|
GHI
LẠI NHỮNG CHIẾN TÍCH HÀO HÙNG CỦA DÂN TỘCVIỆT
QUA TRẬN HOÀNG SA THÁNG 1-1974 GIỮA VNCH VÀ TRUNG
CỘNG
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––-
MƯỜNG GIANG
Dân tộc
VN bao đời, luôn quan niệm sức mạnh của đất quan trọng hơn sức mạnh của
máu, có nghỉa là vấn đề thuần tuý giống nòi không bằng sự tồn tại của
giang sơn gấm vóc. Bởi vậy nên các vị vua nhà Hậu Lý đã đem nhiều công
nương gã cho các tù trưởng ở biên tái để dựa vào sự liên hệ gia đình làm
phên dậu, chống giặc Tàu. Vua Nhân Tôn nhà Trần đem Huyền Trân Công Chúa
gã cho vua Chế Mân để được thêm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Riêng
Sãi Vương đồng lúc hy sinh hai người con gái cưng của mình để gã cho vua
Chiêm, vua Chân Lạp với mục đích cũng chỉ vì an dân lợi nước.
Ngày nay qua những khai quật của lịch sử, việc quân Xiêm vào xâm lăng
đất đai Nam Kỳ, nói là do Nguyễn Ánh cầu viện, vẫn đang là một nghi vấn.
Nhưng sử viết vua Gia Long là người cực đoan, có tình yêu nước nồng nàn,
qua hành động không bao giờ chịu cắt một ly đất đai của nước ta, nhường
cho ngoại quốc, kể cả sứ bộ Bá Ða Lộc, từng vào sinh ra tử với Chúa,lúc
còn tẩu quốc , đó là sự thật.
Thời VNCH mặc dù chỉ tồn tại được hai mươi năm (1955-1975) nhưng ít ra
cũng đã giữ vững được gần như trọn vẹn lảnh thổ của tổ tiên để lại ngoại
trừ quần đảo Hoàng Sa vì thế yếu nên phải chịu mất vào tay giặc Tàu xâm
lược năm 1974.
Từ sau ngày 30-4-1975 chiếm được cả nước VN, ngụy quyền Hà Nội lúc nào
cũng rêu rao khoắc lác về độc lập tự do, vẹn toàn lãnh thổ. Thế nhưng
mọi sự đã lộ nguyên hình, khi thành tích bán nước cho Tàu, phản bội quê
hương bị toàn dân trong và ngoài nước phanh phui nguyền rủa. Nhờ vậy mà
những cái loa Việt Gian bợ đít VC , từ bấy lâu nay tại hải ngoại, mới
chịu khép miệng, vì không còn biết đâu mà mò.
Theo đó, ta biết trong năm 1999 và 2000, bọn chóp bu đảng gồm Ðổ Mười,
Lê Khả Phiêu, Nông Ðức Mạnh, Trần Ðức Lương, Phan Văn Khải, Nguyễn Mạnh
Cầm và toàn lũ trong Chính trị Bộ đã lén lút , ký kết 2 Hiệp Ước bất
bình thường, vô lý, phản bội dân tộc, trong sự Bán Ðất Biên giới và Bán
Vịnh Bắc Phần, cho giặc Tàu. Cũng may, thành tích trên sớm bị bật mí,
còn không hậu quả biết đâu mà lường, vì VC chuyện gì cũng dám làm, miễn
là bảo vệ được chiếc ngai vàng đẫm máu, để còn dịp vơ vét tài sản của
đất nước và đồng bào.
Từ năm 1884, Pháp coi như chính thức đô hộ VN. Từ đó thực dân độc quyền
ký kết , các hiệp ước song phương và những công ước quốc tế, về luật
biển, hải đảo cũng như biên giới giữa các nước. Năm 1885, Pháp ký với
Mãn Thanh hiệp ước Thiên Tân, hủy bỏ sự liên hệ giữa Nhà Nguyễn VN và
Trung Hoa, hủy bỏ ấn phong vương, phân định lại đường ranh giới bằng cọc
cắm và bản đồ. Năm 1887, Pháp và Trung Hoa lại ký Hiệp Ước Brévié, phân
ranh vùng Vình Bắc Phần, từ Trà Cổ (Móng Cáy), dọc theo kinh tuyến Ðông
108. Theo đó, phía tây đảo Bạch Long Vĩ là lãnh hải của VN, phía đông là
của Trung Hoa. Về sự tranh chấp hai quần đảo Hoàng SaTrường Sa, cũng
được quốc tế giải quyết năm 1882, theo công ước luật biển. Tháng
11-1993, công ước trên được LHQ phê chuẩn và thi hành vào năm 1994, với
170 quốc gia công nhận, trong đó có Trung Cộng và VC. Tóm lại đảng VC đã
dối trá quốc dân VN, lén lút họp kín với Giặc Tàu trong 20 phiên họp kín.
Rồi cũng tự động bí mật ký kết, còn quốc hội VC thì cũng lén lút thông
qua.
Tóm lại, tất cả những ký kết điều hoàn toàn sai trái về pháp lý quốc tế
và đạo lý dân tộc, đi ngược lại truyền thống hòa bình, tự chủ, không lấy
thịt đè người của bản tuyên ngôn nhân quyền. Tất cả đều là những âm mưu
xâm lăng, hay nói đúng hơn chính Hồ Chí Minh và đảng VC đã rước voi Tàu
về dầy mã Việt, ngay từ khi bắt đầu nhận viện trợ của Trung Cộng năm
1950 cho tới cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 (1960-1975) chấm dứt. Trung
Cộng lợi dụng quân viện và nhất là trong cuộc chiến biên giới năm 1979
giữa Việt-Trung, đã xua hàng triệu dân Tàu gốc thiểu số tại các tỉnh
biên giới, lấn đất dành dân, sâu trong nội địa VN. Theo báo chí ngoại
quốc, VC đã bán cho Trung Cộng tại biên giới Việt Hoa, hơn 15.600 km2 và
20.000 km2 lãnh hải trong vịnh Bắc Phần.. Như vậy tại Miền Bắc, ngày nay
VN đã mất hẳn những địa danh hồn thiêng sông núi như Ải Nam Quan, Thác
Bản Giốc, và Ðồng Ðăng với Phố Kỳ Lừa
‘ tiếng ai than khóc sầu thương
Nhị Hà nước xuống trùng dương xa mờ
Chương Dương, Hàm Tử ngàn xưa
Giờ sao sông núi, bụi Hồ vấn vương .. ’ ’
Lời thơ làm cho ai cũng phải ngậm ngùi khi nhớ lại gương sáng của người
xưa qua ý chí bất khuất của dân tộc Việt từ trong lịch sử thật kiêu hùng
như tiếng thơ của Trần Quang Khải sau khi phá tan quân Mông :
‘ Ðoạt sáo Chương Dương độ
Cầm hồ Hàm Tử quan
Thái Bình nghi nổ lực
Vạn cổ thử gian san ‘
Mười năm bình định giặc Minh đầy gian lao khổ cực, cuối cùng :
‘ Thôi Tụ phải quì mà xin lỗi
Hoàng Phúc tự trói để ra hàng
Lang Giang, Lạng Sơn thây chật đầy đường
Xương Giang, Bình Than máu trôi 9ỏ nước.. ’ ’
Hởi ôi những tinh thần khí phách trong ‘ Bình Ngô Ðại Cáo ‘ của Nguyễn
Trãi, Lê Lợi .. nay còn đâu nữa dưới thời Hồ ?
1 - THỦY CHIẾN ÐẠI VIỆT VÀ TÂY BAN NHA TẠI CỬA HÀN :
Từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, Ðại Việt thật sự đã chia
thành hai quốc gia đối nghịch, lấy sông Gianh làm ranh giới thiên nhiên,
kình chống nhau suốt 300 năm máu lửa. Do trên, các đời chúa Nguyễn đều
tăng cường quân bị để chống lại quân Trịnh. Chúa Nguyễn phúc Nguyên
(1614-1635), tăng quân từ 30.000-160.000. Ðời Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần
(1648-1687), quân đội được chia thành 3 loại : quân túc vệ đóng tại kinh
đô, quân chính quy phòng thủ các dinh và thổ binh coi an ninh tại các
làng xã. Tại các dinh, quân được phân thành dinh, cơ, đội, thuyền. Tóm
lại quân đội Ðàng Trong gồm nhiều binh chủng, trang bị đầy đủ và hùng
hậu.Bắt đầu từ thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã có xưởng đức súng, sân
bắn và trường huấn luyện voi, ngựa trận.. Tại kinh đô đã thành lập Ty
Nội Pháo Tượng và hai đội tả hữu pháo, coi việc đúc trọng pháo và súng
cá nhân. Thuyền chiến có tới 200 chiếc và thủy quân Ðàng Trong rất mạnh,
nên hai lần đánh bại hải quân Tây Ban Nha và Hòa Lan trên đông hải.
