Những huyền
thoại về Hồ Chí Minh:
1.- HUYỀN THOẠI VỀ NGƯỜI CHA
Theo sách
Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử
và sự nghiệp, của nhà xuất bản Sự thật
(Hà Nội), Hồ Chí Minh "sinh ra trong một
gia đ́nh nhà nho yêu nước, nguồn gốc nông
dân. Cụ thân sinh ra Người
[họ Hồ]
là Nguyễn Sinh Huy, tức Nguyễn Sinh Sắc
(1863-1929)...đỗ phó bảng và sống thanh bạch
bằng nghề dạy học. Đối với các con, cụ giáo
dục ư thức lao động và cho học tập để hiểu
"đạo lư làm người". Sau khi đỗ phó bảng, bị
bọn thống trị thúc ép nhiều lần, cụ ra làm
quan, nhưng thường tỏ thái độ tiêu cực,
không hợp tác với chúng. Cụ thường nói:
"Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu
nô lệ", nghĩa là "Quan
trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại
càng nô lệ hơn".
Vốn có tinh thần yêu nước, khảng khái, cụ
thường chống đối bọn quan trên và bọn thực
dân Pháp, cho nên sau một thời gian rất
ngắn, cụ bị chúng cách chức. Cụ vào Nam bộ
làm nghề thầy thuốc, sống cuộc đời thanh
bạch, cho đến lúc từ trần. "
(1)
Ông Nguyễn Sinh Sắc quả thật đă đỗ phó bảng
năm 1901 (Tân Sửu) cùng một lần với Nguyễn
Đ́nh Hiến, Phan Chu Trinh (2). Tuy nhiên,
Nguyễn Sinh Sắc không hề bị
"bọn
thốngtrị thúc ép nhiều lần"
sau khi đỗ
phó bảng mới chịu ra làm quan . Ông Sắc đă
xin đi làm quan ngay sau khi đỗ cử nhân và
trước khi đỗ phó bảng. Nguyên vào năm 1894,
Nguyễn Sinh Sắc đỗ cử nhân tại trường thi
Nghệ An. Năm sau (1895), ông Sắc vào Huế thi
hội bị hỏng, đă xin đi làm hành tẩu bộ Hộ.
Ba năm sau, ông hỏng kỳ thi hội một lần nữa
vào năm 1898 (3). Trước khi dự kỳ thi hội
năm 1901, ông Sắc c̣n tham dự hội đồng giám
khảo chấm thi kỳ thi hương tại B́nh Định năm
1897 và Thanh Hóa năm 1900 (4). Sau khi đỗ
phó bảng trong kỳ thi hội và thi đ́nh năm
1901, ông làm thừa biện bộ Lễ từ 1902 đến
1909, rồi đi tri huyện B́nh Khê (B́nh Định)
tháng 5 năm đó. Từ thừa biện đi tri huyện là
thăng chức chứ không phải xuống chức (5).
Nguyễn Sinh Sắc bị sa thải chứ không phải bị
cách chức (6). Lư do sa thải cũng không phải
v́ "vốn có tinh thần yêu nước, khảng
khái, cụ thường chống đối bọn quan trên và
bọn thực dân Pháp".
Ông bị sa thải v́
đă hành xử tàn bạo với dân chúng. Trong một
cơn say rượu, Nguyễn Sinh Sắc đă dùng roi
mây trừng phạt và đánh chết một người tù vào
tháng 1-1910. Gia đ́nh người nầy kiện lên
cấp trên. Dù tri huyện Nguyễn Sinh Sắc đă
chối căi rằng không phải v́ trận đ̣n của ông
mà người kia chết, ông vẫn bị triều đ́nh ra
sắc chỉ ngày 17-9-1910 phạt đánh 100 trượng.
H́nh phạt nầy được chuyển đổi qua hạ bốn cấp
quan lại và sa thải (7). Lư do chuyển đổi
h́nh phạt để Nguyễn Sinh Sắc khỏi bị đánh
đ̣n có lẽ nhắm giữ thể diện của một quan
chức triều đ́nh, và nhất là vị nầy lại là
người có học vị cao. Ông Sắc nghiện rượu từ
khi c̣n ở Huế. Chị của Hồ Chí Minh, bà
Nguyễn Thị Thanh (1884-1954), vào Huế thăm
cha năm 1906. "Bà không thể chịu đựng
lâu ngày thái độ cộc cằn thô lỗ của cha bà,
nay đă mắc phải tật nghiện rượu và thường
hay đánh đập bà"
(8). Do đó, năm sau bà
bỏ Huế ra Nghệ An trở lại, mà không sống với
cha.
