|

Nguyên nhân và hậu quả của Hiệp định Geneva 1954
--------------------------------------------------------------------------------
Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp Định Genève về Việt Nam đă được kư kết.
Vĩ tuyến 17 đă là ranh giới chia đôi hai miền đất nước. Gần một triệu
người miền Bắc đă rời bỏ quê hương di cư vào Nam. "Chấm dứt một cuộc
chiến tranh bằng biện pháp chia đôi lănh thổ sẽ dẫn đến một cuộc chiến
tranh khác...". Phái đoàn Quốc Gia Việt Nam và Hoa Kỳ đă không kư tên
vào bản Hiệp Định Genève chia đôi đất nước. Một nửa thế kỷ đă trôi qua,
nhưng dân tộc Việt Nam không thể nào quên được cái ngày đau thương khi
giang san một giải đă bị chia cắt bởi dă tâm của thực dân và cộng sản.
Không có tham vọng viết sử, tiểu luận này chỉ nhằm nhắc lại những biến
cố, những hậu quả của việc chia đôi đất nuớc hầu đáp ứng phần nào nhu
cầu t́m hiểu về một quá khứ gây nhiều ẩn ức của các thế hệ trẻ ngày nay.
Tiến bộ khoa học cộng với thời gian đủ dài để ta có thể phóng tầm nh́n
t́m về hoàn cảnh Việt Nam sau Thế Chiến Thứ Hai, về cuộc Chiến Tranh
Đông Dương (1946-1954) với trận đánh Điện Biên Phủ, về Hội Nghị Genève
và bản Hiệp Định đ́nh chiến ngày 20/07/1954, về cuộc Di Cư vĩ đại của
đồng bào miền Bắc vào Nam, về những vết thương hằn sâu trên da thịt dân
tộc Việt Nam gây ra bởi gịng sông Bến Hải...
Việt Nam sau Đệ nhị thế chiến
Thực dân Pháp đă có mưu đồ xâm lược nước ta từ cuối thế kỷ thứ 18 khi
Gia Long đưa Hoàng Tử Cảnh sang Pháp làm con tin để cầu viện giúp ḿnh
đánh nhà Tây Sơn. Mưu đồ này đă được thực hiện bằng đường lối ngoại giao
và nhất là quân sự. Chúng sử dụng chiến thuyền bắn phá cửa biển Đà Nẵng
(1847), chiếm hết 6 tỉnh Nam Kỳ (1859-1867) rồi đánh ra miền Bắc. Ḥa
ước năm Giáp Thân (1884) hay c̣n gọi là ḥa ước Patenôtre đă biến Việt
Nam thành thuộc địa của Pháp. Từ đó, Pháp đă coi Việt Nam, gồm cả 3 kỳ
và hai nước láng giềng là Ai Lao và Cao Miên là Đông Dương thuộc Pháp (Indochine
Française). Nước ta hoàn toàn mất độc lập chủ quyền. Triều đ́nh chỉ làm
v́, mọi việc hành chánh, kinh tế, ngoại giao đều do người Pháp làm chủ.
Từ khi thực dân Pháp khởi sự đánh chiếm nước ta và suốt trong thời kỳ
đất nước mất vào tay người Pháp, nhân dân ta luôn luôn t́m cách khởi
nghĩa kháng Pháp. Từ vua quan trong triều đến dân dă khắp nơi, những anh
hùng dân tộc như Vua Duy Tân, vua Thành Thái, như Trương Công Định, Phan
Đ́nh Phùng, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Hoa Thám, Thủ Khoa Huân, Nguyễn
Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều vv... đă tổ chức những cuộc
khởi nghĩa vơ trang đánh đuổi thực dân. Những nhà ái quốc như Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học và bao nhiêu người
khác đă nổi lên đấu tranh giành độc lập. T́nh thế chỉ tạm yên vào khoảng
năm 1935.
Từ năm 1933, t́nh h́nh thế giới sau Đệ nhất thế chiến (1914-1918), hai
cường quốc Âu Châu là Pháp và Anh tỏ vẻ mệt mỏi, nhất là Pháp c̣n lúng
túng về chính trị trong các công cuộc xây dựng lại. Lúc đó, Hitler (Đức),
Mussolini (Ư) và Nhật Bản đă kư thỏa ước 3 bên (25/11/1933) lập thành
lực lượng "Trục". Bắt chước Hitler vẫn coi Áo và Ba Lan thuộc Đức,
Mussolini coi Ethiopia và Libya thuộc Ư, quân đội Nhật đă tiến chiếm Măn
Châu vào ngày 7/7/1937.
Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nh́ đă chính thức bắt đầu vào ngày
1/9/1939 tại Âu Châu. Từ Tiệp Khắc, quân đội Đức Quốc Xă của Hitler đă
xua quân vào Ba Lan trước hết rồi đồng loạt tấn công các nước các nước
trên chiến trường phía Đông nước Đức. Đến năm 1940, Hitler mở mặt trận
phía tây. Quân đội Đức nhảy dù xuống Ḥa Lan và Bỉ (10/05/1940), đồng
thời dội bom xuống các thành phố phía Bắc nước Pháp giáp giới với Bỉ.
Sau 18 ngày đêm cầm cự, vua Léopold của Bỉ đă phải đầu hàng vào ngày
28/05/40. Thanh toán được Bỉ, quân Đức tiến xuống phía Nam và đánh vào
nước Pháp. Paris bị dội bom. Trong lúc Mussolini tuyên chiến với Pháp.
Pháp bị lưỡng đầu thọ địch. Chính phủ Pháp lúc đó do thống tướng Pétain
cầm đầu đă tuyên bố ngưng bắn vào lúc nửa đêm ngày 17/06/40. Nước Pháp
đă lọt vào tay của Đức. Chính phủ Pétain rút về đóng tại Vichy và có
chính sách cộng tác với kẻ xâm lược. De Gaulle bay sang Anh và hô hào
kháng chiến, kêu gọi người Pháp vượt biển qua Anh gia nhập "Lực Lượng
Pháp Tự Do", chiến đấu bên cạnh quân đội Đồng Minh.
Tại Đông Dương, chính quyền bảo hộ nh́n thấy thế lực của Nhật đang tiến
đánh Trung Hoa (1937), nên đă phục ṭng chính phủ Vichy ở mẫu quốc. Với
đường lối này, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương trở nên đồng minh
của lực lượng "Trục". Sau khi tiến chiếm Hà Nội vào năm 1939 và sau khi
Pháp đầu hàng Đức, quân đội Nhật vẫn để chính quyền thực dân tiếp tục
cai trị và phải có nghĩa vụ hậu cần cho quân đội Thiên Hoàng. T́nh trạng
này tiếp tục cho đến năm 1945.
Sau khi quân đội Đồng Minh đổ bộ lên bờ biển Normandie và giải phóng
nước Pháp, chính phủ Vichy bị lật đổ và bị bắt, De Gaulle lên nắm chính
quyền. Chính quyền thực dân tại Đông Dương quay lại thần phục De Gaulle
và v́ vậy đă ở thế thù nghịch với quân đội Nhật đang bị thua trận trên
chiến trương Thái B́nh Dương. Ngày 9/3/45 người Nhật trao tối hậu thư
cho toàn quyền Pháp, Decoux, yêu cầu đặt toàn bộ quân đội Pháp tại Đông
Dương dưới quyền chỉ huy và điều động của Nhật. Decoux từ chối và đă bị
bắt ngay, không kịp ra lệnh cho lực lượng Pháp dưới quyền. Quân đội Nhật
bất thần tấn công các doanh trại và cơ sở của chính quyền thuộc địa. Chỉ
trong một đêm họ đă thanh toán xong toàn bộ cứ điểm của Pháp, bắt giam
tất cả các quan chức Pháp. Sử gia Phan Khoang đă viết : "Sáng ngày
10/3/45 cờ Nhật phất phới từ Nam Quan đến Cà Mâu. Ngày ấy Đại Sứ
Yokohama yết kiến vua Bảo Đại ở Điện Kiến Trung, tuyên bố trao trả độc
lập cho nước Việt Nam". Bảo Đại, sau đó đă tuyên bố hủy bỏ tất cả những
hiệp ước kư kết với Pháp trước đó và mời nhà trí thức Trần Trọng Kim ra
thành lập chính phủ. Tuy "thoát khỏi" ách nô lệ của Pháp, nhưng chính
phủ này vẫn phải đi theo đường lối thân Nhật và quân đội Nhật vẫn chiếm
đóng trên đất nước ta.
Sự cai trị của Pháp coi như bị gián đoạn. Trong lúc đó đảng Cộng Sản
Đông Dương và các đảng phái quốc gia hoạt động ráo riết để giành độc
lập. Mặt Trận Việt Minh do cộng sản thành lập đă chiếm ưu thế nên khi
Nhật đầu hàng vào tháng 8/45, trong khoảng trống chính trị lúc đó, họ đă
huy động được quần chúng Việt Nam nổi lên cướp chính quyền ngày 19/8/45.