Năm 1592 Nguyễn Hoàng được lệnh vua Lê đem quân đánh nhà Mạc tại miền
bắc, con thứ sáu của ông là Nguyễn Phúc Nguyên thay thế, trấn giữ
Thuận-Quảng. Thời gian này sự giao hảo giữa Chân Lạp, Bồ và Tây Ban Nha
rất tốt đẹp. Năm 1593, vua Tiêm La Prah Rama tấn công kinh đô Oudong,
vua Chân Lạp Chan Pouha Tan cầu cứu Toàn quyền Tây Ban Nha Ruiz de Heman
Gonzalez, đóng tại Manila, Philippine nguyên là thuộc địa củ của Bồ Ðào
Nha bị chiếm vào năm 1565.
Tại Aạu Châu, từ năm 1580 , vương triều Soliman của Bồ Ðào Nha cũng sụp
đổ và bị Tây Ban Nha chiếm, do trên lực lượng hải quân nước này rất hùng
hậu và mạnh hơn Hòa Lan nhiều. Lúc đó vì toàn quyền Gomez sắp đánh
Moluques nên không giúp được Chân Lạp. Tới tháng 10-1593, Tây Ban Nha
mới sang giúp và hạm đội do chính Toàn quyền chỉ huy, gồm 4 chiến thuyền
rời Manila nhưng chỉ hai hôm sau thì xảy ra biến loạn. Hơn 250 phu chèo
người Trung Hoa đã nổi loạn, cướp thuyền, giết Gomer và hơn 80 lính Tây
Ban Nha, đồng thời cướp vũ khí và một chiến thuyền trốn về Tàu.
Do hậu quả trên, Tây Ban Nha đã thảm sát hơn 27.000 người trong số
30.000 Hoa kiều tại Phi Luật Tân vào năm 1603. Kế tiếp những năm 1639,
1660,1662,1668, 1755.. có gần hàng trăm ngàn di dân Trung Hoa bị giết
tại thuộc địa này. Riêng chiếc tàu của những người Trung Hoa kể trên
không may bị bão trôi vào và mắc cạn tại bờ biển Quảng Nam. Sau đó họ
được chính quyền Ðại Việt giúp đỡ cho nhập tịch, còn tàu và vũ khí bị
giữ lại.
Tháng 1-1596, con trai của Gomez là Louis Perez lên thế làm toàn quyền
tại Philiipine, liền mang ba chiến thuyền sang cứu Chân Lạp, đồng thời
đi tìm dấu vết những người Hoa phản loạn. Hạm đội do thiếu tướng hải
quân Juan Xuares Gallinato chỉ huy, cùng đi còn có hai tu sĩ Thiên chúa
dòng Ða Minh. Nhưng vì bảo tố nên ba chiến thuyền thất lạc mãi tới tháng
5-1596 mới gặp lại nhau tại cửa sông Tiền, thì được tin vua Pouha Tan đã
bị quân Tiêm đánh bại phải trốn sang Lào.
Rắc rối đã xảy ra khi tân quân Chân Lạp không chấp nhận các yêu sách của
Tây Ban Nha, nên chiến tranh đột phát. Quân Tây Ban Nha thiện chiến
nhưng ít nên cuối cùng phải bỏ Oudong chạy. Trên đường về, hạm đội này
tắp vào duyên hải của Chiêm Thành cướp giựt lương thảo. Tháng 8-1596,
hạm đội tới Quảng Nam và neo thuyền ở cửa Hàn, được chính quyền Ðàng
Trong giúp đỡ, tặng nhiều lương thực để tiếp tục cuộc hành trình. Riêng
hai giáo sĩ xin được phép ở lại để sang Vạn Tượng tìm vua Chân Lạp.
Giữa lúc đó thì Tây Ban Nha phát hiện được chiếc thuyền bị người Trung
Hoa cướp năm xưa, đang mắc cạn ở ven biển Quảng Nam, nên cho người tới
thẳng Thăng Long, yêu sách Vua Lê, chúa Trịnh phải trả thuyền, vũ khí và
những người Hoa làm loạn nhưng bị từ chối, đồng thời triều đình còn ra
lệnh trục xuất hạm đội Tây Ban Nha ra khỏi Ðại Việt.
Thế là chiến tranh xảy ra vào tháng 9-1596 giữa hai bên. Thế tử Nguyễn
Phúc Nguyên được lệnh tấn công thủy quân Tây Ban Nha. Theo tài liệu của
Cabaton đăng trong Revue d’histoire des colonie, xuất bản năm 1913, cho
biết trong trận thủy chiến dữ dội năm đó, một chiến thuyền Tây Ban Nha
đã bị thủy quân Ðàng Trong đốt cháy, những chiếc còn lại phải chạy trốn
ra khơi.
Chính gíáo sĩ Aduarte là người chứng kiến và kể lại trong hồi ký năm
1693 cũng xác nhận, quân thủy bộ của Ðại Việt rất hùng mạnh, các chuyến
thuyền phải khó khăn lắm mới trốn khỏi vòng vây ra khơi. Riêng giáo sĩ
Jimernes kẹt ở trong bờ, bị bắt làm tù binh nhưng được đối xử tử tế. Sau
đó, Tây Ban Nha mang vàng bạc tới Quảng Nam xin giảng hòa và chuộc tù
binh. Nguyễn phúc Nguyên đồng ý nhưng chỉ đòi bòi thường thiệt hại bằng
một khẩu súng hỏa mai.
Người Tây Ban Nha lấy đó làm nhục nên bỏ về Philiipine vào cuối tháng
6-1596. Tuy vậy ít lâu sau, chúa Nguyễn cũng cho phép giáo sĩ Jimernez
về nước, nhân có một thương thuyền Bồ Ðào Nha ghé vào Hội An buôn bán.
Mối thù vẫn dai dẳng và 15 năm sau, toàn quyền Tây Ban Nha lại muốn trả
thù nhưng vua chúa Madrid biết lực lượng Ðàng Trong rất mạnh, nên không
chấp thuận.
Hiền vương Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) nổi danh là một chiến tướng khi
còn là thế tử, qua trận thủy chiến lịch sử giữa Ðại Việt và hạm Ðội Ðông
Aãn của Hòa Lan. Trong cuộc phân tranh Trịnh Nguyễn, Hiền Vương là vị
chúa duy nhất vượt Nam Bố Chính, tấn công Bắc Hà vào năm Ất Mùi 1655.
Nhưng sự nghiệp để đời của NGÀI là mở rộng bờ cõi vào năm 1653 tới tận
bờ sông Phan Lang, đặt Dinh Thái Khương gồm hai phủ Thái Khương ( Ninh
Hòa) và Diên Ninh ( Diên Khánh). Năm 1658, tình hình Chân Lạp hỗn loạn
sau khi quốc vương Prea Chey Chetta II (chồng công chúa Ngọc Vạn) băng
hà. Nặc Oạng Chân tranh ngôi vua với quốc vương Batom Reacha Pontana
Reja (con trai Ngọc Vạn). Mượn cớ bảo vệ dân Việt, Hiền Vương sai tướng
Nguyễn Phúc Yên đem 3000 quân vào Miên đóng tại Mõ Xoài. Năm 1674 lại
tranh giành ngôi vua, Hiền Vương sai Cai cơ Nguyễn Dương đem quân chiếm
Sài Côn, Gò Bích, Nam Vang, chia Chân Lạp thành hai nước với hai kinh đô
Oudong và Sài Gòn. Năm 1679 các tướng nhà Minh là Dương ngạn Ðịch, Hoàng
Tiến, Trần thượng Xuyên, Trần An Bình cùng 50 chiến thuyền, vì không đầu
hàng Mãn Thanh, nên sang Ðàng Trong, xin phục tùng nhà Nguyễn. Dịp đó,
Hiền Vương sai họ vào khai khẩn đất hoang tại Biên Hòa và Ðịnh Tường,
năm đó ông qua đời thọ 68 tuổi.
