“… Kết quả này đă chấm dứt một
cuộc chiến nhưng lại gây mầm cho một
cuộc chiến khác
tàn khốc hơn mà chỉ kết
thúc hai mươi mốt năm sau đó …”
Cách đây 54 năm, hội nghị Genève kết
thúc cuộc chiến tranh Việt Pháp và phân
chia Việt Nam thành hai miền Nam Bắc.
Kết quả này đă chấm dứt một cuộc chiến
nhưng lại gây mầm cho một cuộc chiến
khác tàn khốc hơn mà chỉ kết thúc hai
mươi mốt năm sau đó. Những ǵ đă xảy ra
trong hội nghị và liệu có thể nào có kết
quả ǵ khác hay không? Trong bài này
chúng ta thử lật lại những trang sử cũ
và t́m hiểu những chuyện ǵ đă xảy ra
trên sân khấu và trong hậu trường của
hội nghị. Nhưng trước khi các phe phái
ngồi vào bàn Hội nghị th́ t́nh h́nh Đông
Dương và quốc tế vào những ngày cuối của
năm 1953 và đầu năm 1954 như thế nào?
Đ́nh chiến tại Triều Tiên vào cuối năm
1953 đặt cho Việt Minh và Trung Cộng một
vấn đề lớn. Liệu được rảnh tay tại Triều
Tiên, Mỹ có thể gia tăng can thiệp bằng
quân sự vào Đông Dương hay không. Mối lo
này lại càng tăng khi mà viện trợ của Mỹ
cho cuộc chiến tại Đông Dương ngày càng
mạnh chiếm trên 50 phần trăm chi phí của
cuộc chiến vào năm 1953. Trong khi đó,
t́nh h́nh kinh tế tại khu vực do Việt
Minh kiểm soát ngày càng trở nên bi đát
hơn. Khrushchev trong hồi kư nhắc lại
một cuộc gặp gỡ với Chu Ân Lai vào đầu
năm 1954, trong đó Chu Ân Lai cho
Khrushchev biết rằng:
- Đồng chí Hồ Chí Minh cho chúng tôi
biết là t́nh h́nh tại Việt Nam đang trở
nên tuyệt vọng. Nếu chúng tôi không t́m
cách đạt được một sự đ́nh chiến, phía
Việt Nam không c̣n có thể chiến đấu lâu
thêm nữa chống lại người Pháp và họ muốn
Trung Quốc sẵn sàng gởi chí nguyện quân
sang Việt Nam như đă làm tại Bắc Hàn."
Nhưng Trung Quốc th́ cũng không mặn mà
ǵ trong việc tham chiến tại Đông Dương.
Trên phương diện kinh tế, kế hoạch ngũ
niên đầu tiên vừa được chính phủ của Mao
đưa ra đ̣i hỏi những món tiền đầu tư
khổng lồ mà sẽ không thể có được nếu họ
tham gia vào một cuộc chiến tại Đông
Dương. Trung Quốc cũng ngần ngại bị đẩy
vào một cuộc phiêu lưu mới giống như tại
Triều Tiên. Thành ra mặc dầu vẫn giúp đỡ
cho Việt Minh một cách giới hạn để cầm
chân được Pháp, họ t́m cách giữ cho cuộc
chiến không lan rộng ra quá khiến cho Mỹ
có cớ nhẩy vào. Về phần Liên Xô, với
cuộc tranh chấp quyền hành sau khi
Stalin chết, Khruschev và các đồng sự
của ông đều không mong ǵ hơn là một
giai đoạn yên tĩnh để củng cố nội bộ.
