IV.- BẢN TUYÊN BỐ CUỐI CÙNG KHÔNG CHỮ KƯ
Sau khi Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự ở Việt Nam được kư kết,
các phái đoàn họp tiếp và “thông qua” bản “Tuyên bố cuối
cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở
Đông Dương” ngày 21-7-1954. Đây chỉ là lời tuyên bố
(Declaration) của những phái đoàn, có tính cách dự kiến
tương lai Việt Nam, và đặc biệt không có phái đoàn nào kư
tên vào bản tuyên bố nầy, nghĩa là bản tuyên bố không có chữ
kư.
Khi chủ tịch phiên họp là Anthony Eden
(ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, th́ 7 phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô,
CHNDTH, VNDCCH, Lào và Cambodge (Cambodia) trả lời miệng
rằng “đồng ư”(9). Phái đoàn Hoa Kỳ và phái đoàn QGVN không
đồng ư, và đưa ra tuyên bố riêng của ḿnh.
Bản tuyên bố nầy gồm 13 điều, trong đó quan trọng nhất là
điều 7. Điều nầy ghi rằng:
"Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết
các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên
tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lănh thổ, sẽ phải làm
cho nhân dân Việt nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo
đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự
do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại ḥa b́nh tiến triển
đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ
ư nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956
dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những
nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đă nói
trong Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955
những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những
cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó."
(Bản dịch của Thế
Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường)
(10a)
Điều 7 của bản Tuyên bố nầy được xem là dự kiến về một giải
pháp chính trị, theo đó một cuộc tổng tuyển cử để thống nhất
đất nước, mà sau nầy Bắc Việt dựa vào để đ̣i hỏi Nam Việt tổ
chức tổng tuyển cử trên toàn quốc.
Trong bản tuyên bố của phái đoàn QGVN, bác sĩ Trần Văn Đỗ,
trưởng phái đoàn, giải thích v́ sao phái đoàn QGVN không kư
kết hiệp định Genève. Sau khi phản đối việc chia cắt đất
nước và việc đại diện quân đội Pháp tự ư kư kết hiệp định mà
không đếm xỉa ǵ đến quyền lợi của quân đội Quốc Gia và nhân
dân Việt Nam, bản tuyên bố viết:
“V́ thế cho nên chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận
một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách
kư kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng
nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Việt Nam yêu cầu
Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ tự dành cho ḿnh quyền hoàn
toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân
tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập,
và Tự do cho xứ sở.”(10b).
V́ phái đoàn QGVN không kư vào bản Hiệp định đ́nh chỉ chiến
sự ở Việt Nam (hiệp định Genève) và nhất là không tham dự
vào bản “Tuyên bố cuối cùng”, nên chính phủ QGVN tự cho rằng
không bị ràng buộc vào điều 7 của bản tuyên bố nầy.
Về phiá Hoa Kỳ, trưởng phái đoàn là Bedell Smith cũng đưa ra
bản tuyên ngôn ngày 21-7-1954 theo đó, tuy không kư vào hiệp
định, nhưng Hoa Kỳ cam đoan không đe doạ hay dùng vơ lực để
sửa đổi hiệp định; Hoa Kỳ sẽ nghiêm xét bất cứ một hành vi
tái gây hấn vi phạm thoả hiệp trên, đe doạ ḥa b́nh và an
ninh thế giới; Hoa Kỳ tôn trọng việc thực hiện thống nhất
Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do đặt dưới sự giám sát cuả
Liên Hiệp Quốc. Ông Bedell Smith kết luận:
“Chúng tôi chia sẻ niềm hy vọng rằng các thỏa hiệp nầy sẽ
cho phép Cao Miên, Lào và Việt Nam nắm giữ điạ vị của họ,
trong độc lập hoàn toàn và chủ quyền đầy đủ, giữa cộng đồng
yêu chuộng hoà b́nh của các quốc gia, và sẽ khiến cho các
dân tộc ở các vùng đó có thể tự định đoạt lấy tương lai của
ḿnh.”(10c)
V.- VIỆC THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GENÈVE
Hội nghị Genève kết thúc với ba văn kiện chính thức
(ngày
20-7-1954) và một bản tuyên bố chung
(ngày 21-7-1954) là:
1) Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự ở Việt Nam.