Phải chăng câu: "Quan trường thị nô lệ
trung chi nô lệ, hựu nô lệ" (Quan
trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại
càng nô lệ hơn) là do những cán bộ cộng sản
bịa ra, rồi gán cho ông Nguyễn Sinh Sắc để
đả kích chế độ quân chủ? Hay phải chăng v́
bị đuổi ra khỏi ngành quan lại nên Nguyễn
Sinh Sắc mới bất măn và thốt lên câu: "Quan
trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ"
(Quan trường là nô lệ trong những người nô
lệ, lại càng nô lệ hơn). Nếu không, Nguyễn
Sinh Sắc hăng hái xin đi làm quan làm ǵ, và
sau nầy con ông, Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí
Minh) c̣n gởi thư đến viên Khâm sứ Pháp tại
Huế xin cho ông một chức quan nhỏ nữa.
Ngày 26-2-1911, Nguyễn Sinh Sắc xuống tàu từ
Đà Nẵng vào Sài G̣n. Ông ở lại Sài G̣n một
thời gian, dạy chữ Nho cho nhà báo Diệp Văn
Kỳ (9), rồi đi Lộc Ninh làm giám thị đồn
điền. Từ đó, ông không bao giờ trở ra Nghệ
An. Ông sống lang thang ở miền Nam bằng nghề
đông y, và nghề viết liễn đối cho dân chúng.
Gần cuối đời, ông đến định cư tại làng Hội
Ḥa An, Sa Đéc, và từ trần ngày 29-11-1929
(10).
Khi Nguyễn Sinh Sắc bị băi chức và sống lang
thang nghèo khổ ở miền Nam, con ông ta là
Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh, ra nước
ngoài năm 1911, đă viết thư từ New York ngày
15-12-1912 cho viên khâm sứ Pháp tại Huế tha
thiết "...cầu mong Ngài [chỉ khâm
sứ Pháp] vui ḷng cho cha tôi [cha
của Thành tức ông Sắc] được nhận một
công việc như thừa biện ở các bộ, hoặc huấn
đạo, hay giáo thụ để cha tôi sinh sống dưới
sự quan tâm cao quư của Ngài..."
(11)
Vậy huyền thoại về người cha của Hồ Chí Minh
là một người yêu nước, chống đối chính quyền
Pháp nên bị cách chức, là chuyện hoàn toàn
bịa đặt do Ban Nghiên cứu Lịch sử trung ương
đảng Cộng Sản Việt Nam đưa ra nhắm là tăng
giá trị cho lănh tụ của họ.
Tưởng cũng nên thêm ở đây một phát hiện của
ông Trần Quốc Vượng, sử gia Hà Nội hiện nay.
Trong sách Trong cơi của Trần Quốc
Vượng, có bài "Lời truyền miệng dân gian về
nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia
(kinh nghiệm điền dă)". Phần cuối của bài
nầy cho biết rằng ông Nguyễn Sinh Sắc, phụ
thân của Hồ Chí Minh, không phải là con của
ông Nguyễn Sinh Nhậm. Trước khi đám cưới, bà
vợ của ông Nguyễn Sinh Nhậm đă có mang với
cử nhân
Hồ Sĩ Tạo, cho nên ông Nguyễn Sinh
Nhậm chỉ là người cha trên giấy tờ của ông
Nguyễn Sinh Sắc mà thôi. Ông Trần Quốc Vượng
viết: "Nguyễn Ái Quốc sau cùng đă lấy
lại họ Hồ v́ cụ biết ông nội đích thực của
ḿnh là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải là cụ
Nguyễn Sinh Nhậm"
(12).
2.- HUYỀN THOẠI RA ĐI T̀M ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
Tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam đều viết
rằng ngày 5-6-1911, thanh niên Nguyễn Tất
Thành đă xuống tàu Amiral
Latouche-Tréville để ra đi t́m đường
cứu nước. Sau đây là lời trong sách Lịch
sử Việt Nam của nhà cầm quyền cộng sản
Hà Nội:
"Sự thất bại của các phong trào Đông Du,
Đông Kinh Nghĩa Thục của cuộc vận động Duy
Tân và phong trào chống thuế ở các tỉnh
Trung Kỳ mà Người [Hồ Chí Minh]
từng tham gia khi đang học ở trường Quốc Học
Huế, đă thôi thúc Người [HCM] hướng
về các nước Tây Âu, mong muốn được đến "t́m
xem những ǵ ẩn giấu đằng sau những Tự do,
B́nh đẳng, Bác ái". Sau khi rời Huế
vào Phan Thiết... Được ít lâu, lấy tên là
Văn Ba, Người [HCM] xin làm phụ bếp
trên chiếc tàu thủy Đô đốc La Tusơ Tơrêvin
(La Touche Tréville), thuộc hăng vận tải hợp
nhất của Pháp, để đi ra nước ngoài "xem nước
Pháp và các nước khác làm như thế nào rồi sẽ
trở về giúp đồng bào"..." (13).
Sách Chủ Tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự
nghiệp của nhà xuất bản Sự Thật giải
thích sự ra đi của Hồ Chí Minh cũng gần
giống như thế: "... Ít lâu sau, Hồ Chủ
tịch vào Sài G̣n. Nam Kỳ dưới chế độ thuộc
địa cũng chẳng khác ǵ Trung Kỳ dưới chế độ
bảo hộ và Bắc kỳ dưới chế độ nửa thuộc địa,
nửa bảo hộ. Ở đâu nhân dân cũng bị áp bức,
bóc lột, đồng bào cũng bị đọa đày, khổ nhục.