Về phía chính phủ quốc gia Việt nam vào
cuối năm 1953, chính phủ Nguyễn Văn Tâm
bị Bảo Đại giải nhiệm và thay thế bằng
chính phủ Bửu Lộc. Những cố gắng của
chính phủ Nguyễn Văn Tâm nhằm thu hút
nhân tâm như cải cách ruộng đất đă bị
phá hỏng v́ sự chống đối của những đại
dịa chủ miền Nam cùng với những điền chủ
người Pháp. Cuộc bầu cử thí nghiệm hội
đồng tỉnh và thành phố mà chính phủ
Nguyễn Văn Tâm đưa ra nhằm tạo một cơ sở
quần chúng cho chính quyền bị thất bại
nặng. Đại đa số cử tri đă không đi bầu
cho thấy thiếu ủng hộ của dân chúng đối
với Bảo Đại và chính quyền quốc gia.
Điều quan trọng là cá nhân ông Bảo Đại.
Bác sĩ Phan Huy Quát, bộ trưởng quốc
pḥng của chính phủ thời đó đă phải có
những nhân định khá cay đắng về Bảo Đại
như sau:
- Ông ta đúng là một ông hoàng phương
Đông, nghi ngờ tất cả mọi người. Ông
không bao giờ nói rơ những ǵ ông muốn
cho bất cứ một ai, ngoại trừ đôi khi với
một vài người thân cận. Ông ta không
biết nhiều bởi v́ ông ta lười. Ông ta cứ
tuyên bố là ông ta sẽ tích cực hơn khi
nào ông biết ông không là đồ chơi trong
tay người Pháp. Ông ta nghĩ là nước Pháp
yếu và không thể nào dùng ai thay thế
ông được. Nhưng ông ta tin tưởng là ông
Tâm đang t́m cách chơi ông. Ông chỉ quan
tâm thật sự đến quân đội. Đối với người
Mỹ, Bảo Đại thất vọng, v́ ông không biết
là người Mỹ thật sự muốn ǵ và cũng v́
người Mỹ đă không thúc đẩy mạnh đủ cho
nền độc lập của Việt Nam."
Về phía Pháp, đến cuối năm 1953 th́
người Pháp cũng đă biết là nước Pháp
đang đi đến lúc kiệt quệ và không thể
tiếp tục cuộc chiến lâu dài tại Đông
Dương. Những cố gắng để đạt đuợc một
thắng lọi quân sự nhằm lập lại một thế
quân b́nh đă dẫn các tướng lănh Pháp tại
Đông Dương thiết lập căn cứ quân sự tại
Điện Biên Phủ với hy vọng là có thể kéo
lực lượng Việt Minh về đó để dùng không
quân và pháo binh tiêu diệt. Nhưng nguợc
lại Điện Biên Phủ đă trở thành một thất
bại lớn với những đoàn quân thiện chiến
nhất của Pháp bị bao vây mà không có hy
vọng được giải cứu.
Hy vọng độc nhất của Pháp có thể ở lại
được vùng này là kéo Mỹ can thiệp vào.
Vấn đề là Pháp lại không muốn trả độc
lập toàn diện cho ba nước Việt, Miên,
Lào như Mỹ đ̣i hỏi. Đặc biệt, ngoại
trưởng Pháp George Bidault e sợ một cuộc
can thiệp của Mỹ vào một thuộc địa cũ
của Pháp có thể tạo nên một tiền lệ dẫn
đến sự sụp đổ của đế quốc Pháp.
Tháng 3 năm 1954, khi t́nh h́nh Điện
Biên Phủ trở nên nguy ngập, Pháp gởi
tướng Ely, tham mưu trưởng quân lực sang
Mỹ cầu viện. Ely được phía Mỹ tiếp đón
nồng hậu. Ngày 29 tháng 3 năm 1954,
ngoại trưởng John Foster Dulles đọc môt
bài diễn văn tại Overseas Press Club nói
đến nguy cơ của một Á châu nhuộm đỏ, và
chính quyền Eisenhower bắt đầu tham khảo
Quốc Hội về một khả năng can thiệp quân
sự trực tiếp của Mỹ.
Tuy nhiên Quốc Hội chỉ chịu chấp thuận
cho Mỹ can thiệp với ba điều kiện, thứ
nhất Pháp phải trả độc lập toàn diện cho
ba nước Đông Dương, thứ hai Pháp phải
cam kết sẽ tiếp tục cuộc chiến dù cho
Điện Biên Phủ có thất thủ và thứ ba, Mỹ
chỉ can thiệp vào Đông Dương nếu có sự
tham gia của các nước khác, đặc biệt là
Anh quốc.