2) Hiệp định đ́nh
chỉ chiến sự ở Lào.
3) Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự ở
Cambodge (Cambodia).
4) Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị
Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương.
Ngoài bốn văn kiện trên, c̣n có hai văn kiện do hai phái
đoàn đưa ra là:
1) Tuyên ngôn của phái đoàn QGVN.
2) Tuyên
ngôn của phái đoàn Hoa Kỳ.
Cần chú ư hai điểm: Thứ nhất, Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự ở
Việt Nam tức Hiệp định đ́nh chiến Genève chỉ có tính cách
thuần túy quân sự, nói về việc rút quân, tập trung quân,
thời hạn chuyển quân... mà hoàn toàn không đề cập đến giải
pháp chính trị.
Thứ hai, không có phái đoàn nào kư tên vào bản “Tuyên bố
cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa
b́nh ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Một điều rất lạ lùng là
sự việc bất thường nầy, một văn kiện quốc tế mà không có chữ
kư, lại ít được chú ư và ít được sách báo viết đến.(11)
Điều 7 của bản tuyên bố nầy mở đầu bằng câu
"Hội nghị tuyên
bố rằng đối với Việt Nam...”
(La Conférence déclare qu’en ce
qui concerne le Vietnam), nghĩa là về vấn đề Việt Nam, Hội
nghị nghĩ rằng, đưa ra ư kiến rằng, hay dự kiến rằng … một
cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7-1956…, c̣n
làm theo hay không làm theo, nghĩa là thi hành hay không thi
hành, là tùy các bên liên hệ. Hội nghị không cam kết và
cũng không yêu cầu các bên liên hệ cam kết là sẽ thi hành
tổng tuyển cử, v́ rơ ràng nhất là Hội nghị không yêu cầu bên
nào kư vào bản tuyên bố nầy, để cam kết hay để giữ lời cam
kết. Những hiệp định với đầy đủ chữ kư mà c̣n bị vi phạm
trắng trợn huống ǵ là những bản tuyên bố không chữ kư.
Hơn nữa, đây là một bản tuyên bố chứ không phải là một bản
hiệp ước. Môt bản tuyên bố lại không có chữ kư của bất cứ
phái đoàn nước nào, kể các các chính phủ liên hệ đến cuộc
chiến ở Đông Dương, có được xem là một văn kiện có giá trị
pháp lư để thi hành hay không?
V́ những lư do căn bản nầy, bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội
nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương”,
trong đó đặc biệt điều 7 của bản tuyên bố nầy về dự kiến một
cuộc tổng tuyển cử trong năm 1956, không có tính cách pháp
lư để bắt buộc bất cứ nước nào thi hành. Nói cho cùng, có
thể nói rằng bản tuyên bố nầy khá mơ hồ và không đưa ra một
giải pháp chính trị cụ thể cho tương lai Đông Dương sau khi
hai bên đ́nh chiến.
Tinh thần của bản tuyên bố Genève khiến người ta liên tưởng
đến “Tối hậu thư Potsdam” mà các nước Anh, Hoa Kỳ và Trung
Hoa Dân Quốc (Tưởng Giới Thạch) gởi cho Nhật Bản ngày
26-7-1945. Tối hậu thư Potsdam buộc Nhật Bản đầu hàng vô
điều kiện và quy định rằng ở Đông Dương quân đội Trung Hoa
sẽ giải giới quân đội Nhật ở phía bắc vĩ tuyến 16, và quân
đội Anh sẽ giải giới quân đội Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16
(ngang qua Tam Kỳ). Tuy nhiên tối hậu thư nầy không đề cập
đến ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân đội Nhật bị giải
giới và rút về nước, nghĩa là không đưa ra một giải pháp
chính trị cho Đông Dương.