2 - BANG GIAO GIỮA XIÊM LA VÀ ÐẠI VIỆT :
Xiêm La hay Thái Lan ngày nay có diện tích 198.455 sq.ml hay 512.998
km2, dân số tính tới năm 2004 là 55.448.000 người, thủ đô là Bangkok
(Vọng Các) chưa kể ngoại ô có 1.867.297 người. 95% người Thái theo Phât
giáo tiểu thừa.
Thật ra Xiêm không phải là quốc hiệu của người Thái. Ðó là cái tên mà
người Cao Mên và Chiêm Thành dùng để gọi họ. Ngay từ thế kỷ thứ XI, danh
từ SYAM đã thấy xuất hiện trên các văn bía của người Chàm tại Trung phần
VN, còn hình ảnh của người Syam, thì đầy rẩy nơi các di tích của người
Khmer, tại đền Angkor được dựng lên từ thế kỷ thứ XII sau TL.
Người VN theo cách gọi của Miên và Chàm, cũng gọi là Xiêm. Riêng người
Tàu qua lối phát âm Bắc Kinh, đọc là Tiêm, rồi ghép với tên của nước La
Hộc, tức là vùng Lyo ngày nay, thuộc Lopburi ở hạ lưu sông Mê Nam, thành
nước Tiêm-La. Còn người Pháp cũng dựa vào lối phiên âm Tàu mà đọc là
Siam, trong lúc người Anh thì nói trại là Saiam. Trong bộ Bách Khoa Từ
Ðiển của Ý Ðại Lợi (Enciclopedia Italiana), đã giải thích rằng Anh và
Pháp khi dùng tiếng Siam để chỉ người Thái, là căn cứ vào tiếng Saiam
Sayang của người Miến Ðiện dùng để chỉ người Xiêm, rồi đọc trại ra là
Siam hay Saiam.
Nhưng căn cứ vào sử liệu, ta thấy từ ngày lập quốc đến nay, người Thái
gọi mình là Thay, còn người Shan là Nghiện. Riêng danh từ Siam chỉ mới
xuất hiện gần đây. Do trên thời xưa, nước Thái Lan được gọi là Mường
Thay hay Prathet Thay. Ðời vua Rama IV (1851-1868), quốc hiệu mới được
đổi là Sayam (Xiêm), để đánh dấu nước này canh tân theo văn minh tây
phương. Năm 1939, tướng Phibul Songgram lên làm thủ tướng, mới đổi quốc
hiệu từ Xiêm sang Thái. Từ 1945-1948, tên nước trở lại là Xiêm và sau đó
tới ngày nay, chính thức là Thái. Với người Anh, họ phiên âm Thay thành
Thai, còn Prathet là Land, nên sau này gọi nước Xiêm là Thailand. Theo
cách đó, người Pháp viết là Thailande, còn VN thì đọc là Thái Lan.
+ NHỮNG GÂY CẤN GIỮA ÐẠI VIỆT VÀ THÁI LAN :
Từ đầu thế kỷ thứ XVII, người Việt đã tới khai hoang tại vùng Ðồng-Nai
và Mỏi-Xùy (nay là Biên-Hoà và Bà Rịa) của Chân Lạp. Vì muốn thoát khỏi
ảnh hưởng và sự kềm kẹp của Xiêm La đã có từ trước đến nay, nên quốc
vương nước này là Chey Chetia II sang cầu thân với Chúa Nguyễn Nam Hà,
để nhờ che chở. Nhân dịp đó, Chúa Hy Tôn-Nguyễn Phúc Nguyên đã vì dân
nước, nên đành đem con gái cưng của mình là Ngọc Vạn, gã cho vua này làm
Hoàng Hậu vào năm 1620, để lấy chỗ dựa cho dân Ðại Việt tới làm ăn tại
Chân Lạp. Chúa còn đem người con gái kế là Ngọc Khoa, gã cho vua Chàm để
mượn đường bộ từ Phú Yên vào Ðồng Nai, vì lúc đó nước Chiêm Thành vẫn
còn. Do trên Xiêm La đả kết thù với Ðại Việt, vì cả hai đều muốn giành
giựt ảnh hưởng tới Lào và Miên, vốn là hai nước nằm giữa rất yếu kém, do
nội loạn thường trực.
Năm 1672, Chey Croetha III làm loạn, giết cha vợ là vua Batom Reachea và
dắt quân Xiêm từ Nam Vang xuống Sài Côn, chiếm lại tất cả thành trì,
đồng thời đuổi giết người Việt đang khẩn đất làm ăn tại Ðồng-Nai, Mõ
Xùy. Năm 1674 Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần sai binh tướng sang Thủy Chân
Lạp, đánh đuổi quân Xiêm chạy về biên giới Miên-Thái, giết vua Nặc Ông
Ðài. Sau đó lập Năc Thu làm vua Lục Chân Lạp, đóng tại Nam Vang và Năc
Nộn là phó vương miền Thủy Chân Lạp, tại Sài Gòn. Từ đó người Miên thần
phục Chúa Nguyễn.
Năm 1687, quân Xiêm lại vào cướp phá đất Hà Tiên, bắt Mạc Cửu đem về
giam lỏng tại Muang Garaburi nhưng sau đó, ông đã trốn được về nước vào
năm 1700. Từ đó Mạc Cửu đem đất đai Hà Tiên và binh sĩ dưới quyền, xin
thần phục Nam Hà, nên được Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu phong chức tổng
binh.
Năm 1717, quân Xiêm tấn công Hà Tiên, Mạc Cửu binh ít chống cự không
nổi, nên phải bỏ thành lui về giữ Long Kỳ. Quân Xiêm vào tàn phá Hà Tiên
thành bình địa nhưng sau đó chiến thuyền bị bão đánh đắm trong vịnh Phú
Quốc, nên phải rút về nước. Mạc Cửu trở về kiến tạo lại Hà Tiên và đắp
thành ngăn giặc vào năm 1718.
Năm 1769, vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh đem quân thủy bộ tấn công Hà Tiên,
lại đặt đại bác trên núi Tô Châu bắn vào thành sát hại nhiều dân chúng
vô tội. Tổng binh Mạc Thiên Tứ vì binh ít và không có tiếp viện, nên
phải bỏ thành, cùng các con Mạc Tử Hoàng, Tử Thương, Tử Duyên.. lui về
Trấn Giang (Cần Thơ). Nhưng quân Xiêm đã bị các tướng lãnh trấn thủ
Long-Hồ và Ðông Khấu là Tống Phước Hợp và Nguyễn Hữu Nhân, đánh đuổi
phải bỏ Hà Tiên, chạy về cố thủ thành Nam Vang.
Năm 1772, Duệ Vương Nguyễn Phúc Thuần sai chưởng cơ Nguyễn Cửu Ðàm,
thống suất hai đạo Bình Khánh và Bình Thuận, gồm 10.000 quân thủy bộ và
30 chiến thuyền. Quân Nguyễn chiếm lại Hà Tiên và Chân Lạp, rồi đưa Nặc
Tôn về Nam Vang làm vua trở lại. Từ đó quân Nguyễn đóng luôn ở Nam Vang,
bảo hộ và làm cố vấn cho quốc vương Chân Lạp.
Năm 1780, vì tàu buôn bị cướp ở Hà Tiên, vua Xiêm nghe theo lời xúi của
quan Chân Lạp tên Bồ Công Giao, bắt cha con Mạc Thiên Tứ, Tử Hoàng, Tử
Thương, Tử Duyên cùng sứ thần của chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Xuân.. đem
xử trảm. Mạc Thiên Tứ lúc đó trên 70 tuổi, uất ức tự tử chết. Riêng gia
quyến của họ đều bị đầy lên tận biên giới Miến-Thái.
Năm 1782, vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh bị hai tướng Chất Trí và Sô Sĩ giết
chết. Chất Trí lên làm vua Xiêm, xưng Phật Vương (Rama 1), tha những
người Việt bị đầy , đồng thời giao hảo với chúa Nguyễn Ánh lúc đó đang
bị quân Tây Sơn đuổi giết tận tuyệt
Năm 1784, mượn cớ sang giúp Nguyễn Ánh, vua Rama 1, sai 2 vạn thủy quân
và 300 tháp thuyèn, do hai người cháu là Chiêu Sương, Chiêu Tăng sang
xâm lăng Nam Phần. Quân Xiêm chiếm các đạo Kiên Giang, Trấn Giang, Ba
Thắc, Trà Ôn, Sa Ðéc.. đồng thời cướp của giết người, không ai có thể
ngăn cản nổi. Sự kiện trên làm cho Nguyễn Ánh cũng phẫn uất nhưng phải
bó tay ví không còn binh lực để kềm chế giặc.