Điều đó càng thôi thúc Hồ Chủ tịch đi sang
các nước Âu tây để xem nhân dân các nước ấy
làm như thế nào mà trở nên độc lập, hùng
cường, rồi sẽ trở về "giúp đỡ đồng bào" đánh
đuổi thực dân Pháp. Ư định ấy của Người
[HCM] đă dẫn Người từng bước đi tới t́m
một phương hướng mới cho sự nghiệp cứu nước
của nhân dân ta" (14).
Trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt
động của Hồ Chủ Tịch, cũng do nhà xuất
bản Sự Thật ấn hành, trả lời phỏng vấn tác
giả Trần Dân Tiên, Hồ Chí Minh nói về lư do
ra đi như sau:
"...Tôi muốn đi ra nước
ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau
khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở
về giúp đồng bào chúng ta..." (15).
Trần Dân Tiên chính lại là Hồ Chí Minh. Ông
dùng một tên khác viết sách tự ca tụng ḿnh.
Tại Việt Nam cũng như trên thế giới, đă có
nhiều người viết sách về hoạt động của ḿnh,
đôi khi để tự khen ḿnh, hoặc để biện hộ cho
những việc làm của ḿnh, nhưng họ đề tên
thật, chịu trách nhiệm về những điều họ
viết. Hồ Chí Minh dùng một tên khác tự ca
tụng ḿnh là một sáng kiến kỳ lạ chưa một
người tự trọng nào dám nghĩ đến .
Như thế, qua các sách của nhà cầm quyền cộng
sản và qua chính những lời viết của Hồ Chí
Minh, ông ta đi ra nước ngoài nhắm mục đích
t́m đường cứu nước, nhưng trong thời gian
gần đây, nhiều tác giả đă t́m được những
chứng liệu cụ thể cho thấy rằng Hồ Chí Minh
ra đi không phải để t́m đường cứu nước, mà
chỉ v́ lư do kinh tế gia đ́nh.
Trong bài "Từ mộng làm quan đến đường cách
mạng Hồ Chí Minh và Trường Thuộc Địa", hai
tác giả Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu đă
phổ biến ảnh sao (photocopy) hai lá thư của
Nguyễn Tất Thành đề ngày 15-9-1911 gởi cho
tổng thống Pháp và bộ trưởng bộ Thuộc Địa
Pháp, xin hai ông ban ân huệ cho Thành được
đặc cách vào học Trường Thuộc Địa Paris, nơi
đào tạo quan lại cho các thuộc địa Pháp
trong đó có Đông Dương. Phần chính trong nội
dung của hai lá thư nầy hoàn toàn giống
nhau. Đó là:
"Tôi xin trân trọng thỉnh
nguyện ḷng hảo tâm của ông ban cho tôi đặc
ân được nhận vào học nội trú Trường Thuộc
Địa. Tôi hiện đang làm công trong công ty
Chargeurs Réunis để sinh sống (trên tàu
Amiral Latouche-Tréville). Tôi hoàn toàn
không có chút tài sản nào, nhưng rất khao
khát học hỏi. Tôi ước mong trở nên hữu ích
cho nước Pháp đối với đồng bào tôi, đồng
thời làm thế nào cho họ hưởng được ích lợi
của nền học vấn..."
(16).
Hai lá đơn trên đều bị bác, Nguyễn Tất Thành
tiếp tục hành nghề trên các tàu biển. Ngày
15-12-1912, từ New York , Hoa Kỳ, Nguyễn Tất
Thành gởi đến viên khâm sứ Pháp tại Huế một
lá thư rất thống thiết xin một đặc ân là ban
cho cha là Nguyễn Sinh Sắc, một chức việc
nhỏ như giáo thụ hay huấn đạo, để ông nầy có
điều kiện sinh sống.
Hai lá đơn trên cùng với lá thư gởi năn nỉ
viên khâm sứ Pháp tại Huế cho thấy lúc mới
ra đi, Nguyễn Tất Thành chỉ nhắm mục đích
sinh nhai. V́ sinh kế gia đ́nh, lúc đó
Nguyễn Tất Thành sẵn sàng thỏa hiệp với
người Pháp để kiếm một chức quan cho cá nhân
ông (bằng cách xin vào học Trường Thuộc
Địa), hoặc cho phụ thân ông.
Điều nầy là chuyện b́nh thường của đời sống
con người. Lớn lên, ai ai cũng phải kiếm
cách mưu sinh để tự nuôi sống ḿnh và nuôi
sống gia đ́nh. Hơn nữa, điều nầy c̣n có
nghĩa là Nguyễn Tất Thành không phải ra đi
t́m đường cứu nước. Việc ra đi t́m đường cứu
nước chỉ là sản phẩm tưởng tượng sau nầy của
Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản, nhắm làm đẹp
cho việc ra đi của họ Hồ để lôi cuốn quần
chúng trên đường hoạt động chính trị.