Nhưng quan điểm của Anh th́ lại không
muốn mở rộng cuộc chiến, e ngại rằng
điều này sẽ dẫn đến sự tham chiến của
Hồng quân Trung Hoa và có thể dẫn đến
một thế chiến thứ ba vói Liên Xô. Và dù
bằng cách nào chăng nữa dân chúng Anh
cũng không chấp nhận cho chính phủ gởi
quân Anh sang tham chiến cho Pháp. Ngày
27 tháng 4 năm 1954, khi tiếp kiến đại
sứ Pháp Massigli đến yêu cầu chính phủ
Anh ủng hộ việc can thiệp của Đồng Minh
vào Đông Dương, thủ tướng Churchill đă
trả lời thẳng thừng:
"Nếu nước Anh có thể rút ra khỏi được Ấn
Độ th́ nước Pháp cũng có thể rút ra khỏi
được Đông Dương."
Mọi phe phái do đó đều chào đón một hội
nghị Genève để giải quyết những vấn đề
chung và riêng. Những quyền lợi đó đă
tập hợp hay đụng độ như thế nào tại
chính hội nghị.
Hội nghị Genève về Đông Dương bắt đầu
họp vào ngày 8 tháng 5 năm 1954, chỉ một
ngày sau khi Điện Biên Phủ thất thủ với
sự tham dự, một bên là Mỹ, Anh, Pháp và
ba quốc gia liên kết- Quốc gia Việt Nam,
Lào, và Cao Mên, bên kia bao gồm Liên Xô,
Trung Quốc và Việt Minh. Riêng phái đoàn
Mỹ th́ ngoại trưởng Dulles không tham dự
mà để thứ trưởng Bedell Smith đại diện.
Trong khoảng thời gian từ 8 tháng Năm
cho đến 21 tháng Bảy khi hiệp định được
kư kết có tất cả 8 phiên họp khoáng đại
và hai mươi mốt phiên họp giới hạn.
Trong các phái đoàn tham dự hội nghị
Geneve, phái đoàn Trung quốc là đông và
hùng hậu nhất. Lần đầu tiên tham gia một
hội nghị quốc tế với tư cách ngang hàng
với các cường quốc hàng đầu trên thế
giới, Chu Ân Lai đă mang theo một đoàn
tùy tùng lên đến 200 người trong đó bao
gồm những nhân vật tài giỏi nhất mà
nhiều người sau này như Vương B́nh Nam,
Hoàng Hoa và Kiều Quán Hoa đă trở thành
những nhân vật tên tuổi trong giới ngoại
giao thế giới.
Nhưng chuyến đi này của Chu Ân Lai không
phải thuần túy nhằm giải quyết các vấn
đề Triều Tiên và Đông Dương mà c̣n có
mục đích xa hơn là t́m cách phá thế bao
vây và phong tỏa kinh tế của Mỹ với nước
Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa. Chính v́
vậy mà Chu sẵn sàng nhân nhượng Pháp và
Anh để ngăn chặn Mỹ có thể nhẩy vào sâu
thêm tại Đông Nam Á. Cũng chính v́ vậy
trong một bữa tiệc ngày 18 tháng 5 giữa
Vương B́nh Nam, phó trưởng đoàn Trung
quốc, với đại tá Guillermaz, chuyên viên
quân sự của phái đoàn Pháp, và Paul
Boncour, đại sứ Pháp tại Thụy Sĩ, Vương
B́nh Nam sau khi nhắc lại việc Trung
quốc vừa đưa ra kế hoạch ngũ niên đầu
tiên vào năm trước và những cố gắng kinh
tế này đă khiến Trung quốc phải hướng
các cố gắng ngoại giao vào việc t́m các
giải pháp hoà b́nh, đă nói thẳng với
Guillermaz rằng:
- Chúng tôi không đến đây để bảo vệ quan
điểm của Việt Minh mà để làm tất cả
những cố gắng có thể làm được để đạt đến
ḥa b́nh.