Cuối tháng chạp cùng năm, được tin quân Xiêm đã tới Ðịnh Tường, nên Long
Nhưỡng tướng quân là Nguyễn Huệ, từ Qui Nhơn đem quân thủy bộ vào chận
đánh, phá tan 2 vạn quân Xiêm tại vàm Rạch Gầm-Xoài Mút. Từ đó người
Xiêm sợ Ðại Việt như sợ cọp.
Năm 1817, sau khi chiếm được Stung Treng và Vạn Tượng của Lào. Quân Xiêm
tràn sang chiếm một phần cao nguyên Trung Phần, lúc đó gần như chưa có
chính quyền VN hiện diện. Bọn quan lại Xiêm cai trị đồng bào thiểu số
tại đấy rất tàn ác dã man. Tình trạng kéo dài tới thời Pháp thuộc mới
chấm dứt.
3 - NGUYỄN HUỆ TIÊU DIỆT QUÂN XIÊM TẠI ÐỊNH TƯỜNG:
+ Ðịa Danh Rạch Gầm, Xoài Mút (Mỹ Tho) :
Ðất Ðịnh Tường thuộc dinh Phiên Trấn, được Túc Tông Nguyễn Phúc Trú
thành lập vào năm 1731. Vào năm 1772 Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần đổi là
Ðạo Trường Ðồn, rồi thành Huyện Kiến An vào năm Gia Long nguyên niên
1801.
Năm 1802 lại cải thành Dinh Trấn Ðịnh, phiên trấn Ðịnh Tường. Ðời vua
Minh Mang (1820-1840), chính thức chia đất Nam Kỳ, thành sáu tỉnh trong
đó có tỉnh Ðịnh Tường. Danh xưng này tồn tại tới ngày 30-4-1975 thì mất
Riêng hai địa danh ‘ RẠCH GẦM-XOÀI MÚT’ nằm trong tỉnh Ðịnh Tường. Theo
các tài liệu cổ có từ thời nhà Nguyễn, thì Rạch Gầm ngày xưa được gọi là
Sầm Giang. Ðó là một con rạch dài chừng 15km, phát nguồn từ xã Long Tiên
(Cai Lậy), chảy qua các thôn xóm trù phú thuộc các xã Kim Sơn, Vĩnh Kim,
Mỹ Luông, Thuộc Phiên.rồi đổ vào sông Mỹ Tho (Tiền Giang) tại Kim Sơn.
Khi người Việt từ miệt ngoài, theo chân các Chúa Nguyễn vào đây khẩn
hoang lập ấp, thì vùng này toàn là rừng rậm cây cao, đầy các loại dã thú
như voi, cọp, trăn-rắn, heo rừng, cá sấu. Nói chung chỗ nào đêm ngày
cũng có tiếng cọp gầm voi rống, làm cho ai cũng kinh hồn, sởn óc, nhiều
người vô phước bị cọp vồ, cá sấu táp khi phá rừng làm ruộng. Do trên, tổ
tiên ta mới đặt tên vùng này là ‘ Rạch Cọp Gầm’. Về sau để dễ nhớ, nên
kêu là Rạch Gầm tới ngày nay không đổi. Ở đây cây cối sầm uất, hai bên
bờ rạch đầy dừa nước và nhiều cây bần mọc gie ra khỏi con rạch. Ðúng là
một vị trí chiến lược lý tưởng, để các nhà quân sự tài danh, áp dụng lối
đánh du kích, phản kích và nhất là hỏa công trận.
Vàm Rạch Gầm có bề ngang chừng 100m, thuộc xã Kim Sơn. Trên bờ có chợ
nhỏ, bán đầy các loại thổ sản miệt vườn như cam, quít, ổi, chuối ..
Nhưng chợ Rạch Gầm nổi tiếng xưa nay vẫn là Vú Sửa, món đặc sản bản địa,
ngon-ngọt hơn bất cứ nơi nào khác. Ðặc biệt, vú sữa lại đơm bông kết
trái đúng vào cuối đông sắp Tết Nguyên Ðán. Cũng theo tài liệu, thì xã
Kim Sơn được thành lập rất sớm trong trấn Ðịnh Tường, vào đầu thế kỷ thứ
XVIII, do tiên hiền Lê Công Báu, nhưng dân chúng kiêng cữ đã đọc là
Bích. Về sau ông được nhà Nguyễn phong làm Thành Hoàng và vẫn được dân
chúng điạ phượng thờ kính cho tới ngày nay.
Xoài Mút chảy từ Giòng Dứa thuộc Ấp Thạch Long tới Ấp Thạnh Hưng, xã
Phước Thạnh, rồi đổ vào rạch Xoài Hột và ra sông Mỹ Tho (Tiền Giang).
Khúc rạch này cũng giống như Rạch Gầm rất um tùm. Hai bên bờ đầy dừa
nước và cây bần mọc gie ra ngoài, tạo nên địa thế quanh co hiểm trở. Ở
đây ngày xưa mọc đầy một loại xoài trái nhỏ, hột to, cơm ít, nên muốn ăn
phải mút, nên mới xuất hiện danh xưng Xoài Mút. Ngày nay dân địa phương
đã chặt bỏ hết để lấy đất làm vườn, nên họa hoằn lắm mới thấy một vài
cây còn sót lại. Về hành chánh, thì Xoài Mút là tên con rạch, còn Xoài
Hột là tên của một ngôi chợ thuộc xã Thạnh Phú, kế xã Bình Ðức. Rạch Gầm
cách Xoài Mút 7km và thành phố Mỹ Tho chừng 14 km.
+ Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) : :
Trong dòng Việt sử, dù triều đại Tây Sơn hiện hữu thật ngắn ngủi
(1778-1802) nhưng qua hai chiến thắng bất hủ : Trận Thủy Chiến Rạch Gầm
tiêu diệt quân Xiêm và Xuân kỷ Dậu đại thắng quân Thanh, đã đưa tên tuổi
Quang Trung-Nguyễn Huệ, lên hàng Ðại Ðế, sánh bằng các quân vương-dũng
tướng của dân tộc Hồng Lạc mọi thời như Ngô Quyền, Lê Ðại Hành, Lê Thánh
Tông, Lý Thường Kiệt, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi,Nguyễn Trải,
Lê Thánh Tông, Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Hữu Cảnh, Lê Văn Duyệt..
Dù không đồng chính kiến nhưng tất cả các sử gia triều Nguyễn cũng như
đọc qua các thiên du ký của các nhà truyền giáo phương tây. Ai cũng xưng
tụng ông là một trong những thiên tài quân sự lửng lẫy của VN, có thể so
sánh với các tên tuổi như Ðại Ðế Alexander Le Grand của Hy Lạp và vua
Hung Nô Attila, là những thiên tài quân sự bách chiến bách thắng.
Giống như các bậc danh tài trên, trong khi dùng binh vua Quang Trung
luôn luôn theo đúng binh pháp Tôn Tử-Trần Hưng Ðạo-Nguyễn Trải, đạt yếu
tố bất ngờ, hành binh thần tốc và trên hết là biết tiên liệu tình hình
địch, trước khi quyết định bày binh bố trận và tấn công. Ngoài ra để nêu
gương với sĩ tốt cùng thuộc tướng dưới quyền, ông luơn luôn xông xáo nơi
trận mạc, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, lâm trận đi đầu hàng quân,
hiệu lệnh rất nghiêm minh. Bởi vậy, tướng sĩ ai cũng muốn hăm hở, lăn xả
vào cái chết, để được đền ơn nhà trả nợ nước, xứng đáng bổn phận làm
trai nước Việt. Ngoài thiên tài quân sự, vua Quang Trung còn được các sử
gia đề cao là một nhà chính trí có thao lược, điển hình qua cách chiêu
hiền đãi sĩ, kính trọng tài năng mọi người không phân biệt bất cứ một
ai. Riêng tư cách thì hòa nhã độ lượng, trong khi đối xử với vua Lê và
cái chết của chúa Trịnh Khải
Nói chung từ trước tới nay, qua dòng lịch sử, VN có ba thiên tài quân sự
là Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn, Bình Ðịnh Ðại Vương Lê Lợi và Ðại
Ðế Quang Trung-Nguyễn Huê. Nhưng mỗi người đều có phép hành binh riêng
biệt. Với Hưng Ðạo Vương, sở trường về lối đánh ‘ Dùng ít chọi đông ‘ mà
binh pháp gọi là Dàn Binh, Tướng Trận. Còn Bình Ðịnh Vương Lê Lợi thì
ứng dụng phép ‘ Dĩ Dật Ðãi Lao ‘, tức là lối đánh du kích, làm tiêu hao
lực lượng địch. Trái lại Quang Trung Nguyễn Huệ thì luôn luôn sử dụng
vận động chiến, tấn công địch trước trong tư thế mạnh với quân số, hỏa
lực, mưu kế và phương tiện.