1. Ban Nghiên cứu Lịch sử đảng trung ương
(BNCLSĐ), Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử
và sự nghiệp, in lần 4 (xem lại và bổ
sung), Nxb Sự Thật, Hà Nội 1975, tt. 11-12.
Chữ "Người" với N (hoa) là của nguyên bản.
2. Cao Xuân Dục, Quốc triều đăng khoa
lục, bản dịch của Lê Mạnh Liêu, Bộ Quốc
Gia Giáo Dục, Sài G̣n, 1962, tt. 234-240.
3. Trần Quốc Vượng, Trong cơi, Nxb.
Trăm Hoa, California , 1993, tr. 257
4. Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de
l’Indochine au Vietnam [Hồ Chí Minh, từ
Đông Dương đến Việt Nam] , Nxb. Gallimard,
Paris, 1990. tt. 131-132.
5. B́nh Khê nằm về phía tây huyện Tuy Phước.
(B́nh Khê là quê của bà Bùi Thị Xuân, thi sĩ
Quách Tấn). Thừa biện là một chức quan nhỏ ở
một bộ, thừa hành một nhiệm vụ nào đó do cấp
trên giao phó trong một thời gian (Trần
Thanh Tâm, T́m hiểu quan chức nhà Nguyễn,
Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1996, tr. 229). P.C.
Trinh đỗ phó bảng xong làm thừa biện bộ Lễ.
H. Diệu đỗ phó bảng xong làm hàn lâm viện
kiểm thảo cũng là một chức quan nhỏ, lo việc
biên duyệt sách vở cho Hàn lâm viện, rồi mới
được bổ tri huyện Tuy Phước, B́nh Định.
6. Cách chức là không được giữ chức vụ cũ,
hạ thấp chức vụ và công việc, nhưng vẫn c̣n
được làm quan. Ở đây, ông Nguyễn Sinh Sắc
chẳng những bị hạ chức mà c̣n bị đuổi không
cho làm quan nữa, tức sa thải ra khỏi ngành
quan lại.
7. Daniel Hémery, sđd. tr. 133.
Theo Thành Tín, tức Bùi Tín, nạn nhân của
Nguyễn Sinh Sắc là một nông dân tên Tạ Đức
Quang (Thành Tín, Mặt thật, Hồi kư
chính trị, Nxb. Saigon Press, California,
1993, tr. 95).
8. Daniel Hémery, sđd. tr. 133.
Nguyên văn: "...elle ne put supporter
longtemps les brutalités de son père qui
avait contracté des habitudes d' ivrognerie
et la frappait très sou-vent..." Thành
Tín, trong sđd. tr. 95 viết: "Ông
Nguyễn Sinh Huy vốn nghiện rượu rất nặng khi
c̣n ở Huế, bà Thanh kể rằng hồi ấy cứ lên
cơn thèm rượu và say rượu là bà bị ông bố
đánh bằng tay và bằng roi rất tàn nhẫn."
9. Diệp Văn Kỳ (1895-1945): Ông là con của
Diệp Văn Cương và Công Nữ Thiện Niệm. Bà nầy
là em vua Dục Đức (1883) và cô của vua Thành
Thái (trị v́ 1889-1907). Ông giỏi Nho học,
Tây học, đă du học Pháp, đỗ cử nhân luật.
Khi về Sài G̣n, ông sang tờ Đông Pháp
Thời Báo, rồi xuất bản tờ ThầnChung.
Tờ nầy bị đ́nh bản năm 1932. Ông mất tại
Trảng Bàng năm 1945.
10. Daniel Hémery, sđd. tr. 134.
Theo các tài liệu cộng sản Việt Nam , ông
Sắc từ trần và chôn ở Cao Lănh. Theo tổ chức
hành chánh hiện nay ở Việt Nam, Cao Lănh và
Sa Đéc là hai thị xă nằm gần nhau trong tỉnh
Đồng Tháp. Nghề viết liễn đối: ngày trước,
khi trong nhà có việc vui hay buồn như đám
cưới, đám ma..., người ta thường tặng những
câu liễn đối bằng chữ Nho, mang nội dung
chúc mừng hay chia buồn chủ nhà. Muốn viết
hay, người viết phải có tŕnh độ Nho học
cao.
11. Thành Tín [tức Bùi Tín], Mặt thật,
sđd. tr. 95-96. Lê Văn Tiến, nguyệt
san Thế Kỷ 21, Garden Grove,
California, số 116, tháng 12-1998 tt. 52-53.
Thư ngày 15-12-1912 của Paul Tất Thành viết
bằng chữ Pháp từ New York .
12. Trần Quốc Vượng,
sđd. tr. 258.
Trần Quốc Vượng c̣n thêm rằng chính ông Hồ
Sĩ Tạo đă vận động cho Nguyễn Sinh Sắc vào
học trường Quốc tử giám ở kinh đô Huế. (sđd.
tr. 256)
13. Nguyễn Khánh Toàn chủ biên, và một số
tác giả,
Lịch sử Việt Nam, tập 2,
Nxb. Khoa học Xă hội, Hà Nội, 1985, tr. 145.