Hồ Chí Minh đă đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/45 tại Hà Nội, khai sinh
ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa. Trong buổi lễ Hồ Chí Minh đă tuyên
đọc mấy lời thề mà lời thề đầu là "Cương quyết không thương thuyết với
Pháp". Tuy nhiên, t́nh thế phức tạp lúc đó ở nước ta với sự hiện diện
của quân đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch tới tước khí
giới quân đội Nhật đă gây bất ổn cho Hồ Chí Minh và đảng cộng sản. Việt
Minh rất mong quân đội Trung Hoa sớm rút khỏi Việt Nam. Đồng thời, tham
vọng lấy lại thuộc địa của thực dân Pháp cũng khiến họ thương thuyết với
Trung Hoa để quân đội của họ có thể thay thế quân đội Trung Hoa ở Việt
Nam. Hồ Chí Minh đă thà phản bội lời thề, thương thuyết với Pháp c̣n hơn
bị hại bởi Quốc Dân Đảng Trung Hoa và Việt Nam. V́ thế ông ta đă kư với
Sainteny Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 chấp nhận Việt Nam là một nước tự do
trong Liên Hiệp Pháp và để quân đội Pháp tiến vào miền Bắc. Tướng
Leclerc của Pháp đă dẫn đoàn quân hơn 10.000 bộ binh và trên 100 chiến
xa đổ bộ tại Hải Pḥng. Cũng nên nhắc là theo tinh thần Hiệp Định Sơ Bộ
6/3/46 quân đội Pháp với 15.000 quân hợp tác với 10.000 quân Việt Nam
(Việt Minh) để giữ an ninh trên lănh thổ miền Bắc. Việt Minh có sự cam
kết của Pháp là sẽ không can thiệp vào những vụ xung đột giữa Việt Minh
và các đảng phái quốc gia, nên đă rảnh tay tấn công vào trụ sở Việt Nam
Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) tại Hà Nội và các chiến khu của VNQDĐ tại các tỉnh
ở miền Bắc.
Nhưng ư đồ giành lại thuộc địa của Pháp rất là mạnh mẽ trong giới cầm
quyền ở Pháp, đặc biệt là De Gaulle. Quân đội Pháp đă mang quân tiến
chiếm tất cả những công thự và cơ quan của Pháp trước kia. Thái độ khiêu
khích ngày càng gia tăng và cuộc chiến đă bùng nổ ở nhiều thành phố, đặc
biệt là Hải Pḥng, Bắc Ninh. Ngày 19/12/1946, Hồ Chí Minh đă kêu gọi
toàn quốc kháng chiến. Những năm đầu, Việt Minh rất yếu thế : vừa đánh
vừa xây dựng lực lượng. Chiến thuật họ thường dùng là chiến tranh du
kích mà họ học được của Mao Trạch Đông với phương châm "tứ khoái, nhất
măn". Về chiến lược, họ chủ trương trường kỳ kháng chiến, tiêu hao địch.
Hậu cần họ lấy tại chỗ, trong nhân dân. V́ vậy quân đội viễn chinh của
Pháp phải ngày đêm đi càn quét, đi lùng địch mà không phát hiện. Về vũ
khí, Việt Minh chủ yếu chỉ có súng nhẹ. Vũ khí cộng đồng thường là đại
liên, trung liên, súng cối 60 ly, súng cối 81 ly. Chủ yếu, lúc đầu là
những vũ khí cũ của Pháp, Mỹ, Anh, Nhật để lại sau Đệ Nhị Thế Chiến.
Nhiều nơi c̣n dùng gậy gộc, giáo mác, tầm vông vạc nhọn. Họ có lập ra
một vài "công binh xưởng" để chế tạo lựu đạn nội hóa, bom ba càng và một
số ḿn bẫy. Từ năm 1950, tức là sau khi Mao Trạch Đông chiếm được toàn
bộ Trung Quốc, hỏa lực và quân số của Việt Minh mới phát triển. Họ đă
thành lập được những đơn vị cấp trung đoàn rồi "đại đoàn" (tương đương
sư đoàn hiện nay). Súng ống họ đă có pḥng không, đại bác không dật
(DKZ) và pháo binh gồm 105 và sơn pháo 75 ly. Vũ khí và quân trang, quân
dụng đă do đàn anh Trung Cộng tiếp tế qua biên giới phí bắc. Những năm
cuối của trận đánh, Việt Minh đă phản công và quân chính quy chấp nhận
trận địa chiến với Pháp, trong lúc, quân địa phương và dân quân, tự vệ
của họ tiếp tục đánh du kích. Kết quả là hệ thống đồn bót của quân đội
Pháp bị cô lập.