+ Thủy Quân VN dười thời Tây Sơn :
Từ năm 1627-1672, Trịnh Nguyễn đã đánh nhau bảy lần, trên chiến trường
Nam và Bắc Bố Chánh (tỉnh Quảng Bình ngày nay), nhưng bất phân thắng
bại. Trong lúc giao tranh, cả hai phía gần như chỉ sử dụng bộ chiến, dù
cả hai đều có một đạo thủy quân rất quan trọng. Theo tài liệu của giáo
sĩ Alexandre de Rhodes, thì chúa Nguyễn ở Nam Hà có 200 chiến thuyền
loại Galéré, họ Trịnh ở miền Bắc có tới 600 chiếc. Còn Quang Trung
Nguyễn Huệ trái lại, đã đề cao vai trò thủy quân trên hết. Nhà vua đã
cách mạng hoá hải quân bằng lối đóng thuyền cho phù hợp với bờ biển VN,
trong đó đặt nặng việc trang bị vũ lực trên tàu thuyền.
Theo sử liệu, thủy quân Tây Sơn có nhiều tàu vận tải cũng như tàu chiến,
số lượng trên 1000 chiếc. Một du khách người Anh tên John Barraw, tới
thăm Ðàng Trong vào thế kỷ XVIII, đã viết :’Người Việt ở đây có một nghề
rất tự hào, đó là kỹ thuật đóng tàu đi biển ‘.Theo tác giả, thuyền của
Người Việt rất đẹp, chiều dài từ 50-80 pieds (1 pied bằng 0,30m), được
ghép bằng 5 tấm ván, ăn khít nhờ có mộng bên trong. Thuyền lại được chia
thành nhiều khoang kín, nên rất khó chìm.
Theo Jean Baptiste Chaigeau, một võ quan người Pháp từng theo giúp chúa
Nguyễn Ánh, cho biết thủy quân Tây Sơn gồm có nhiều hải đội, tổ chức
khác nhau tùy theo trang bị. Do đó có thủy đội gồm 9 tàu, mỗi chiếc được
trang bị tới 66 khẩu đại bác loại đường kính 24. Có thủy đội chỉ có 5
tàu, mỗi chiếc mang 50 khẩu đại bác cũng loại 24. Có thủy đội gồm tới 40
tàu, mỗi chiếc trang bị 16 khẩu đại bác cỡ 12 ly và một thủy đội đặc
biệt gồm 93 tàu, mỗi chiếc chỉ có một khẩu đại bác lớn, nòng cỡ 36.
Ngoài ra còn có 300 pháo hạm và 100 tàu buôn cỡ lớn. Tất cả tàu thuyền
của Tây Sơn đều dùng cánh buồm hình chữ nhật.
Về thủy quân trên tàu, thì mỗi thủy đội loại trang bị 66 khẩu đại bác,
có quân số trên 700 người. Quân Tây Sơn được trang bị rất mạnh, vũ khí
cá nhân gồm giáo mác, còn có súng điểm thương nhưng lợi hại nhất vẫn là
loại súng phun lửa, gọi là ‘ Hoả Hổ’ khi hai bên cận chiến. Nhờ những ưu
thế về trang bị cũng như kỹ thuật tác chiến, nên thủy quân Tây Sơn đã
thắng quân Xiêm một cách dễ dàng. Mặc dù lúc đó hạm đội Xiêm La cũng rất
tân tiến, vì được đóng theo kỹ thuật Tây Phương, mà người Việt gọi là
Tháp thuyền. Ðây là loại ghe tam bản rất cao lớn, trên có pháo tháp trí
súng đại bác. Các thủy thủ ngồi ngoảnh mặt về phía bánh lái mà chèo.
+ Thủy Chiến tại Rạch Gầm, Xoài Mút :
Các sử gia hiện nay, khi viết về chiến thắng của Vua Quang Trung tại
Rạch Gầm-Xoài Mút, đều thắc mắc về việc hành quân của Tây Sơn. Ngay khi
nghe hung tin, đại quân Xiêm La gồm thủy bộ hơn 50 vạn và 300 tháp
thuyền, đã chiếm gần hết các trấn tại Nam phần. Hiện thủy quân Xiêm đã
tới trấn Ðịnh Tường. Trong lúc đó Long Nhưỡng tướng quân là Nguyễn Huệ
còn ở tận Qui Nhơn. Vậy ngài đã cho thủy quân từ biển vào cửa Tiểu để
tới Mỹ Tho hay là vào cửa Cần Giờ, rồi men theo dòng Vàm Cỏ Tây để tới
Rạch Gầm Xoài Mút, tạo yếu tố bất ngờ, đối với quân Xiêm ? Chuyện này đã
không thấy các nhà sử học xưa đề cập tới, kể cả các tài liệu của quốc sử
quán triều Nguyễn.
Nhưng về chiến tích của trận thủy chiến lịch sử, thì hiện nay vẫn còn
đầy rẩy trên đất Ðịnh Tường cũng như trong kho tàng văn chương bình dân
bản địa, qua các bài hát ru em, ca dao, tục ngữ.. ’ ’ ’
‘ Ầu ơ, Rạch Gầm-Xoài Mút tăm tăm
xế xuống chút nữa, là vàm Mỹ Tho
bần gie đóm đậu sáng ngời
Rạch Gầm-Xoài Mút muôn đời oai linh
Chẻ tre bện sáo cho dầy
Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp nhau
Hay : ‘ gái Mỹ Tho mày tằm mắt phượng
Giặc đến nhà, chẳng vụng hươi đao.. ’ ’ ’
Ngày nay người dân sống ở rạch Bà Hào, kế rạch Gầm , vẫn thường hay kể
những chuyện ma quỷ xuất hiện, vào những đêm mưa to gió lớn, mà họ quả
quyết, đó là ma Xiêm, chưa được siêu thoát, dù cuộc chiến đã tàn hơn vài
thế kỷ. Cũng ở vùng này, còn có một địa danh mang tên là ‘ Nghĩa địa
Xiêm’ vì có nhiều thuyền tháp bị chìm, hiện vẫn còn trơ các hàng cột ở
Ðìa Ðôi (Ấp Hội), đầu cồn Phú Túc (Bến Tre). Ngoài ra còn nhiều quân
dụng của lính Xiêm bỏ lại trận địa, được tìm thấy như súng thần công,
gươm giáo, ấm, chén, nồi đồng.. tại vàm Rạch Gầm.
Mùa thu năm 1785, vin vào cớ giúp Nguyễn Ánh đang bị quân Tây Sơn truy
sát. Vua Xiêm Rama 1, cho 50 ngàn quân thủy bộ, tấn công VN bằng hai
cánh quân. Lộ quân bộ chiến gồm 3 vạn, từ Nam Vang vào Nam Phần. Cánh
thứ hai gồm 20 ngàn thủy quân, với 300 tháp thuyền. Cánh quân thủy này
do hai người cháu của vua tên Chiêu Sương và Chiêu Tăng thống lãnh, theo
đường biển, vào cửa Rạch Giá ngày 25-7-1785. Hai đạo quân Xiêm thế mạnh
như chẻ tre, lần hồi chiếm hết các dinh trấn tại Nam phần như Kiên
Giang, Trấn Giang,Ba Thắt, Trà Ôn, Măng Thít.. và tới Ðịnh Tường. Bấy
giờ đạo quân tinh nhuệ nhất của chúa Nguyễn Ánh ở Nam Phần đã bị tan vỡ
vì chúa tướng là Châu Văn Tiếp tử thương, nên không còn ai có thể cản
nổi quân Xiêm. Do đó, trên bộ cũng như dưới sông, quân Xiêm tới đâu,
cũng cướp của giết người, hãm hiếp phụ nữ Việt, tiếng than oán vọng tận
trời cao, thật là thảm tuyệt.