Sách nầy viết sai chữ "La Touche Tréville".
Đúng ra là "Latouche-Tréville". Chữ "Người"
với chữ N (hoa) trong nguyên bản. Chúng tôi
giữ nguyên cách viết trong bộ
Lịch
sửViệt Nam .
15. Trần Dân Tiên,
Những mẩu chuyện về
đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Sự
Thật, H.Nội 1976, tr. 13.
16. Đăng trên nguyệt san
Đường Mới
số 1, Paris , 1983, từ trang 8 đến 25.
3.- HUYỀN
THOẠI CUỘC SỐNG ĐỘC THÂN GIẢN DỊ
Hồ Chí Minh cũng như
ban Nghiên cứu Lịch sử đảng trung ương luôn
luôn đề cao rằng ông ta suốt đời sống độc
thân, không lập gia đ́nh, để có thể toàn tâm
toàn ư phục vụ nhân dân. Sự thật,
dù
Hồ Chí Minh đi đâu, ở nơi nào, cũng đều có
bóng dáng của người đàn bà trong suốt cuộc
đời hoạt động của ông.
Theo giáo sư Nguyễn
Thế Anh, khi hành nghề nhiếp ảnh ở Paris,
Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) đă gởi thư tỏ
t́nh với cô
Bourdon ngày
10-5-1923. Sau vài cuộc gặp gỡ và thư từ qua
lại, cô Bourdon viết thư ngày 11-6-1923 cự
tuyệt mối t́nh của Nguyễn Ái Quốc. Giáo sư
Nguyễn Thế Anh c̣n trưng dẫn nhiều tài liệu
cho thấy khi qua Moscow , nhà cầm quyền Liên
Xô đă cung cấp cho Nguyễn Ái Quốc một "người
vợ" (17).
Đến Quảng Châu (Trung
Hoa), Nguyễn Ái Quốc, lúc đó lấy tên là Lư
Thụy kết hôn với một người phụ nữ Trung Hoa
là Tăng Tuyết Minh năm
1926. Bà nầy bị thất lạc sau cuộc chiến Quốc
Cộng ở Trung Hoa năm 1927 (18). Theo một tài
liệu khác, th́ trong thời gian nầy, Lư Thụy
c̣n sống với một phụ nữ Trung Hoa thứ nh́ là
Lư Huệ Khanh , em của Lư
Huệ Quần. Lư Huệ Quần là vợ của Lâm Đức Thụ,
một đồng chí của Lư Thụy. Tài liệu nầy giải
thích rằng Nguyễn Ái Quốc đổi tên thành Lư
Thụy là theo họ của Lư Huệ Khanh cho dễ hoạt
động (19). Khi cảnh sát Hồng Kông bắt Lư
Thụy ngày 6-6-1931 tại thị trấn Cửu Long,
gần Hồng Kông, ông đang sống với một phụ nữ
Trung Hoa tên là
Li Sam .
Khi Lư Thụy đến Vân Nam , tướng Long Vân
(Lung Yun) đă t́m cho ông
một nhân
t́nh người Tàu (20).
Từ năm 1930, ở Hồng
Kông, Lư Thụy dạy chính trị cho
Nguyễn Thị Minh Khai tại trụ sở chi
nhánh Bộ Đông phương của Quốc tế cộng sản.
Sau một thời gian, hai người trở thành vợ
chồng, và khi qua Liên Xô tham dự đại hội
cộng sản quốc tế ngày 25-7-1935, hai người
công khai sống chung (21). Năm 1944, HCM về
hoạt động tại vùng Pắc Bó, Cao Bằng. Ở đây,
theo sử gia và nhà hoạt động chính trị Trần
Trọng Kim, ông Hồ sống chung với bà
Đỗ Thị Lạc , bí danh " chị
Thuần ", và sinh hạ một người con
gái (22).
Sau cuộc sống chung
tạm bợ với Đỗ Thị Lạc, Hồ Chí Minh bị cuốn
hút vào những biến chuyển lịch sử cho đến
năm 1954, ông Hồ về Hà Nội. Theo tài liệu
của Vũ Thư Hiên và Nguyễn Minh Cần, bộ chính
trị đảng Lao Động đă đưa một cô gái thuộc
sắc tộc Nùng ở Cao Bằng là
Nông Thị
Xuân (có sách viết Nguyễn Thị Xuân)
về phục vụ Hồ Chí Minh năm 1955. Lúc đó, ông
Hồ khoảng 65 tuổi và bà Xuân có lẽ khoảng
trên dưới 22 tuổi, khá xinh đẹp: "Cô
Xuân rất xinh gái, da trắng nơn, miệng tươi
như hoa" (23). Năm sau, bà Xuân sinh hạ
một người con trai được đặt tên là Nguyễn
Tất Trung. Sau một thời gian chung sống, Hồ
Chí Minh sa thải bà Xuân. Viên bộ trưởng
công an Hà Nội là Trần Quốc Hoàn đă hiếp dâm
bà Xuân, rồi cho người thủ tiêu một cách tàn
bạo (23).