Nhận thấy tự ḿnh tiến hành một cuộc chiến tranh vũ trang không kham
nổi, Pháp đă phải nhờ tới ông Bảo Đại. Họ cam kết công nhận nền độc lập
của Việt Nam không cộng sản do Bảo Đại làm quốc trưởng của "Quốc Gia
Việt Nam". Những người không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản, những người
từng là nạn nhân của cộng sản vô thần đă lần lượt quy thuận Quốc Gia
Việt Nam. Quân Đội Việt Nam được h́nh thành và chiến đấu bên cạnh quân
đội Pháp.
Cuộc chiến kéo dài đến tháng 7/1954. Sự tính toán chủ quan, sai lầm của
tướng lănh Pháp đă dẫn đến việc dồn quân vào thung lũng Điện Biên Phủ,
xa mọi hậu cứ tiếp vận, tạo cơ hội cho Việt Minh tổ chức trận địa tiến
hành một trận đánh lớn dẫn đến sự thất thủ của tập đoàn căn cứ Điện Biên
Phủ, quân Pháp đầu hàng lúc17 giờ 30 chiều ngày 5/5/1954. Hội nghị
Genève về Việt Nam khai mạc ngay ngày hôm sau khi Điện Biên Phủ thất
thủ.
Hội nghị và Hiệp định Genève
Trong suốt gần 9 năm chiến tranh Đông Dương, t́nh h́nh chính trị ở nước
Pháp rất rối ren. Năm 1946 nền Đệ Tứ Cộng Ḥa Pháp ra đời với tổng thống
Vincent Auriol. Dưới nhiệm kỳ của ông, vừa phải lo chỉnh đốn nền chính
trị, hành chánh, kinh tế, xây dựng lại nước Pháp sau chiến tranh, vừa
tiến hành một cuộc chiến tranh thu hồi thuộc địa ở Đông Dương cách mẫu
quốc hàng chục ngàn cây số. Chính khách Pháp lo tranh giành địa vị. Chỉ
trong 9 năm đó đă có 2 đời tổng thống và 17 lần thay đổi chính phủ. Có
nhiều chính phủ lên chưa được mấy ngày đă bị lật đổ... Nắm được yếu tố
này nên Hồ Chí Minh với sự hỗ trợ của Liên Xô và Trung Cộng đă nắm chắc
phần thắng trong tay. Nói cách khác, đây là một trong những yếu tố khiến
Pháp bại trận thê thảm ở Đông Dương. Thật sự, người ta đă bỏ rơi những
người lính của Pháp đang thi hành nhiệm vụ trên chiến trường Đông Dương.
Trong lúc Điện Biên Phủ thất thủ th́ cũng là lúc chính phủ Laniel sụp đổ
và người lên thay thế vào ngày 17/6/54 là Mendès France. Ông có một lời
hứa "Nếu trong 4 tuần lễ, vào ngày 20/7 tới đây, tôi không đạt được một
cuộc ngưng bắn tại Đông Dương, tôi sẽ từ chức". Thực t́nh, nếu ông không
thành công mà có từ chức th́ cũng như 16 ông "chủ tịch hội đồng bộ
trưởng" (thủ tướng) tiền nhiệm của ông thôi. Nhưng ư chí quyết liệt thực
hiện lời hứa của ông bằng bất cứ giá nào kể cả hy sinh số phận hàng
triệu con người th́ ngoại trừ đảng viên cộng sản hay xă hội, khó ai làm
nổi. Ông thuộc đảng Xă Hội Pháp.
Sau Đệ nhị thế chiến, thế giới, đặc biệt là Á Châu đă là sân khấu của
một cuộc chiến tranh khác. Đó là cuộc chiến tranh ư thức hệ giữa chủ
nghĩa cộng sản bành trướng do Liên Xô và Trung Cộng thống lănh và khối
các nước dân chủ Tây Phương, đứng đầu là Hoa Kỳ. H́nh thức cuộc chiến
tranh lạnh là "chiến tranh ủy nhiệm". Các cường quốc lănh đạo không trực
tiếp đụng độ với nhau, nhưng khơi mào, nuôi dưỡng các cuộc chiến tranh ở
những quốc gia nhỏ bé. Cuộc chiến tranh mà cộng sản gọi là "chiến tranh
giải phóng" trên chủ trương, phong trào "giải phóng dân tộc" thực chất
là chiến tranh bành trướng chủ nghĩa cộng sản. Cuộc chiến tranh tại Việt
Nam bùng nổ từ cuối năm 1946 và cuộc chiến tranh Triều Tiên khởi sự vào
ngày 25/6/1950. Cả 2 cuộc chiến đều khốc liệt, đều là gánh nặng cho các
quốc gia tham chiến. Nhưng thực sự th́ khối "thế giới tự do" sốt ruột
nhiều hơn với cuộc chiến tranh Triều Tiên v́ có nhiều quốc gia Tây
Phương tham dự. Sức ép nội bộ của từng quốc gia khiến họ cần phải có một
cuộc đàm phán để chấm dứt sự tham chiến của họ. Họ cũng chẳng tha thiết
ǵ đến vấn đề chiến tranh Đông Dương v́ chỉ có Pháp liên quan và v́ thế
Pháp đă t́m đủ cách để đưa vấn đề Việt Nam vào cuộc đàm phán mà họ rất
cần. Họ thực sự hết lực theo đuổi và muốn rút ra trong danh dự. V́ thế
trong Hội Nghị tứ cường (Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Liên Xô) ngày 25/1/1954 tại
Bá Linh, Pháp đă t́m mọi cách thuyết phục các nước kia đưa vào nghị
tŕnh vấn đề "chấm dứt chiến tranh, tái lập ḥa b́nh tại Đông Dương".