Tin dữ tới Phú Xuân, nên Long Nhưỡng tướng quân được lệnh, tức tốc đem
quân thủy bộ từ Qui Nhơn vào Nam cứu viện. Lúc đó trời đang cuối đông,
chỉ còn vài ngày nửa là đón Tết Giáp Thìn 1785. Ðể có thể tiêu diệt quân
Xiêm đang trong thế mạnh và đông hơn quân ta, ông cho bày diệu kế, bằng
lối mai phục rồi bất thần đánh úp tàu giặc đang neo đầy trên sông Mỹ
Tho, giữa đọan Rạch Gầm-Xoài Mút. Ðồng thời dùng hỏa công trận, để thiêu
rụi toàn bộ thủy quân Xiêm.
Mở đầu cuộc tấn công, quân Tây Sơn dùng cùi, lá và dầu dừa trộn chung
với dầu mù u để làm bè lửa. Lại bày nghi binh kế, bằng cách lấy vỏ dừa
khô rồi vẽ mặt người, đoạn kết thành bè, thả trôi lềnh bềnh gần chỗ
thuyền giặc đậu. Chính diệu kế này, khiến cho quân Xiêm hoảng hốt, cứ
ngỡ là quân Tây Sơn lặn đục thuyền, nên các tàu liên tiếp nhả đạn cho
tới hết. Ðể nắm vững tình hình trận chiến, ông cho dựng hai chòi chỉ huy
ở hai đầu sông, một tại Chùi Mong (đầu rạch Xoài Mút), còn chòi kia ở
vàm Rạch Gầm. Hai chòi chỉ huy có nhiệm vu ban lệnh tấn công, khi thấy
thuyền quân Xiêm lọt hết vào trận địa. Ngoài ra không muốn để cho một
thuyền giặc nào còn sống sót, Nguyễn Huệ cho chẻ tre bện thành sáo dầy
có cột đá hòn, để ngăn dòng Tiền Giang, tại Ấp Tây, thuộc xã Kim Sơn,
ngược vàm Rạch Gầm khoảng 1 cây số.
Khi toàn bộ chiến thuyền của Quân Xiêm đã lọt vào khúc sông trận địa, do
tín hiệu từ hai chòi chỉ huy cấp báo, lập tức ông ban lệnh tấn công. Lúc
đó giữa sông thì lửa đốt, còn trên bờ dùng đại bác, tên và súng phóng
lửa nhắm vào 300 tàu giặc mà bắn. Vì quá bất ngờ, nên hai đại tướng
Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng 300 tháp thuyền với 20.000 quân, trở tay
không kịp, lớp thì chết cháy, phần khác bị quân Tây Sơn giết. Chiêu
Sương cùng Chiêu Tăng và vài ngàn tàn quân may mắn lội được vào bờ ,
cùng với quân bộ chiến, dùng đường bộ chạy về Nam Vang, rồi rút hết về
Vọng Các, vì sợ quân Tây Sơn truy sát. Từ đó người Xiêm La bỏ mộng tranh
bá đồ vương với Ðại Việt trên bán đảo Ðông Dương, đồng thời sợ người
Việt hơn cọp.
4 - HẢI CHIẾN HOÀNG SA GIỮA VNCH VÀ TRUNG CỘNG :
Thật sự người Tàu chỉ chú ý tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của
VN từ đầu thế kỷ XX vì dầu hỏa, khí đốt và vị trí chiến lược của hai đảo
trên. Sự tranh dành cướp chiếm bắt đầu từ thời VN bị thực dân Pháp đô
hộ, vì mất chủ quyền nên không vòm binh lực để bảo vệ lãnh thổ riêng của
mình. Khi VN đã dành lại được độc lập, ngày 21/12/1959 Hải quân VNCH với
sự trợ chiến của Tiểu đoàn 1 Thủy Chiến Lục Chiến , đã đánh Tàu Cộng ,
chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Duy Mộng, Quang Hòa trong nhóm Nguyệt
Thiềm, bắt giữ 84 tù binh và 5 thuyền binh nguy trang tàu đánh cá. Ngày
27/2/1959 Trung Cộng sau khi thua trận, đã ra thông cáo mạt sát Chính
phủ VNCH xâm phạm chủ quyền của Tàu, vì chính Hô Chí Minh cũng như Pham
văn Ðồng đã chính thức xác nhận bằng văn kiện, là hai quần đảo trên qua
tên Tây Sa, Nam Sa là lãnh thổ của Trung Hoa. Tuy nhiên để giữ hòa khí
giữa hai nước, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã thả hết số tù binh trên về
nước.
Tại Bắc Việt, Hồ Chí Minh họp đảng để nhất trí và ban lệnh cho Phạm Văn
Ðồng , ký nghị định công nhận ngày 14-9-1958. Vin vào đó, ngày 4-9-1958,
Trung Cộng vẽ bản đồ mới và tuyên bố lãnh hải của mình là 12 hải lý. Bản
tuyên cáo này chỉ có Bắc Hàn công nhận đầu tiên. Ngày 9-1-1974,
Kissinger tới Bắc Kinh mật đàm với Mao Trạch Ðông, được cho coi văn kiện
mà Phạm Văn Ðồng đã ký xác nhận , hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của
VNCH, chính là hai đảo Tây Sa-Nam Sa của Tàu. Theo văn kiện và tuyên cáo
lãnh hải 12 hải lý, thì chính VNCH đã chiếm đất của Trung Cộng, từ năm
1958, do VC làm chứng và xác nhận. Ðược cơ hội vàng ròng, tên cáo già
Kissinger tương kế tựu kế, nhân danh Nixon, bật đèn xanh, cho Mao đánh
VNCH, đề thu hồi lãnh thổ.
Sau khi đạt được thắng lợi ngoại giao với Hoa Kỳ qua cặp
Nixon-Kissinger, đồng thời với sự đồng lỏa của Việt Cộng, nên giặc Tàu
quyết tâm chiếm cho bằng được hai quần đảo ngoài Ðông Hải của VNCH. Dã
tâm càng lớn từ năm 1973, sau khi được tin các hảng dầu thăm dò cho biết
vùng này có trử lượng rất lớn về dầu khí. Lúc đó VNCH cũng đã bắt đầu ký
nhiều hợp đồng, cho phép các hảng dầu tới hai vùng đảo trên khai
thác.Thế là ngày 11-1-1974, Trung Cộng lại tuyên bố chủ quyền trên hai
quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa. Ngày 19-1-1974, bất thần Trung Công tấn
công Hoàng Sa , gây nên trận hải chiến, tuy ngắn ngủi nhưng đẫm máu.
Trung Cộng dù chiếm được đảo nhưng thiệt hại gấp 3 lần VNCH.
Quần đảo Hoàng Sa thời Ðệ I Cộng Hòa (1955-1963) thuộc tỉnh Quảng Nam.
Cũng trong thời kỳ này, chính phủ đã ban hành sắc lệnh số 134/NV ban
hành năm 1956, sáp nhập quần đảo Trường Sa, vào tỉnh Phước Tuy. Nghị
định số 241/BNV ban hành ngày 14-12-1960, do chính Tổng thống Diệm bổ
nhiệm Nguyễn Bá Thước làm Phái viên hành chánh Hoàng Sa. Lại phối trí
Tiểu đoàn 1 TQLC trú đóng khắp các đảo, để bảo vệ lãnh thổ VNCH.
Theo sử liệu, trong trận hải chiến này, lực lượng hải quân của Trung
Cộng rất hùng hậu vì đã chuẩn bị trước. Thành phần tham chiến gồm : Hộ
tống hạm 271 Kronstadt, Ðại Tá Vương Kỳ Uy là hạm trưởng, tử thương. Hộ
tống hạm 274 Kronstadt, Hạm trưởng là Ðại Tá Quan Ðức. Ðây cũng là Soái
hạm, chỉ huy trận chiến, gồm Tư lệnh là Ðô Ðốc Phương Quang Kính, cũng
là Phó tư lệnh của Hạm Ðội Nam Hải. Sau trận đánh, toàn bộ chỉ huy của
Trung Cộng trên Soái Hạm này, gồm 2 Ðề Ðốc, 4 Ðại Tá, 6 Trung Tá, 2
Thiếu tá và 7 Sĩ Quan Cấp uý, đều bị trúng đạn đại bác tử thương. Trục
lôi hạm 389, hạm trưởng là Trung Tá Triệu Quát tử thương. Trục lôi hạm
396, Hạm trưởng là Ðại Tá Diệp Mạnh Hải, tử thương. Phi Tiễn Ðỉnh 133
Komar, có hỏa tiễn địa điạ Styx, Hạm trưởng là Thiếu tá Tôn Quân Anh.
