đó chẳng
có bất cứ chất đặc, chất lỏng hay
chất hơi nào cả. Tuy nhiên, nhà tâm
lư bảo với cử tọa rằng trong lọ có
chứa một chất hơi với mùi tỏi nồng
nặc, rồi ông ta hỏi có ai ngửi thấy
mùi tỏi không. Kết quả có nhiều cái
đầu gật, gật, và những bàn tay giơ
lên.
Những ví dụ trên chứng minh thành
ngữ Pháp Mouton de Panurge
không phải chỉ có nghĩa đen về những
con cừu, mà c̣n đúng cả về nghĩa
bóng đối với một số người, nhất là
khi họ tập họp thành một đám đông
(quần chúng), ít c̣n, hay không c̣n,
sống với tri thức thông thường của
cá nhân ḿnh mà sống bằng một tâm lư
tập thể, tâm lư quần chúng.
|
 |
|
Hồ Chí
Minh: “đồng bào có nghe tôi
rơ không?”
Nguồn: marxists.org
|
Các nhà tuyên truyền chính trị, nói
chung các nhà chính trị, thích
“chơi” trên những “phím đàn” tâm lư
này. Khi ông Hồ hay ngắt quăng trong
những bài diễn văn ngắn, đơn sơ,
b́nh dị của ông bằng những câu hỏi
“đồng bào có nghe tôi rơ không?”
… hay giơ tay thề trước đám đông:
“Tôi thề không bán đứng tổ quốc,
đồng bào hăy tin tôi…” là lúc
ông ta tỏ ra khá điêu luyện về phím
đàn tâm lư quần chúng. Và cán bộ của
ông ta – đă được rèn luyện về khoa
tuyên truyền khuấy động – đứng trong
đám đông sẽ là những kẻ đáp lại câu
hỏi của ông ta trước tiên, hay cất
tiếng hoan hô trước tiên, khơi động
cho cả ngàn tiếng vang lên “Rơ”
(để trả lời câu hỏi), “Hồ chủ
tịch muôn năm” (để đáp lại câu
“đồng bào hăy tin tôi”)…
Trong cải cách ruộng đất tại miền
Bắc những năm 55-56, những khẩu hiệu
hô lớn của đám đông “đả đảo địa chủ
gian ác”, hay các điệp khúc ngắn do
nhi đồng, thiếu nhi hát trong làng
vừa hát vừa đánh trống cơm: “Cắt đứt
là cắt đứt, Dứt khoát là dứt khoát,
Không vương vấn giai cấp địa chủ” đă
có tác dụng làm khiếp đảm những nông
dân “có máu mặt” và khơi lên trong
toàn bộ nông thôn một làn sóng đấu
tranh ngút trời với ḷng hận thù
giai cấp ngùn ngụt.(4)
H́nh ảnh những nông dân có dăm ba
mẫu ta ruộng bị quy là địa chủ qùy
gối trước ṭa án nhân dân gồm những
bần cố nông vô học chỉ biết làm theo
lệnh của đội trưởng cải cách, hay bị
đứng như trời trồng dưới hố sâu hàng
giờ để nghe xỉ vả lăng nhục trong
bầu không khí cuồng loạn của đấu
tranh giai cấp cho ta thấy tác dụng
xuất qủy nhập thần của “khuấy động
quần chúng” của cộng sản.
Tại sao chúng tôi chỉ toàn trưng dẫn
những hành động của cộng sản để minh
họa cho lập luận về tuyên truyền và
khuấy động quần chúng?
Bởi v́ như đă tŕnh bày ngay ở đầu,
đây là ngón sở trường của phe cộng
nói chung và của Việt Cộng nói riêng.
Và phải thú thực, chúng ta đă thua
v́ kém địch thủ về tuyên truyền.
Tuyên truyền của cộng sản đă biến ít
thành nhiều, biến bại thành thắng,
trắng thành đen, ngụy nghĩa thành
chính nghĩa. Những người “quốc gia”
nạn nhân của cộng sản thường nguyền
rủa ông Hồ Chí Minh. Những cựu cán
bộ cộng sản hay những người v́ lầm
lẫn từng đi theo mặt trận Việt Minh
trong một thời gian dài cũng nói ông
Hồ là xấu. Thậm chí có người gọi ông
ta là Ma Đầu (như Hoàng Quốc Kỳ), là
Qủy Chúa (như Nguyễn Chí Thiện), Qủy
Vương (như Vũ Thư Hiên, gián tiếp
qua lời một người bạn của ông là
tiểu đoàn trưởng Đích). Thế mà nhờ
tuyên truyền, ngày nay HCM vẫn được
tôn sùng. Không phải chỉ có Vơ
Nguyên Giáp viết trên Tạp Chí
Cộng Sản số 24, tháng 12, 1999
rằng “Làm theo lời HCM th́ thắng
lợi, làm sai tư tưởng HCM th́ thất
bại; thế giới đổi thay, nhưng tư
tưởng HCM sống măi …” Không
thiếu những nhà văn, nhà báo, sử gia
tên tuổi trên thế giới, kể cả các
tác giả soạn tự điển bách khoa của
Mỹ, của Anh … măi đến tận năm 2000
vẫn ca tụng HCM hết lời.
(C̣n tiếp)
© DCVOnline
(1) Cách nay 11 năm, tại Mỹ,
những cuộc thí nghiệm suốt gần 20
năm của bác sĩ Dorsey cũng đi đến
kết luận rằng lời cầu nguyện có ảnh
hưởng đến cách chữa bệnh, nhất là
bệnh tim, đă làm dư luận trong giới
khoa học gia Mỹ xôn xao.
(2) VẸM là viết tắt của 2 chữ
Việt Minh, do cộng sản hoàn toàn chi
phối. Việt Minh, chỉ mặt trận Việt
Minh, là viết tắt của 7 tiếng “Việt
Nam Độc Lập Đồng Minh Hội” ban đầu
do ông Hồ Học Lăm làm chủ nhiệm, gồm
có nhiều đảng phái quốc gia và cả
một số đảng viên cộng sản, trong đó
có HCM hoạt động ở Hoa Nam trong
thập niên 20 và 30; về sau Hồ Chí
Minh dùng mánh lới và tuyên truyền
dối trá dần dần thao túng Hội này,
trừ khử những thành phần quốc gia
chống cộng, để cuối cùng hoàn toàn
điều khiển nó, biến nó thành cái gọi
là mặt trận Việt Minh.
(3) Xem Đêm Giữa Ban Ngày của
Vũ Thư Hiên, Paris, 1988, trang
226-227
(4) Xem Những Thiên Đường Mù
của Dương Thu Hương.
|
|
|
|