Hội Nghị Genève khai mạc vào ngày 26/4/1954 với sự tham dự của đại biểu
19 quốc gia để bàn về chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Đông Dương.
Một ngày bàn về Triều Tiên, một ngày bàn về Việt Nam. Có các phái đoàn
cường quốc đứng đầu 2 phe : Phe cộng sản có Liên Xô do Molotov làm
trưởng đoàn, Trung Cộng do Chu Ân Lai hướng dẫn. Phe thế giới tự do có
Hoa Kỳ với ngoại trưởng John Foster Dulles, Anh Quốc với Anthony Eden và
Pháp với Georges Bidault. Các nước liên hệ có phái đoàn Quốc Gia Việt
Nam, Việt Minh, Lào, Cao Miên, Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên. Sau
đây, chỉ nói về các cuộc đàm phán về vấn đề Việt Nam mà thôi.
Hội nghị Genève về Việt Nam chính thức được đẩy mạnh ngay sau khi Điện
Biên Phủ thất thủ và đă khai mạc vào ngày 8/5/1954.
Phái đoàn Quốc Gia Việt Nam gồm có các ông : Nguyễn Quốc Định, ngoại
trưởng (chính phủ Bửu Lộc) là trưởng đoàn, Nguyễn Khắc Khê, Trần Văn
Tuyên, Trương Văn Ch́nh, Bửu Kính, Đoàn Thuận. Đến ngày 10/5, phó thủ
tướng Nguyễn Trung Vinh được cử làm trưởng đoàn và tăng cường thêm ông
Nguyễn Duy Thanh.
Phái đoàn Việt Minh có Phạm Văn Đồng là trưởng đoàn và các ông Phan Anh,
Trần Công Tường, Hoàng Văn Hoan, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Thanh Hà, Hà Văn
Lâu, Nguyễn Thanh Sơn, Đặng Tính, Trần Lâm, Hoàng Nguyên, Trần Thanh, Lê
Văn Chánh.
Phái đoàn Pháp có ngoại trưởng Bidault. Phái đoàn Anh, có ngoại trưởng
Eden. Phái đoàn Mỹ có thứ trưởng ngoại giao Bedell Smith. Phái đoàn Liên
Xô có Molotov. Phái đoàn Trung Cộng có Chu Ân Lai. Phái đoàn Lào có
Phumi Sananikone. Phái đoàn Cao Miên có Tep Than.
Lúc đầu, nghị tŕnh họp cách ngày và họp công khai, có báo chí tham dự.
Mỗi bên lên đọc quan điểm của ḿnh. Sau 4 phiên họp như vậy, tại phiên
họp ngày 14/5, Molotov đă thông báo kể từ kỳ họp tới là ngày 17/5 các
phiên họp sẽ không công khai và được thu hẹp lại : mỗi phe chỉ có 3 đại
biểu. Tại phiên họp ngày 26/5, Pháp và Việt Minh thỏa thuận về ngưng bắn
và rút quân về các khu vực ấn định. Việt Minh đề nghị chia đôi lănh thổ
Việt Nam, Pháp rút về phía Nam, Việt Minh rút về phía Bắc. Hội nghị cũng
lập ra một tiểu ban quân sự để bàn cụ thể về ngưng bắn và rút quân.
Phía Việt Minh có Tạ Quang Bửu thứ trưởng quốc pḥng, Đại tá Hà Văn Lâu
và Hoàng Nguyên, thông dịch viên.
Phía Pháp Việt có Tướng Delteil, Đại tá Brébisson..., Đại tá Lê Văn Kim,
LS. Trần Văn Tuyên, Đại tá Trần Văn Minh và LS. Bửu Kính. Phiên họp đầu
tiên của tiểu ban này diễn ra ngày 2/6. Trên địa thế, đă có những cuộc
gặp gỡ, đàm phán về quân sự giữa hai phái đoàn quân sự Việt Minh và Pháp
Việt tại Trung Giá.