Điều nầy sẽ tạo ra một khoảng trống hành chánh và chính trị
tại Đông Dương sau năm 1945 một khi những quyết định trong
tối hậu thư Potsdam được thi hành, v́ nếu Nhật đầu hàng,
chính phủ Trần Trọng Kim do Nhật bảo trợ, cũng sẽ sụp đổ,
th́ ai sẽ là người có thẩm quyền tại Đông Dương? Đây là
thâm ư của Anh và Hoa Kỳ, cố t́nh bỏ ngỏ khoảng trống chính
trị để tạo điều kiện cho Pháp trở lại Đông Dương.
Nay bản Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn
đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương cũng đi vào vết xe cũ,
không đưa ra một giải pháp chính trị cụ thể cho tương lai
Đông Dương, ngoài một bản tuyên bố không có người kư. Từ
đó, các bên liên hệ đến bản tuyên bố có thể tùy tiện giải
thích bản tuyên bố một cách khác nhau, tùy theo chủ trương
chính sách của mỗi bên.
Ngay trong Hội nghị Liễu Châu từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954,
cả CHNDTH lẫn VNDCCH đă thỏa thuận tạm ḥa, để tiếp tục
chiến tranh. Cũng trong hội nghị nầy, những nhà lănh đạo
VNDCCH đă tŕnh bày kế hoạch hậu chiến là gài người cùng
chôn giấu vũ khí tại miền Nam để chuẩn bị nổi dậy. Như thế
có nghĩa là kế hoạch tấn công miền Nam đă được dự tính
trước.
Để kiếm cớ gây chiến, Bắc Việt
(VNDCCH) dựa vào điều 7 nầy,
tố cáo chính phủ Nam Việt (VNCH) không tôn trọng hiệp định
Genève. Trong khi đó, hiệp định Genève chỉ là một hiệp định
đ́nh chiến và đă được các phe liên hệ thi hành xong ngay từ
1954, với sự giám sát của Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát Đ́nh
chiến. C̣n bản “Tuyên bố…” không có chữ kư th́ chẳng có giá
trị pháp lư để thi hành. Tuy nhiên, kẻ gây hấn th́ luôn
luôn có lư do để gây hấn.
Cho đến nay, chưa có một giải thích cụ thể nào cho biết tại
sao bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn
đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương”, lại không không có chữ kư
của phái đoàn các nước? Phải chăng sau nhiều tháng hội họp,
các phái đoàn quá mệt mỏi với những tranh căi triền miên,
nên chỉ hỏi ư kiến bằng miệng cho chóng thông qua? Hay phải
chăng có một âm mưu muốn tính chuyện về sau, nên chỉ hỏi
bằng miệng để bỏ ngỏ vấn đề, nhằm dọn đường cho những tính
toán chính trị kế tiếp sau hiệp định Genève? Và ai là người
đă chủ xướng biện pháp chính trị lập lững nầy? Nước nào chủ
xướng th́ chưa biết, nhưng chính phủ QGVN rất yếu thế, ngay
từ đầu lại bác bỏ việc chia cắt đất nước, phản đối hiệp định
Genève, nên chắc chắn QGVN không phải là nước chủ xướng.
Ngày 22-7-1954, thủ tướng chính phủ QGVN là Ngô Đ́nh Diệm ra
tuyên cáo phản đối việc chia hai nước Việt Nam. Tuy nhiên
cuối cùng chính phủ QGVN vẫn phải chấp nhận thi hành hiệp
định Genève ngày 20-7-1954, chia hai đất đất nước ở sông Bến
Hải, vùng vĩ tuyến 17. Như thế, từ năm 1954, tại Bắc và Nam
Việt Nam, có hai chính phủ riêng biệt, theo hai chính thể
riêng biệt, tức có hai nước Việt Nam riêng biệt.
Thi hành hiệp định đ́nh chiến Genève, việc ngưng bắn chính
thức có hiệu lực ngày 27-7-1954 tại Bắc Việt, ngày 1-8-1954
tại Trung Việt, và ngày 11-8-1954 tại Nam Việt. Vấn đề cấp
thời của hai chính phủ là tập trung và di chuyển quân đội,
công chức, cán bộ của ḿnh và cả dân chúng, về khu vực cai
trị của ḿnh, v́ “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève
1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương” cho phép trong
thời gian 300 ngày, dân chúng được tự do di cư từ khu bên
nầy sang khu thuộc phía bên kia.