Sau đó Vương cũng nói với Paul Boncour
rằng:
- Chúng tôi không khuyến khích quân đội
Việt Minh tiến về phía đồng bằng.
Cầu
Hiền Lương 1954
Một lời hứa có tính cách cực kỳ quan
trọng với Pháp lúc đó đang bối rối về
việc bảo vệ cho Hà Nội và Hải Pḥng. Dù
ǵ chăng nữa, ngày 25 tháng 5, trong một
phiên họp giới hạn, Phạm Văn Đồng đưa ra
một đề nghị đánh dấu khúc quanh đầu tiên
của cuộc thương thuyết. Đề nghị của Đồng
bao gồm một cuộc đ́nh chiến với việc tập
trung quân mỗi bên một vùng có đủ điêu
kiện cần thiết cho các hoạt động hành
chánh và kinh tế. Đây là lần đầu tiên
Việt Minh chấp nhận từ bỏ tham vọng
chiếm toàn bộ lănh thổ. Đề nghị này được
nói rơ ra hơn khi trong cuộc gặp gỡ
riêng với các sĩ quan Pháp, ngày mùng 9
tháng 6 vào lúc 23 giờ 30, Tạ Quang Bửu
lấy ra một bản đồ Đông Dương và đặt tay
lên đồng bằng Xông Hồng và nói:
- Toàn bộ đồng bằng miền Bắc đối với
chúng tôi là một nhu cầu cần thiết cả về
những lư do chính trị, kinh tế và văn
hoá. Chúng tôi phải có được Hà Nội.
Chúng tôi cần phải có hải cảng.
Việc chia đôi đất nước như vậy là do
chính Việt Minh đưa ra. Tuy nhiên các
cuộc thương thuyết đến lúc đó bị bế tắc,
một phần v́ chính phủ Laniel của Pháp đổ
ngày 12 tháng 6, một phần v́ những tắc
nghẽn trong vấn đề đại diện của hai nhóm
Pathet Lào và Khmer Issarak. Ngày 17
tháng 6, theo lời khuyên của Ngoại
trưởng Anh, Anthony Eden, ngoại trưởng
Pháp George Bidault, vừa từ nhiệm nhưng
c̣n xử lư thường vụ, đến gặp Chu Ân Lai
mà theo Eden th́ có thể thuyết phục Việt
Minh rút quân ra khỏi Căm Bốt và Lào.
Chu xác nhận với Bidault rằng t́nh h́nh
tại Căm Bốt và Lào khác với t́nh h́nh
Việt nam và tất cả quân đội ngoại quốc,
kể cả quân đội Việt Minh cần phải được
triệt thoái ra khỏi hai nước này. Nhưng
Chu nói thêm:
- Chúng tôi muốn thấy hai nước này trở
thành những quốc gia ḥa b́nh và dân chủ
như những nước khác tại Á Châu tỷ như
Indonesia, Miến Điện hay Ấn Độ. Nếu họ
muốn họ vẫn có thể ở trong Liên Hiệp
Pháp và sống chung hoà b́nh với tất cả
các nước khác. Nhưng chúng tôi không
muốn Lào và Căm Bốt trở thành những căn
cứ quân sự của Mỹ. Đó sẽ là một đe dọa
cho an ninh của chúng tôi.