Trong suốt tiến tŕnh Hội Nghị, Việt Minh luôn đ̣i chia đôi lănh thổ.
Thoạt đầu, với chiến thắng Điện Biên, họ đ̣i chia đôi ở vĩ tuyến 13.
Phía Pháp đ̣i vĩ tuyến 18. Phái đoàn Quốc Gia Việt Nam từ đầu luôn chống
lại biện pháp chia đôi đất nước. Dưới sức ép của Liên Xô và Trung Cộng,
Việt Minh từ bỏ đ̣i hỏi vĩ tuyến 13 và chấp thuận vĩ tuyến 17. Trưởng
phái đoàn Quốc Gia Việt Nam, ông Nguyễn Quốc Định đă tuyên bố ngay :
"Tôi để cho phái đoàn Việt Minh trách nhiệm đối với lịch sử... Chia đôi,
nghĩa là sớm muộn cũng lại có chiến tranh".
Trong lúc đang diễn ra Hội Nghị Genève th́ tại Việt Nam, Bảo Đại đă mời
Ngô Đ́nh Diệm làm thủ tướng. Ngày 7/7/54, ông Diệm thành lập chính phủ
và BS. Trần Văn Đỗ làm Bộ Trưởng ngoại giao thay thế Nguyễn Quốc Định.
Ông cũng thay ông Định làm trưởng phái đoàn Việt Nam tại Genève. Ông Đỗ
khi biết Việt Nam sẽ bị chia đôi, đă đứng lên phản đối, giọng nghẹn ngào
v́ xúc động trong bầu không khí im phăng phắc của cả Hội Nghị. Biến cố
này được nhà báo Pháp Jean Lacouture và LS. Trần Văn Tuyên viết lại.
Nội dung hiệp định Genève về Việt Nam
Hiệp Định Genève về Việt Nam đă được chính thức kư kết vào lúc 3 giờ 50
phút sáng ngày 21/7/1954. Nhưng trên tường, theo đề nghị của Mendès
France, đồng hồ vẫn chỉ 12 giờ khuya ngày 20/7 để hắn có thể giữ được
lời hứa. Một sự gian lận lịch sử. Một mối nhục cho nước Pháp ngay trong
một Hội Nghị quốc tế, tại một quốc gia ngoài lănh thổ Pháp.
Nội dung Hiệp Định có 47 điều và một phụ lục và được tóm tắt như sau :
Lệnh ngưng bắn có hiệu lực từ ngày 22/7/54 vào lúc 0 giờ, giờ Genève,
tức 7 giờ sáng giờ Sài G̣n. Tuy nhiên thời điểm ngưng bắn cụ thể được ấn
định tại Bắc Việt lúc 8 giờ sáng ngày 27/7; tại Trung Việt lúc 8 giờ
sáng ngày 1/8; và tại Nam Việt lúc 8 giờ sáng ngày 11/8.
Lằn ranh giới tuyến chia đôi Việt Nam là vĩ tuyến thứ 17 Bắc. Cụ thể
trên địa thế là từ cửa sông Bến Hải, theo gịng sông đến làng Bồ Hô Su
và biên giới Việt-Lào. Hai bên bờ sông, một vùng phi quân sự rộng 5 km
là trái độn giữa 2 vùng. Theo Hiệp Định, lằn ranh này chỉ tạm thời và sẽ
có cuộc tổng tuyển cử để thống nhất 2 miền vào tháng 7/1956 (thời điểm
này chính Pháp đă đơn điệu ấn định không có sự đồng ư của Quốc Gia Việt
Nam). Trong thời gian chờ tổng tuyển cử, mỗi bên có quyền quản trị hành
chánh ở khu vực của ḿnh.
Cấm phá hủy cơ sở trước khi rút quân; cấm trả thù hoặc ngược đăi những
người đă cộng tác với đối phương khi trước; cấm đưa thêm quân đội, vũ
khí hoặc lập căn cứ quân sự ở vùng đối phương. Việc giám sát đ́nh chiến
được giao cho một Ủy Hội quốc tế gồm Gia Nă Đại, Ba Lan và Ấn Độ. Lúc
đầu Việt Minh từ chối và đ̣i chỉ có Việt Minh và Pháp mà thôi.
Trong ṿng 300 ngày dân chúng 2 miền có quyền di chuyển từ vùng này sang
vùng khác không bị hạn chế, không bị ngăn cản.
Việt Minh và các trưởng đoàn đại biểu đă kư vào bản Hiệp Định và bản
thông cáo chung ngoại trừ phái đoàn Quốc Gia Việt Nam không kư. Phái
đoàn Hoa Kỳ cũng không kư.