Ngày 9-10-1954 là hạn chót cho những người muốn di cư vào
Nam di tản khỏi Hà Nội. Hôm sau, ngày 10-10-1954, quân đội
VM vào tiếp thu Hà Nội. Chủ tịch Uỷ ban Quân quản Hà Nội
của VM là Vương Thừa Vũ tức Nguyễn Văn Đồi, người đă chỉ huy
cuộc tấn công Hà Nội ngày 19-12-1946 và trở thành tư lệnh sư
đoàn đầu tiên của VM là sư đoàn 308. Hải Pḥng, điểm tập
trung đồng bào miền Bắc muốn di cư bằng tàu thủy vào miền
Nam, do VM tiếp thu ngày 13-5-1954. Ba ngày sau, toán lính
Pháp cuối cùng rút lui khỏi đảo Cát Bà
(vịnh Hạ Long, vùng
Hải Pḥng) ngày 16-5-1955.
Số người từ miền Nam tập kết ra Bắc không được thống kê đầy
đủ. Theo sự tŕnh bày của Vơ Nguyên Giáp tại Hội nghị Liễu
Châu (Quảng Tây, Trung Hoa) từ ngày 3-7-1954 giữa Hồ Chí
Minh và Châu Ân Lai, trước khi chiến tranh kết thúc, VM dự
tính bước đầu rút khoảng 60,000, trong đó 50,000 người là bộ
đội và 10,000 người làm công tác chính trị, nhất là những
người “đỏ” quá, không thể ở lại. Ngoài ra, VM dự tính sẽ
lưu lại miền Nam từ 5,000 đến 10,000 người để chờ thời cơ,
và vũ khí nào cất giấu được th́ cất giấu sau khi quân đội
rút đi.(12) Đó chỉ là báo cáo dự tính của Vơ Nguyên Giáp,
thực tế số vũ khí chôn giấu và số đảng viên cộng sản ở lại
miền Nam đông hơn rất nhiều.
Số người từ miền Bắc di cư vào miền Nam lên đến khoảng gần
1,000,000 người.(13) Trong số nầy, nhân viên chính quyền
(tức công chức) và quân nhân chiếm một phần ít, c̣n đại đa
số là dân chúng. Đây là đợt tỵ nạn cộng sản lớn lao đầu
tiên trong lịch sử hiện đại, cũng là đợt di dân nội địa lớn
lao nhất trong lịch sử nước ta. Người Việt Nam vốn rất ràng
buộc với quê cha đất tổ, mà một triệu người đành phải bỏ xứ
ra đi, chứng tỏ ḷng dân như thế nào đối với chế độ của đảng
Lao Động (tức là đảng CSVN).
Số người ra đi đông đảo như trên rời đất Bắc có lợi cho đảng
Lao Động v́ những thành phần chống cộng, đối lập, bất đồng
chính kiến, những nhân vật theo các đảng phái Quốc gia, đều
rút về miền Nam, nên không c̣n, hay ít c̣n người ở lại đối
kháng với chế độ mới ở ngoài Bắc.
Chính phủ QGVN phải lo tái định cư, t́m kiếm công ăn việc
làm, xây dựng đời sống mới cho gần một triệu người di cư là
một công tác lớn lao. Chưa kể nhiều cán bộ cộng sản được
cài lại ở miền nam, sống lẫn lút trà trộn trong dân
chúng,(14) chắc chắn đảng Lao Động không bỏ qua cơ hội cho
đảng viên cốt cán len lơi vào đoàn người di cư vào miền Nam
để làm t́nh báo, như trường hợp Vũ Ngọc Nhạ,(15) hay Vũ
Bằng...(16)
KẾT LUẬN
Sau trận Điện Biên Phủ
(7-5-1954), khi Pháp quyết định rời
bỏ hẳn Việt Nam, các cường quốc trên thế giới, Quốc tế Cộng
Sản cũng như Quốc tế Tư bản, lại một lần nữa can thiệp, và
áp đặt một giải pháp chính trị theo quyền lợi của họ, buộc
các phe phái ở Việt Nam phải thi hành.