Với sự ủng hộ của Chu vấn đề Lào và Căm
Bốt được giải quyết. Nhưng c̣n vấn đề
Việt Nam. Trong lúc ở Pháp, Mendès
France thành lập chính phủ mới vào ngày
17 tháng 6, th́ tại Sài G̣n ngày 18
tháng 6, ông Ngô Đ́nh Diệm cũng thành
lập một chính phủ mới thay hoàng thân
Bửu Lộc. Bác sĩ Trần Văn Đỗ được cử làm
ngoại trưởng thay Luật sư Nguyễn Quốc
Định. Mendès France được Quốc hội Pháp
cử lên làm thủ tướng với sứ mạng kết
thúc cuộc chiến tại Đông Dương và tự ra
một hạn chót là 20 tháng 7 phải kết thúc
nếu không ông sẽ từ chức. E ngại rằng
Mandès France có thể bỏ rơi Đông Dương
cho cộng sản, ngày 23 tháng 6, trưởng
phái đ̣an Mỹ tại Genève, tướng Bedell
Smith gởi về môt phúc tŕnh đầy bi quan
trong đó ông dự trù là Pháp và Anh có
thể chấp thuận một việc chia cắt trao
một phần lớn Việt nam cho Việt Minh và
một cuộc bầu cử sau đó thống nhất toàn
bộ Việt nam dưới tay Hồ Chí Minh. Ông đề
nghị Hoa Kỳ xét lại toàn bộ việc tham
gia hội nghị này và tách rời khỏi mọi
giải pháp chính trị mà hội nghị có thể
thoả thuận.
Trong lúc đó, ngày 25 tháng 6 thủ tướng
Anh Churchill và ngoại trưởng Eden đến
Washington để thảo luận về t́nh h́nh với
tổng thống Eisenhower. Ngày 29 tháng 6
Eisenhower và Churchill kư một bản tuyên
bố chung đưa ra bảy điểm mà bất kỳ một
giải pháp nào về Đông Dương cũng đều
phải có:
Hoa Kỳ và Anh quốc sẽ chỉ chấp nhận
một thỏa hiệp nếu:
1. Bảo vệ sự toàn vẹn lănh thổ của Lào
và Căm Bốt và bảo đảm rằng quân đội Việt
Minh rút ra khỏi các nước này.
2. Bảo đảm ít nhất là miền nam Việt nam
cho chính phủ quốc gia và nếu có thể một
khu vực tại đồng bằng Xông Hồng. Trong
mọi trường hợp đường phân cắt không thể
nằm phía nam Đông Hà.
3. Không áp đặt các chính quyền tại Lào,
Căm Bốt và nam Việt Nam các giới hạn
khiến họ không thể tự thiết lập những
chính quyền không cộng sản ổn định và
đặc biệt không ngăn chặn họ có những lực
lượng quân sự độc lập có quyền nhập cảng
các vũ khí hoặc dùng cố vấn quân sự nước
ngoài.
4. Không có những điều khoản chính trị
có thể dẫn những vùng này rơi vào tay
Cộng Sản.
5. Không loại trừ việc thống nhất hai
miền Nam Bắc Việt nam bằng các phưong
pháp hoà b́nh
6. Có dự trù việc di chuyển dưới sự kiểm
soát quốc tế những ai không muốn di
chuyển sang khu vực ḿnh muốn.
7. Có dự trù một cơ cấu kiểm soát hữu
hiệu của quốc tế về thỏa hiệp này.
Đó là những điều kiện tối thiểu mà Mỹ
đặt ra để chấp thuận thỏa hiệp. Nhưng về
phía Việt Minh, Phạm Văn Đồng muốn lợi
dụng điều mà họ cho là thế yếu của
Mendès France nhất quyết đ̣i hỏi một
đường ranh chia cắt ở vĩ tuyến 13 và một
thời hạn sáu tháng để tổ chức tổng tuyển
cử. Pháp đề nghị một đường ranh tại vĩ
tuyến 18 và một thời hạn hai năm.