Cuộc di cư vĩ đại
Tin tức về việc chia đôi đất nước đă là một cú ỀsốcỂ mạnh đối với dân Hà
Nội nói riêng và dân chúng toàn miền Bắc nói chung. Thực ra, đối với
đồng bào miền Nam và đồng bào cả nuớc chia đôi đất nước là một mối đau
của dân tộc. Xưa kia Trịnh Nguyễn phân tranh, lấy sông Gianh làm biên
giới đă khiến cho người đời nguyền rủa cho đến ngày nay. Phái đoàn Quốc
Gia, ngay sáng ngày 21/7 đă ra một bản tuyên ngôn mang chữ kư của Trưởng
phái đoàn, Bs. Trần Văn Đỗ : "long trọng phản đối việc kư kết hấp tấp
thỏa hiệp ngưng chiến do hai cơ quan Tư Lệnh Tối Cao Pháp và Việt Minh
mà thôi" và "yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam
long trọng phản đối cách kư kết Hiệp Định cùng những điều khoản không
tôn trọng nguyện vọng sâu xa của nhân dân Việt Nam".
Đối với một số dân chúng miền Bắc, không có chuyện ở lại với Việt Minh
v́ họ đă chống Việt Minh cộng sản hoặc đă làm việc trong bộ máy hành
chính của quốc gia tại Hà Nội và các tỉnh lớn. Chính sách trả thù và
những h́nh ảnh đấu tố dă man trong cải cách ruộng đất của Việt Minh đă
làm cho họ lo sợ thêm. Bỏ lại tất cả sản nghiệp để di cư vào Nam, dù là
chỉ trong vài năm đă là điều trước đây không bao giờ họ nghĩ tới. Nhưng,
do Hiệp Định kư kết bởi thực dân và Việt Minh cộng sản, hôm nay, họ chỉ
c̣n 300 ngày để quyết định, để chuẩn bị, để gom góp của cải và bỏ xứ lên
đường vào Nam ! Dư luận rất xôn xao. Những người thức thời đă nhanh chân
lên đường ngay những tháng sau đó.
Nh́n thấy xu hướng có hàng triệu người sẽ bỏ miền Bắc vào Nam, chính phủ
Ngô Đ́nh Diệm đă phải có đối sách khẩn cấp bằng cách ban hành Nghị Định
số 111.TTP/VP, thành lập một Tổng Ủy Di Cư. Cơ quan này đầu tiên được
giao cho bộ trưởng Nguyễn Văn Thoại làm tổng ủy trưởng và ông Đinh Quang
Chiêu làm phụ tá. Ngày 21/8 ông Ngô Ngọc Đối được cử thay thế ông Nguyễn
Văn Thoại và đến ngày 4/12 Bs thú y Phạm Văn Huyến được cử thay thế ông
Ngô Ngọc Đối.
Cầu không vận do không quân Pháp thiết lập từ ngày 10/8/54 với mỗi ngày
khoảng 70 chiếc vận tải cơ Dakota để chuyển vận đồng bào di cư vào Nam.
Tại Tân Sơn Nhất, Bộ Xă Hội đón tiếp đồng bào và di chuyển về các trại
định cư. Mỗi ngày, vài ngàn đồng bào ở các tỉnh miền Bắc kéo nhau về Hà
Nội để được chuyển vận vào Nam. Một số rất đông đă được di chuyển xuống
Hải Pḥng để được các chiến hạm của Pháp chở bằng đường biển. Với nhịp
độ như vậy, trong 10 tháng ngắn ngủi (300 ngày) đă có trên 860.000 người
miền Bắc bỏ xứ di cư vào Nam. Những đồng bào di cư gồm những thành phần
nào ? Họ gồm các công chức, một số các nhà trí thức đi theo trường ḿnh
dạy, thành viên các đảng phái quốc gia, các nhà tư bản, doanh thương và
đại đa số đồng bào Công Giáo. Trên con số 860.000 đồng bào di cư th́ có
đến 650.000 người Công Giáo. Trước Hiệp Định, miền Bắc có gần 1,1 triệu
người Công Giáo, nay chỉ c̣n lại 300.000 người. Hàng giáo phẩm đă có
1.127 vị theo tín đồ di cư, c̣n lại khoảng 300 người gồm những vị già
cả, bệnh tật, không đi nổi. Con số đồng bào di cư c̣n có thể cao hơn nữa
nếu c̣n thời gian và nếu Việt Minh không ra sức ngăn cản. Nhiều người ở
xa Hà Nội và Hải Pḥng đă không thể đi được. Việt Minh đă đàn áp dă man
những người hô hào, tổ chức đưa đồng bào di cư. Nhiều người đă bị bắt,
bị thủ tiêu. Nhất là những đồng bào ở vùng Nghệ Tĩnh (Quỳnh Lưu). Sau
khi hết hạn 300 ngày, nhiều người c̣n tiếp tục vượt biên bằng thuyền bè
và đă bị Việt Minh cho thuyền vơ trang đuổi theo bắn bỏ. Một số người
t́m cách vượt sông Bến Hải cũng bị chúng dùng tên độc bắn trong lúc đang
bơi chưa tới bờ phía Nam. Họ dùng tên độc v́ trong vùng phi quân sự
không được nổ súng. Chưa có ai nghiên cứu để làm bản thống kê những
người chết trên đường đi t́m tự do hồi năm 1954.