Phi tiễn đỉnh 137 Komar, có hỏa tiễn địa địa Styx, Hạm trưởng là Thiếu
Tá Mạc Quang Ðại. Phi tiễn đỉnh 139 Komar có hỏa tiên, Hạm trưởng là
Thiếu tá Phạm Quy. Phi tiễn đỉnh 145 Komar có hỏa tiễn, Hạm trưởng là
Thiếu Ta Ngụy Như và 6 Hải Vận Hạm chở quân chiến đấu. Ngoài ra còn một
lực lượng trừ bị gồm 2 Tuần Dương Hạm, 4 Pháo Hạm, 4 Khu trục Hạm ,
trang bị hỏa tiễn Kiangjiang, 2 Phi đội Mig 19 và 2 phi đội Mig 21, do
tư lệnh Hạm Ðội Nam Hải, tổng chỉ huy.
Bên VNCH, lực lượng tham chiến gồm Khu Trục Hạm HQ4 Trần Khánh Dư, Hạm
Trưởng Trung Tá HQ.Vũ Hữu San. Tuần Dương Hạm HQ5 Trần Bình Trọng , Hạm
trưởng Trung Ta HQ Phạm Trọng Quỳnh. Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10, Hạm
Trưởng Thiếu Tá HQ.Ngụy Văn Thà. Trong khi giao chiến, HQ10 bị trúng
đạn, toàn thể thủy thủ xuống xuồng nhỏ, thì Hạm Trưởng ở lại tuấn quốc
với chiến hạm. Tuần Dương Hạm HQ16, Hạm Trưởng là HQ.Trung Tá Lê Văn
Thư. Về lực lượng trừ bị,, có Tuần Dương Hạm HQ6 Trần Quốc Toản, Hộ Tống
Hạm HQ11 Chí Linh và Phi Ðoàn F5-A37, nhưng vì ở cách xa chiến trường,
nên khi chưa tới nơi, thì chiến cuộc đã tàn. Riêng Sư Ðoàn 1 Không Quân,
không can thiệp.. Kết quả, phía VNCH, các chiến hạm 4,5 và 16 bị hư hại
nặng nhưng chạy được về Ðà Nẳng sửa chữa và tiếp tục hoạt động sau đó.
Chỉ có Chiến Hạm HQ10 bị chìm, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà, bị thương nhưng
quyết ở lại chết với tàu. Về phía Trung Cộng, Tư Lệnh Mặt Trận, Bộ Tham
Mưu và 4 Hạm Trưởng tử thương. Hộ Tống Hạm 274 bị chìm, Hộ Tống Hạm 271
và 2 Trục lôi hạm 389-396 bị hư nặng và phá hủy cùng với 4 ngư thuyền bị
bắn chìm
Có một điều bi thảm mà hiện nay ai cũng biết, là hầu hết các Chiến hạm
mà Hoa Kỳ đã viện trợ cho Hải Quân VNCH, đều được hạ thủy năm 1940, loại
phế thải được tân trạng. Bốn Chiến hạm tham chiến năm 1974, được coi là
tối tân nhất , vì HQ4 hạ thủy năm 1943, HQ5 hạ thủy năm 1944, HQ10 hạ
thủy năm 1942 và HQ16 hạ thủy năm 1942. Riêng các vũ khí trên tàu, các
loại súng liên thanh đều được gở bỏ , khi cho VNCH. Nhưng dù quân lực
Miền Nam ít, chiến hạm vừa cũ kỹ lại nhỏ, vũ khí trang bị, chỉ có đại
bác nhưng vì Các Sĩ Quan Hải Quân VNCH đều được huấn luyện như Âu Mỹ,
rất thiện chiến và tài giỏi. Cho nên đã tác xạ rất chính xác, làm nhiều
tàu giặc cũng như Hạm trưởng tử thương. Tệ nhất là người Mỹ, lúc đó vẫn
còn là đồng minh của QLVNCH, vẫn đang có hiệp ước hỗ tương chiến đấu và
bảo vệ cho nhau. Vậy mà khi cuộc chiến xảy ra, Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ đang
tuần hành gần đó, chẳng những đã không lên tiếng, không can thiệp mà
ngay thủy thủ VNCH bị chìm tàu,, cũng không thèm cứu vét, theo đúng luật
hàng hải quốc tế.
Theo các nhân chứng đã tham dự cuộc hải chiến kể lại, thì lúc đó các
chiến hạm của Hải quân/VNCH , đã chống trả với giặc rất dũng mãnh, nên
chỉ trong mấy phút đầu, đã có nhiều tàu chiến của Trung Cộng đã bị bắn
chìm. Về phía VNCH, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HO.16, bị bắn trúng
bánh lái và sườn tàu, được HQ.11 dìu về Ðà Nẳng. Trên chiến trường lửa
máu, chỉ còn HQ.10 và Hộ tống hạm Nhật Tảo, vùng vẩy chiến đấu vời hằng
chục chiến hạm của Trung Cộng, được Không quân từ các căn cứ trên dảo
Hải Nam tới yểm trợ.
Cuối cùng Hộ tống hạm Nhật Tảo đã bị bắn cháy và chìm giữa biển Ðông.
Hạm trưởng chiến hạm này là Trung Tá HQ.Ngụy Văn Thà,tốt nghiệp khóa 12
sĩ quan hải quan Nha Trang, sinh năm 1943 tại Trảng Bàng, Tây Ninh. Khi
tàu lâm nạn, với tư cách là chỉ huy trưởng, Trung Tá Thà đã ra lệnh cho
Hạm Phó là Thiếu Tá HQ. Nguyễn Thành Trí, sinh năm 1941 tại Sa Ðéc, Tốt
nghiệp khóa 17 sĩ quan hải quân/Nha Trang, hướng dẫn số quân nhân còn
sống sót, trong tổng số 80 người trên tàu, dùng bè cao su về đất liền.
Riêng Ông ở lại chết với tàu.
Trên biển, Thiếu tá Trí vì bị thương nặng nên đã chết trên bè, trước khi
các quân nhân còn lại, được thương thuyền Skopionella của Hòa Lan, trên
đường từ Hồng Kông đi Tân Gia Ba, cứu sống vào đúng đêm giao thừa Tết âm
lịch Nhâm Dần (1974). Sau đó 22 quân nhân này được một chiến hạm cũa Hải
Ðội 1 Duyên Phòng, đón về đất liền. Còn 16 Biệt Hải của Tuần Dương Hạm
Lý Thường Kiệt, có lệnh giữ đảo Vĩnh Lạc, sau khi Hòang Sa thất thủ, đã
dùng bè cao su vượt biển về đất liền. Lênh đênh nhiều ngày trên sóng
nước, nắng mưa gió lạnh, cuối cùng cũng được một Tàu đánh cá cứu thoát
đưa về điều trị tại Quân Y Viện Qui Nhơn, 2 người chết vì đói lạnh, số
còn lại may mắn thoát được tử thần.
Cuộc hải chiến chấm dứt, các chiến hạm của VNCH đều rút lui, vì Hoàng Sa
đã thất thủ. Bấy giờ giặc Tàu mới bắt đâu thu dọn chiến trường và xua
quân chiếm đóng tất cả các đảo. Về phía VNCH còn kẹt lại trên đảo, gồm
Trung đội DQP.Quảng Nam, các quân nhân Hải quân, 7 Sĩ quan công binh
trong toán khảo sát địa chất, 4 nhân viên sở khí tượng và 1 người Mỹ làm
việc ở Tòa lãnh sự Hoa Kỳ thuộc Quân đoàn 1. Tổng cộng là 42 người, đều
bị giặc bắt làm tù binh, giải về thành phố Quảng Châu và giam trong một
trại tù, cạnh dòng sông Sa Giang. Ðây cũng chính là nơi mà hơn mấy chục
năm về trước, liệt sĩ Phạm Hồng Thái đã gieo mình tự vẫn, để không bị sa
vào tay giặc Pháp, sau khi ném bom ám sát hụt Merlin, toàn quyền Ðông
Dương đang có mặt tại Hồng Kông.