Để bỏ chạy an toàn, Pháp thỏa măn những đ̣i hỏi về phía khối
cộng sản, thỏa hiệp với cộng sản chia hai nước Việt Nam và
ấn định lịch tổng tuyển cử năm 1956, mà không cần đếm xỉa
đến ư nguyện của chính phủ QGVN. Pháp quyết kư hiệp định
Genève (20-7-1954), để vĩnh viễn rút quân ra khỏi ba nước
Đông Dương, không c̣n liên hệ ǵ đến Việt Nam. Như thế,
Pháp dựa vào tư cách nào để ấn định lịch tổng tuyển cử vào
năm 1956 về tương lai chính trị nước Việt Nam?
Chính phủ QGVN non trẻ, bị động theo chính sách của Pháp, là
chuyện đành phải chấp nhận. VNDCCH
(VM), dầu đă lợi dụng và
sử dụng xương máu người Việt để chiến đấu, và tự cho rằng đă
chiến thắng đế quốc Pháp, cũng không thể cưỡng chống lại
những ư đồ của Liên Xô và CHNDTH.
Nói cách khác, người Việt ở cả hai phía nói chung, hoàn toàn
không thể tự quyết định tương lai của chính ḿnh, mà phải bị
động trước những áp đặt của ngoại bang, dù đó là ngoại bang
tư bản hay cộng sản. Bất cứ một ngoại bang nào đến với Việt
Nam cũng đều v́ quyền lợi riêng tư của họ, chứ chẳng phải v́
yêu thương hay giúp đỡ nước Việt Nam. Chẳng bao giờ có t́nh
nghĩa xă hội chủ nghĩa hay t́nh nghĩa tư bản chủ nghĩa. Chỉ
có “quyền lợi chủ nghĩa” giữa các nước mà thôi.
Đất nước bị chia hai, dân tộc bị chia hai, nhưng Hiệp định
Genève chỉ là một hiệp định “đ́nh chiến”, tức mới chỉ ngừng
tay đánh nhau, chứ chưa phải là hiệp ước ḥa b́nh. Sau chín
năm chiến tranh triền miên, dân chúng Việt Nam rất khao khát
ḥa b́nh, nhưng giấc mơ ḥa b́nh vẫn c̣n ngoài tầm tay của
người Việt. Ḷng dân muốn ḥa b́nh, nhưng những kẻ chủ
trương độc tài luôn luôn muốn tóm thâu quyền, luôn luôn muốn
gây hấn để toàn trị. Và như thế, vận nước chưa hết nổi
trôi, người Việt sẽ vẫn c̣n tiếp tục thống khổ...
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 14-7-2008)
CHÚ THÍCH
9. Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 5, Paris: Nam Á
2002, tr. 2642. Trong sách Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn
Tường, sđd. tr. 54, đăng bài dịch của bản “Tuyên bố” nầy,
nhưng phía dưới không có tên người kư. Tài liệu Pentagon
Papers cũng không có tên ai kư dưới bản tuyên bố.
10. Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, sđd. tr. 53 (10a),
tr. 56 (10b), tr. 58 (10c). Nguyên văn tiếng Pháp điều 7
như sau: “La Conférence déclare qu’en ce qui concerne le
Vietnam, le règlement des problèmes politiques, mis en
oeuvre sur la base du respect des principes de
l’indépendance, de l’unité et de l’intégrité territoriales,
devra permettre au peuple vietnamien de jouir des libertés
fondamentales, garanties par des institutions démocratiques
formées à la suite d’élections générales libres au scrutin
secret. Afin que le rétablissement de la paix ait fait des
progrès suffisants et que soient réunies toutes les
conditions nécessaires pour permettre la libre expression de
la volonté nationale, les élections générales auront lieu en
juillet 1956, sous le contrôle d’une commission
internationale composée de représentants des Etats membres
de la Commission internationale pour la surveillance et le
contrôle visée à l’accord sur la cessation des hostilités.
Des consultations auront lieu à ce sujet entre les autorités
représentatives compétentes des deux zones à partir du 20
juillet 1955.