Trong thời gian nầy,
đảng Lao Động c̣n có ư định đưa cô
Nguyễn Thị Phương Mai , tỉnh uỷ
viên tỉnh Thanh Hóa, về Hà Nội để làm vợ Hồ
Chí Minh. Cô Phương Mai đ̣i công khai hóa
cuộc hôn nhân giữa hai người, th́ bị từ
chối, nên cô rút lui (24). Năm 1959, Đào
Chú, uỷ viên thường vụ bộ chính trị đảng
Cộng Sản, Phó thủ tướng chính phủ Trung Quốc
sang Việt Nam nghỉ dưỡng. Một bộ trưởng
trong chính phủ Hà Nội đă nói riêng với Đào
Chú rằng Hồ Chí Minh muốn
tái hôn
với một người vợ Quảng Đông . Đào
Chú rất hoan hỷ giúp đỡ, nhưng thủ tướng
Trung Quốc là Chu Ân Lai đă thận trọng yêu
cầu phía Việt Nam xem xét vấn đề cẩn thận.
Hội nghị do Lê Duẩn triệu tập đă đi đến
quyết định là phải bảo vệ h́nh tượng Hồ Chí
Minh, nên việc ông Hồ muốn tái hôn với một
phụ nữ Quảng Châu đă không thành (25). Hồ
Chí Minh cho Đào Chú biết ông muốn tái hôn,
có nghĩa là ông Hồ tự thú nhận đă kết hôn
một lần nào đó rồi.
Như thế
huyền
thoại thứ ba về Hồ Chí Minh, hy sinh cuộc
sống cá nhân, sống độc thân để toàn tâm toàn
ư lo việc nước, là một câu chuyện bí mật
giấu đầu ḷi đuôi . Hồ Chí Minh có
vợ là một chuyện b́nh thường, nhưng bản thân
Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản trước sau luôn
luôn che đậy việc nầy để lừa bịp nhân dân
Việt Nam và dư luận thế giới. Kết hôn, lập
gia đ́nh là điều chẳng có ǵ xấu xa, nhưng
xử sự tàn bạo với những người đă từng sống
với ḿnh, che đậy việc kết hôn, lừa bịp
trắng trợn mọi người là điều mà không một
nền luân lư nào chấp nhận.
Sau khi Hồ Chí Minh từ
trần, trong lời kêu gọi đưa ra ngày
3-9-1969, đảng Lao Động VN (tức đảng CSVN)
đă viết: "...Cuộc đời của Người là một
tấm gương chói lọi của chủ nghĩa anh hùng
cách mạng, của tinh thần đoàn kết, của đạo
đức giản dị, khiêm tốn, cần kiệm liêm chính,
chí công vô tư..." (26). Hăy nh́n vào
cách sống của Hồ Chí Minh để biết ông có
phải là người "giản dị, khiêm tốn" hay
không?
Trước hết, chế độ Hà
Nội tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh sống trong
một ngôi nhà sàn bằng gỗ. Nghe chữ "nhà
sàn", người Việt thường liên tưởng đến những
ngôi nhà của người miền núi, làm bằng gỗ,
cách mặt đất khoảng một thước, phía dưới
dùng để cất giữ dụng cụ hay nhốt gia súc,
hoặc liên tưởng đến những nhà sàn của một số
cư dân ven sông hay dọc các kênh đào. Những
ngôi nhà sàn nầy rất đơn sơ, giản dị. Ấn
tượng giản dị khiến nhiều người tưởng tượng
rằng ngôi nhà sàn của Hồ Chí Minh có lẽ cũng
thế, và cũng tưởng rằng Hồ Chí Minh sống rất
b́nh dân. Thực tế hoàn toàn không như vậy.
Những du khách đă từng viếng ngôi nhà sàn
của ông Hồ, hoặc những ai đă từng nh́n ngôi
nhà sàn nầy qua phim ảnh, rồi so sánh với
nhà sàn của người miền núi hoặc của những
người sống ven sông, sẽ có cảm nghĩ khác.
Ngôi nhà sàn của ông Hồ có vẻ giản dị một
cách cố ư, lại rất sang trọng, xây dựng bằng
loại gỗ cực tốt, trang bị đầy đủ theo tiện
nghi thời đại, có người chăm sóc cẩn thận,
và gần như là nhà nghỉ mát mùa hè, hoặc nơi
ông đón tiếp du khách. Như
vậy ngôi
nhà sàn của ông Hồ chỉ là loại trang trí mắc
tiền .