Trong lúc Churchill và Eden sang Mỹ th́
Chu Ân Lai cũng rời Geneve. Cùng với
Kiều Quán Hoa, Chu rời Genève ngày 24
tháng 6 để đi sang Ấn Độ. Mặc dầu trung
lập và bang giao với các chế độ Cộng Sản,
Nehru đă tỏ ra rất e ngại về khả năng
cộng sản có thể chiếm đóng toàn bộ Đông
Dương. Bản thông cáo chung 8 điểm giữa
hai nước đưa ra ngày 29 tháng 6 đă phản
ánh những quan ngại của chính phủ Ấn về
vấn đề này. Vị thủ tướng Trung quốc bảo
đảm với Ấn rằng ông sẽ làm hết sức để
quân đội Việt Minh rút ra khỏi Lào và
Căm Bốt. Riêng về Việt nam, một phúc
tŕnh của toà tổng lănh sự Ấn tại Sài
g̣n đă nói rơ, một cuộc bầu cử trong
thời hạn Phạm Văn Đồng đ̣i hỏi chắc chắn
sẽ mang lại một chiến thắng cho phe Cộng.
Nếu Ấn muốn cho miền nam Việt nam thoát
khỏi tầm kiểm soát của Cộng Sản một thời
hạn từ 18 cho đến 24 tháng là tối thiểu.
Không biết rằng những điều này có được
đưa ra thảo luận giữa Nehru và Chu Ân
Lai hay không. Nhưng sau khi ở Ấn về Chu
gặp Hồ Chí Minh tại Liễu Châu thuộc miền
Nam Hoa từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 7.
Không biết Chu và Hồ thảo luận những ǵ,
nhưng sau cuộc gặp gỡ này thái độ của
Việt Minh mềm dẻo hẳn đi. Có điều chắc
rằng ba thỏa hiệp viện trợ kinh tế mà
Chu và Hồ kư với nhau có đóng một phần
trong sự thay đổi thái độ của Việt Minh.
Các thỏa hiệp này dự trù một số lượng
hàng hóa viện trợ quan trọng cho Việt
Minh trong năm 1954 và đ̣i hỏi phải mất
nhiều thời giờ để sửa soạn. Việc tŕ
hơan kư thỏa hiệp viện trợ cho năm 54
đến giữa năm mới kư cho thấy những dấu
hiệu là Trung quốc đă dùng áp lực kinh
tế để ép buộc Việt Minh đi theo đường
lối của họ.
Dù thế nào chăng nữa, khi Chu quay trở
về Genève, th́ thái độ của Việt Minh đă
thay đổi hẳn. Ngày 13 tháng 7 Phạm văn
Đồng đột nhiên đề nghị với Mendès France
đường ranh chia cắt tại vĩ tuyến 16.
Chiều 13 tháng 7 Đồng với Phan Anh đi
tháp tùng đến gặp bác sĩ Trần Văn Đỗ
trưởng phái đoàn Quốc Gia Việt nam, lần
đầu tiên kể từ khi hội nghị Geneve bắt
đầu. Hai bên thảo luận thời điểm để có
thể tổ chức bầu cử. Tuy nhiên Đồng vẫn
nhất định đ̣i một hạn kỳ chỉ sáu tháng
và chia cắt ở vĩ tuyến thứ 16.
Ngày 17 tháng 7, Chu Ân Lai gặp Mendès
France. Và đến ngày 19, Vương B́nh Nam
gặp phái đoàn Pháp cho biết:
- Phái đoàn Trung Quốc chấp nhận và đă
thuyết phục phái đoàn Việt Minh chấp
thuận rằng đường chia cắt nằm cách phía
Bắc của Quốc lộ số 9: 10 cây số".
Tuy nhiên Đồng vẫn chưa chịu chấp nhận
phân chia tại vĩ tuyến thứ 17. Phải đến
ngày hôm sau, ngày 20 tháng 7 và lần này
dưới áp lực trực tiếp của Molotov, Đồng
mới chịu chấp nhận đường ranh chia cắt
tại vĩ tuyến thứ 17 và một thời hạn 2
năm để tổ chức bầu cử. Hội nghị Geneve
đă kết thúc vào ngày 21 tháng 7 bằng một
h́nh thức pháp lư khá kỳ lạ. Chỉ có ba
thỏa hiệp đ́nh chiến về quân sự được kư
kết giữa các đại diện về quân sự của các
bên. Giải pháp chính trị được đưa ra
dưới h́nh thức một bản tuyên ngôn cuối
cùng của hội nghị mà không một ai kư kết
v́ các phái đoàn Hoa Kỳ và Quốc gia Việt
Nam không chịu kư. Bác sĩ Trần Văn Đỗ,
nhân danh chính phủ quốc gia Việt nam,
yêu cầu hội nghị ghi vào biên bản sự
cương quyết phản đối của chính phủ ông
đối với việc phân chia Việt Nam và cung
cách mà hội nghị đưa ra để đạt được cuộc
đ́nh chiến và nói chính phủ Việt Nam
dành quyền tự do hành động tuy rằng hứa
sẽ không dùng vũ lực để chống lại việc
đ́nh chiến.