Đồng bào đă được tạm định cư trong các trại xung quanh Sài G̣n trước khi
được đưa đi định cư vĩnh viễn ở các vùng Biên Ḥa, Bà Rịa, Vũng Tàu, Ban
Mê Thuột, Diling, Blao, Liêng Khàng, Long Khánh, Nha Trang, Cam Ranh,
vv... Riêng trên vùng Cao Nguyên Miền Trung, có khoảng 300.000 đồng bào
đă được định cư. Sau một thời gian đầu khó khăn, nhưng được sự giúp đỡ
tận t́nh của chính phủ và của quốc tế, nhất là Hoa Kỳ, đồng bào di cư đă
ổn định được cuộc sống, làm ăn ngày càng phát đạt tạo thêm phong phú cho
nền kinh tế cũng như văn hóa, giáo dục tại miền Nam.
Bức màn tre đă buông xuống. Rất ít tin tức về miền Bắc lọt ra ngoài.
Nhưng chắc chắn dân chúng sẽ đói khổ và mất hết quyền tự do căn bản dưới
chế độ độc tài cộng sản. Một tài liệu về Nhân Quyền của một cơ quan mang
tên MISSIO thuộc Giáo Hội Công Giáo Đức đă làm một cuộc khảo sát về Giáo
Hội Miền Bắc và Miền Nam sau Hiệp Định Genève đă ghi những số liệu sau
đây : Vào năm 1953, tại miền Nam có 3 trường trung học tư thục Công
Giáo. Đến năm 1969 có 226 trường đón nhận 82.927 học sinh Công Giáo và
70.101 học sinh ngoài Công Giáo. Các trường tiểu học tư thục Công Giáo
gia tăng, phát triển lên đến con số 1.030 trường vào năm 1969. Mọi giới,
mọi ngành trong miền Nam đă phát triển mạnh mẽ.
Quốc hận phân chia đất nước
Cộng sản Việt Nam (CSVN) thường khoe khoang có công giành độc lập cho
dân tộc và thống nhất đất nước. Họ dùng hai công trạng này để bắt người
dân mang ơn đảng CSVN và biện minh cho sự độc tôn độc tài trên chính
quyền tại Việt Nam. Các thế hệ sau có thể không rơ và có thể tin vào
luận điệu tuyên truyền này của họ. Phải biết là chính CSVN đă chủ trương
và đă đề nghị với quốc tế chia đôi đất nước tại Hội Nghị Genève năm
1954. Họ và thực dân Pháp đă đặt bút kư văn bản quốc sỉ này. Trước đó,
CSVN kư kết Hiệp Định Sơ Bộ với Pháp để quân đội Pháp được trở lại miền
Bắc. Hồ Chí Minh với tư cách chủ tịch một nước đă đang đêm (2 giờ sáng
đêm 13 rạng 14/9/46) gơ cửa Bộ Trưởng thuộc địa Marius Moutet để kư cho
bằng được bản "thỏa hiệp quan hệ" (modus vivendi) là một bằng chứng cộng
sản không tôn trọng danh dự, quốc thể và độc lập của Việt Nam.
Dân tộc Việt Nam không thể tha thứ cho CSVN về cái tội chia cắt đất
nước. Năm 1954, họ đă cắt một nửa giang sơn dâng cho thực dân Pháp. Hành
động này không khác ǵ trong những năm gần đây, họ cắt đất, cắt biển
dâng cho Trung Cộng. Đúng như trưởng phái đoàn Quốc Gia tham dự hội nghị
: "Chấm dứt một cuộc chiến tranh bằng biện pháp chia đôi lănh thổ sẽ dẫn
đến một cuộc chiến tranh khác...". Quả vậy, CSVN đă phản bội chữ kư của
chính họ mang quân tấn công miền Nam gây ra cuộc chiến tranh Việt Nam
với bao tang tóc thê lương. Lịch sử sẽ phán xét tội phản dân hại nước
của CSVN.
Trần Đức Tường |