"Áo quần lên sân
khấu rất quan trọng: luôn luôn giản dị (áo
quần màu chàm).Đối với Hồ cũng như Staline,
Mao, hoặc Kim Nhật Thành, sự giản dị được
nghiên cứu kỹ lưỡng. Áo quần cắt may thô sơ
theo kiểu Kroutchev hoặc Ceauces-cu, biểu
tượng của một thế hệ lănh đạo cộng sản. Điều
đặc biệt của Hồ trong giới lănh đạo cộng sản
là Hồ đi dép lốp (trên nguyên tắc cắt từ lốp
xe hơi)... C̣n ǵ ăn ảnh hơn dù là tiền
chiến hay hiện đại "Bác" Hồ đi dép lốp trên
màn ảnh." (27).
Hồ Chí Minh duy nhất
chỉ để lộ một sở thích phàm tục rất người,
đó là ông thích hút thuốc thơm Hoa Kỳ, đặc
biệt là Camel hay Lucky Strike (28). Không
biết đây là dàn kịch để chứng tỏ ông ta cũng
b́nh thường như mọi người, hay quả thật ông
ta thích hút thuốc Mỹ. Dầu sao ,
cuộc sống của ông Hồ không giản dị như người
ta tưởng.
Trong sách Những
mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch,
Trần Dân Tiên (chính là Hồ Chí Minh) đă viết
trong phần đầu sách: "Một người như Hồ
Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn
nhường ấy và đương lúc bề bộn bao nhiêu công
việc, làm sao có thể kể lại cho tôi nghe
b́nh sinh của Người được?" (29). Một
người dùng một cái tên khác viết sách, tự
khen ḿnh là khiêm tốn không muốn nói về
ḿnh, rồi sau đó, suốt trong quyển sách lại
kể lể tự đề cao sự nghiệp của ḿnh, th́
không biết nên xếp ông ta vào loại người ǵ
đây?
Cuối sách nầy, Trần
Dân Tiên (tức Hồ Chí Minh) viết: "Nhân
dân gọi Chủ tịch là Cha già của dân tộc, v́
Hồ Chủ tịch là người con trung thành nhất
của Tổ quốc VN" (30). Lời nầy cho thấy
Hồ Chí Minh muốn gợi ư để được người VN gọi
ông là cha già của dân tộc, nhưng không được
dân chúng hưởng ứng, nên ông quay qua dùng
chữ "bác". Ở đây lại thấy
ông Hồ thậm khôn, v́ trong cơ cấu gia tộc
Việt Nam, bác là anh của cha , bác
lớn hơn cha và đứng trước cha trong sinh
hoạt đại gia đ́nh, hoặc lễ nghi tế tự.
Theo Thành Tín, tức
Bùi Tín, cựu đại tá quân đội cộng sản Hà
Nội, cựu phó tổng biên tập báo Nhân Dân,
Hồ Chí Minh công khai tự xưng là "bác"
năm 1945 trước quần chúng, lúc đó ông khoảng
55 tuổi (31). Nói chuyện với dân chúng,
trong đó có cả những người già cả, đáng tuổi
ông, cha, chú, anh, chị ḿnh mà xưng bác th́
xin khỏi bàn về tư cách của "bác".
Chẳng những thiếu kính
trọng với người đang sống, Hồ Chí Minh c̣n
tỏ ra thiếu lễ độ đối với những người trước
ông hàng mấy trăm năm. Hăy đọc những câu thơ
của HCM qua bài "Ngẫu hứng" ông viết vào dịp
viếng đền thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc
Tuấn (1226-1300) khoảng trước năm 1950:
"Bác anh hùng, tôi
cũng anh hùng. Tôi, bác cùng chung nghiệp
kiếm cung. Bác thắng quân Nguyên thanh kiếm
bạc. Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng. Bác đưa
một nước qua nô lệ. Tôi dắt năm châu đến đại
đồng. Bác có linh thiêng cười một tiếng.
Rằng tôi cách mạng đă thành công" (32).
Tự phong ḿnh
là anh hùng đă là chuyện lạ, gọi một vĩ nhân
của lịch sử sống cách đây hơn 600 năm bằng "bác"
là một sự vô lễ chưa bao giờ xảy ra trong
lịch sử Việt Nam . Khi Quốc sử quán
triều Nguyễn tŕnh Khâm định Việt sử
thông giám cương mục lên vua Tự Đức
(trị v́ 1847-1883) duyệt, trong khung cảnh
xă hội vua là thiên tử (con trời), nhà vua
đă phê b́nh nhiều nhân vật lịch sử, đôi khi
với lời lẽ gay gắt, nhưng chưa bao giờ nhà
vua có ngôn ngữ sỗ sàng thiếu lễ độ như Hồ
Chí Minh. Hồ Chí Minh tưởng rằng gọi Trần
Hưng Đạo bằng "bác" là có thể tự
nâng ḿnh lên ngang tầm với người xưa, nhưng
ngược lại những lời nầy cho thấy hố cách
biệt lớn lao giữa một vị thánh và một kẻ tự
phụ hợm ḿnh. Chẳng những thế, người Việt
Nam xưng tụng đức Trần Hưng Đạo là thánh,
nên cách xưng hô của họ Hồ xúc phạm đến cả
niềm tin của dân chúng Việt Nam. Nếu nói
rằng bài thơ nầy là "thơ khẩu khí", th́ càng
thấy "khẩu khí" của Hồ Chí Minh chẳng khiêm
cung tư nào.