(http://www.ena.lu/conference_geneve_20_21_juillet_1954-010703174.html).
Có thể xem thêm bản tiếng dịch Anh: Gravel (ed.), Pentagon
Papers, Vol. 1, pp. 279-282.
11. Ngày nay, vào Google.com, t́m “Déclaration finale de
Genève en 1954”, th́ có ghi rơ câu nầy ngay từ tiểu mục của
các bài viết: “Une déclaration finale en treize points, non
signée par les participants.. “ [Môt bản tuyên bố cuối cùng
gồm 13 điểm, không chữ kư của những người tham dự..]
12. Tiền Giang, bđd. số tháng 8-2007 (bài thứ 2), tr. 29.
Ông Nguyễn Văn Trấn, trong sách Viết cho Mẹ & Quốc hội, Nxb.
Văn Nghệ, California, 1995, có đề cập đến vấn đề người miền
Nam tập kết ra Bắc, nhưng cũng không cho biết cụ thể số
lượng người tập kết là bao nhiêu?
13. Theo Đoàn Thêm, đến ngày 30-10-1955 là ngày chính thức
chấm dứt cuộc di cư, số lượng người di cư tỵ nạn là 887,890
người. (Đoàn Thêm, sđd. tr. 195.) Thực tế ở ngoài c̣n cao
hơn nhiều.
14. Điển h́nh là Lê Duẩn, bí thư Xứ uỷ Nam bộ, ở lại miền
Nam đến 1957 mới ra Bắc. (Về sau, người ta mới biết điều
nầy.) (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập I-C: 1955-1963,
Houston, Nxb. Văn Hóa, 2000, tr. 17.)
15. Vũ Ngọc Nhạ: Khi di cư vào Nam năm 1954, Vũ Ngọc Nhạ làm
giám thị tại một trường học do linh mục Hoàng Quỳnh phụ
trách. Nhờ linh mục Hoàng Quỳnh giới thiệu, Vũ Ngọc Nhạ dần
dần được đưa vào làm việc ở phủ tổng thống dưới thời Đệ nhất
Cộng Ḥa. Vũ Ngọc Nhạ bị nghi ngờ, bị bắt một thời gian,
nhưng không có bằng chứng cụ thể nên được thả ra. Qua thời
Đệ nhị Cộng Ḥa, Vũ Ngọc Nhạ tiếp tục hoạt động, và bị bắt
trở lại vào ngày 28-7-1969 v́ tội làm gián điệp trong cụm
t́nh báo chiến lược A 22 của cộng sản.
16. Vũ Bằng (1914-1984), tên thật là Vũ Đăng Bằng, c̣n có
những bút danh khác là Tiêu Liêu, Lê Tâm, Vũ Tường Khanh,
Hoàng Thị Trâm, nguyên quán tỉnh Hải Dương, là một nhà báo
khá nổi tiếng ở Hà Nội trước năm1954 và Sài G̣n sau 1954.
Đặc biệt, theo tiết lộ của báo chí Hà Nội (báo Nhân Dân ngày
9-3-2000, báo An Ninh Thế Giới số 172, ngày 13-4-2000), Vũ
Bằng hoạt động cho Cục t́nh báo chiến lược quân sự của cộng
sản từ năm 1952. Năm 1954, Vũ Bằng di cư vào Sài G̣n tiếp
tục hoạt động với tư cách là cơ sở khai thác tin tức phục vụ
t́nh báo cho đến 30-4-1975. Tác phẩm để lại: Lọ văn (1936),
Một ḿnh trong đêm tối (1937), Truyện hai người (1940), Tội
ác và hối hận (1940), Để cho chàng khỏi khổ (1941), Cai
(1948), Ăn tết thủy tiên (1956), Khảo về tiểu thuyết (1960),
Bốn mươi năm nói láo (1969), Món lạ miền Nam (1970), Cái
lồng đèn (1971), Nhà văn lắm chuyện (1971), Những cây cười
tiền chiến (1971), Nói có sách (1972), Thương nhớ mười hai
(1972), và một số sách dịch.