Lúc đó đúng 8 giờ sáng ngày mồng một tết nguyên đán, thời gian hạnh phúc
nhất của các dân tộc Á Ðông vui xuân theo âm lịch, trong đó có VNCH.
Riêng 42 tù binh VN liên tục bị bọn an ninh Trung Cộng , tra vấn, bắt
buộc phải nhận tội là đã chiếm đóng bất hợp pháp lãnh thổ của Tàu. Nhưng
rồi không biết vì sao, Ðặng Tiểu Bình ra lệnh phóng thích tất cả, đưa
tới Hồng Kông để mọi người hồi hương.
Lịch sử lại tái diển, ngày 14-3-1988, Trung Cộng lại nổ súng vào Hải
quân Việt Cộng, tại quần đảo Trường Sa. Trong cuộc hải chiến ngắn ngủi
này, vì VC chỉ phản ứng có lệ, nên tài liệu cho biết phía Trung Cộng ,
không có ai bị tử thương cũng như tàu chìm. Ngược lại, bên VC có nhiều
tàu chiến bị chìm, gồm : Chiến Hạm Thượng Hải của Tàu viện trợ , 1 Tuần
Dương Hạm củ của VNCH để lại, 1 Hải Vận Hạm của Nga Sô viện trợ và trên
300 lính Hải quân bị thương vong.
Việc Cọng sản Hà Nội tự chuyên lén lút bán nước cho Trung Cộng, nay đã
là một biển hận, trời hờn, làm cho người Việt, bất cứ là ai, khi biết
được cũng xấu hổ và căm thù bọn phản bội dân tộc. VN mất Ải Nam Quan,
coi như đã tự mình hủy diệt một niềm tin quyết thắng, vì Nam Quan là hồn
thiêng của sông núi, mà bất cứ một người VN nào khi chào đời, cũng đều,
thuộc lòng. Giặc Tàu bao đời nuôi mộng phanh thây chiếm nước người Việt
nhưng bao đời chúng đều bị người Việt, chận đứng trước cửa Nam Quan, vì
đây chính mồ chôn quân xâm lăng phương Bắc.
Năm 1473, khi Thái bảo kiến dương bá Lê Duy Cảnh, được giao nhiệm vụ
trấn giữ Ải Nam Quan, Vua Lê Thánh Tông đã ân cần nhắn gửi người ra đi
:’ Một thước núi, một tấc sông của ta, không được bỏ. Nếu ngươi làm mất,
tội đó phải tru di’. Lý Thường Kiệt khi đại chiến với quân Tống, dã viết
‘ Nam Quốc Sơn Hà, Nam Ðế Cư’ xác quyết đất đai của người Việt muôn đời
là của Nước Việt, không có ai được quyền xâm lấn hay bán nhượng. Trái
lại VC thì lúc nào cũng to miệng nhục mạ nhà Nguyễn, vua Gia Long là
cõng rắn cắn gà nhà, quy tội cho người Việt không cọng sản là Việt gian,
Mỹ Ngụy.. Nhưng cuối cùng, khi Pháp rời Ðông Dương năm 1955, đã trả lại
sông núi cho người Việt, không thiếu một tất đất, kể cả những cơ sở, đồn
điền cũng giao hoàn. Suốt thời gian nội chiến 1955-1975, VNCH không hề
bán nhượng cho Hoa Kỳ một cọng cỏ vì tới sáng ngày 30-4-1975, Mỹ đã rút
hết về nước. Trái lại VC trong suốt bao năm, làm đủ chuyện phản tặc, từ
công nhận Hoàng Sa-Trường Sa là của Tàu, rồi tiếp tục bán nhượng đất
đai, sông núi của Tổ Quốc, đó là chưa nói tới, cái sự đem đất thế chấp
làm vốn, để đầu tư với Tư bản kiếm tiền bỏ túi.
Trước năm 1975, lúc nào cũng nói VNCH tham nhũng, độc tài, Diệm-Nhu,
Thiệu ốKỳ chạy theo Mỹ, nay rõ ràng hơn chính đảng VC và Hồ Chí Minh,
mới đích thực sự là đầy tớ, hết Nga tới Tàu, nay sắp bỏ chân qua
Mỹ-Nhật. Còn Cán bộ đảng thì tham nhũng, hốt trọn tài sản của dân nước,
chuyển hết ra nước ngoài, rửa tiền , đầu tư, làm giàu và hưởng thụ, ai
chết mặc bây. Ðó chính là thành tích lịch sử của Ðảng VC trong ba mươi
năm quốc hận.
Dân tộc Việt trong dòng sông lịch sử, cũng đã chấp nhận luật chơi ‘ mạnh
được yếu thua’, cho nên nay vì bất hạnh bị đảng VC hèn mạt cầm quyền, đã
phải liên tục mất mát đất đai biển đảo vào tay giặc Tàu. Nhưng lịch sử
luôn là sự trùng hợp, chắc chắc con cháu người Việt trong tương lai gần,
sẽ quật khởi chiếm lại tất cả lãnh thổ. kể cả hai quân đảo Hoàng Sa và
Trường Sa, bị VC dâng bán cho giặc khi cầm quyền. Thời nhà Trần, quân
Ðại Việt dưới tài lãnh đạo của các vua Trần và Hưng Ðạo Ðại Vương, một
lòng tử chiến nên cuối cùng đã chiến thắng quân Mông-Nguyên ba lần, khi
chúng xâm lăng Ðại Việt. Nhờ vậy :ngày nay ta mới có :
‘ Nam quốc sơn hà , Nam đế cư
tiệt nhiên định phận tại thiên thư
như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
nhữ đẳng hành khan thử bại hư ‘
Ngày nay nhờ đọc lại những trang sử cũ, ta mới thấy tiền nhân đã mở dựng
và giữ nước thật là gian lao cực khổ, có thể nói là người Việt đã đem
máu và nước mắt của mình, để tô bồi làm xanh thêm đất, khiên hoa cỏ mới
nở rộ được khắp thôn làng, đê cho chúng ta thênh thang tọa hưởng.
Bổng thấy thấm thía tận cùng về lời nói của vị thánh quân Lê Thánh Tôn
cách ta hằng bao thế kỷ : ‘ phải giữ gìn cẩn thận, đừng để ai lấy mất
một phần sông núi của tổ tiền để lại’. Xem như thế đủ chứng tỏ rằng tiền
nhân từ thời xa xưa, đã thấy trước dã tâm xâm lăng đồng hoá nước Việt
của giặc Tàu, nên lúc nào cũng đoàn kết để ngăn chống ngaọi xâm.
Vậy mà ngày nay cọng sản VN lại liên tiếp, hết bán đất biên giới, hải
đảo, tới sang nhượng biển vùng đánh cá ngàn đời của dân tộc trên biển
đông, làm cho cơn hồng thủy sóng thần nỗi dậy, trước sự bất lực ù lỳ của
một tập đoàn cầm quyền, đang làm nô lệ cho Trung Cộng và tất cả ngoại
bang, bất chấp quốc nhục
Ðúng như sử gia Hoàng Xuân Hãn đã viết :’ trong dòng lịch sử Việt, khi
thế nước bị suy vi hèn yếu vì chia rẻ, thì giặc Tàu mới dám lấn đất dành
biển ‘.
Không biết ngày nào cả nước mới có dịp theo sau gót ai, để đánh đuổi rợ
Hồ, quang phục đất nước, như ngày xưa dân Việt đã theo sau bóng voi của
Quang Trung Ðại Ðế vào Rạch Gầm-Xoài Mút đốt tàu giặc Xiêm hay ra Bắc Hà
đánh đuổi quân Mãn Thanh chạy về Tàu vào những ngày Tết Kỷ Dậu 1789.
‘ Nhà tan sống cũng lạc loài
thánh hiền sách nát đọc hoài hay sao ?
biển Ðông sóng vổ aò aò
ta nương cánh gió đi vào cõi xa
ngày mai cũng có một ngày
theo chân voi trận để vào Thăng Long.. ’ ’ ’
Xóm Cồn
Những ngày cuối Chạp 2008
MƯỜNG GIANG |