Trong suốt cuộc thương thuyết người ta
có thể thấy rơ Trung Quốc và ở một mức
độ nhỏ hơn, Liên Xô, đă áp đặt Việt Minh
phải chấp nhận những điều kiện cần thiết
để có thể đạt được môt thỏa hiệp mà họ
muốn. Có lẽ mưu tính của phía Trung Quốc
đă thể hiện rơ nhất trong một sự kiện
xảy ra sau khi hội nghị kết thúc. Ngày
22 tháng 7, trước khi lên đường rời
Genève, Chu Ân Lai mở một bữa tiệc khoản
đăi các phái đoàn Đông Dương. Đặc biệt
đây là lần đầu tiên mà Chu mời đại diện
của chính phủ quốc gia Việt nam trong đó
có ông Ngô Đ́nh Luyện, đại diện cá nhân
của thủ tướng Diệm theo dơi hội nghị.
Sau khi ép buộc các phái đoàn phải nâng
ly chúc sức khỏe quốc trưởng Bảo Đại,
Chu nhắc đến Đài Loan và nhấn mạnh rằng
bên kia eo biển Đài Loan cũng có rất
nhiều người thành thật thương yêu tổ
quốc. Khi bữa tiệc bắt đầu, trong lúc
hai phái đoàn Lào và Căm Bốt được sắp
ngồi tại hai bàn bên cạnh, Chu sắp hai
phái đoàn Việt Nam ngồi chung bàn với
ḿnh, và đặt Ngô Đ́nh Luyện ngồi cạnh Tạ
Quang Bửu - hai người vốn xưa vẫn là bạn
học tại Pháp. Trong lúc đang nói chuyện
đến Việt Nam, đến những tàn phá của
chiến tranh tại Việt Nam, Ngô Đ́nh Luyện
nhắc đến việc cuộc chiến đă làm hư hại
một phần Văn Miếu tại Hà Nội th́ Chu
bỗng nói:
- Văn miếu tại nước tôi vẫn c̣n nguyên,
nếu ông thích tại sao không đến Bắc Kinh
thăm một chuyến.
Khi Ngô Đinh Luyện lên tiếng hỏi là ông
lấy tư cách ǵ mà đi đến Bắc Kinh th́
Chu trả lời không ngần ngại:
"Tại sao
các ông không đặt một phái bộ tại Bắc
Kinh". Lời mời bất ngờ đă khiến cho Phạm
Văn Đồng nhẩy dựng lên.
Thấy vậy, Chu Ân
Lai bồi thêm:
- Cố nhiên là ông Đồng gần gũi với chúng
tôi hơn về phương diện ư thức hệ, nhưng
điều đó không ngăn cấm miền nam có đại
diện. Dù sao chăng nữa chẳng phải các
ông đều là người Việt nam và chúng ta
đều là người Á Châu cả.
Tuy nhiên mọi chuyện đến đây là chấm dứt
và không có ǵ xảy ra thêm nữa. Nhưng
chắc hẳn Phạm Văn Đồng và giới lănh đạo
Hà Nội đă nghĩ đến chuyện đó khi vào
những ngày đầu năm 1979, Hà Nội đưa ra
cuốn bạch thư tố cáo Trung Quốc đă phản
bội đối với họ ngay từ khi hội nghị
Genève. |