Hồ Chí Minh là chủ
tịch miền Bắc, ông có quyền sống một cách
tiện nghi đầy đủ để làm việc; thậm chí ông
có quyền tận hưởng mọi lạc thú trên đời sau
khi đă dày công cực khổ tranh đấu; ông có
quyền lực to lớn của một chủ tịch nhà nước
độc tài; ông có thể vượt qua luật pháp ra
lệnh sinh sát mọi người; ông có thể làm bất
cứ việc ǵ ông muốn dưới chế độ độc tài;
nhưng nói rằng họ Hồ là người "giản
dị khiêm tốn" là điều hoàn toàn sai sự thật.
17. Nguyễn Thế Anh,
"Hành tŕnh chính trị của Hồ Chí Minh", đăng
trong Hồ Chí Minh, sự thật về thânthế và
sự nghiệp, một nhóm tác giả, Nxb. Nam
Á, Paris, 1990, tr. 25.
18. Daniel Hémery,
sđd. tt. 63, 145.
19. Lữ Giang,
Những bí ẩn lịch sử đàng sau cuộc chiến Việt
Nam, quyển I, tái bản lần thứ nhất, có
hiệu đính và bổ túc, California, 1999, tr.
109.
20. Nguyễn Thế Anh,
bài và sách đă dẫn, tt. 25-26. Stanley
Karnow, Vietnam A History, Nxb.
Viking, New York, in lần thứ nh́, 9-1983,
tr. 126. Karnow c̣n viết thêm:" A
Communist official in Hanoi in1981 told me
that Ho had loved a Chinese woman, a doctor,
who died before they could marry." (Một
viên chức cộng sản ở Hà Nội vào năm 1981 đă
nói với tôi rằng Hồ đă yêu một phụ nữ Trung
Hoa, một bác sĩ; bà nầy từ trần trước khi họ
định cưới nhau.)
21. Thành Tín, Về
ba ông thánh, California , 1995, tr.
136. Sau đây là nguyên văn của ông Thành
Tín: "...Bà Minh Khai ghi rơ chồng là
"Lin", bí danh của Nguyễn Ái Quốc hồi ấy; cả
những phiếu ghi nhận đồ đạc trong pḥng
riêng hai người tại nhà ở tập thể của cán bộ
thuộc Quốc Tế Cộng Sản ghi rơ: hai vợ chồng
Minh Khai và "Lin", chung pḥng, chung
giường, chung đồ dùng... Có tài liệu ghi rơ
hai vợ chồng nầy cũng chung sống ở Hồng Kông
một thời gian... Đây không thể nào là tài
liệu giả..." Chú ư: Nguyễn Thị Minh
Khai là chị ruột của Nguyễn Thị Quang Thái.
Bà Thái là vợ đầu của V. Nguyên Giáp.
22. Trần Trọng Kim,
Một cơn gió bụi, Sài G̣n, 1969, tr.
75. Sau đây là nguyên văn của Trần Trọng Kim
trong đoạn nầy: "Về khoảng cuối năm
1944, Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội lại
dời về tỉnh Quảng Tây, và cho ông Hồ Chí
Minh về Bách Sắc để trù liệu kế hoạch nhập
Việt.Sau đó, Hội cho ông Minh cùng 22 đảng
viên, phần nhiều là người đảng Phục Quốc, về
nước để khởi sự hành động. Trong số 22 người
ấy có một nữ đảng viên tên là Đỗ Thị Lạc là
người sau có đứa con gái với Hồ Chí Minh. Về
sau, thấy người ta nói khi đến địa hạt Bắc
Giang, có ba đảng viên trong 22 người ấy bị
giết v́ không chịu theo cộng sản."
23. Vũ Thư Hiên,
Đêm giữa ban ngày (hồi kư chính trị của
một người không làm chính trị), Nxb. Văn
Nghệ, California , 1997, tt. 605-609. Ng.
Minh Cần, "Thêm vài mẩu chuyện về cuộc đời
của HCM", nguyệt san Thế Kỷ 21,
Garden Grove , số 96, 4-1997, tt. 33-40.
24. Ng.Minh Cần,
bđd., tt. 36-37.
25. Văn trích tuần
báo, số tháng 1-1991. Bài báo
nhan đề: "Hồ Chí Minh tằng tưởng tái hôn".
Nguyệt san Phụng Sưï, Glendale ,
Phoenix , Arizona , bộ mới, số 10, ngày
15-10-1996, chụp h́nh và dịch bài báo sang
tiếng Việt.
26. BNCLSĐ, sđd.
tr. 160. Chữ "Người" viết hoa theo nguyên
bản.
27. Oliver Todd,
"Huyền thoại Hồ Chí Minh", Nguyễn Văn dịch,
đăng trong sách Hồ Chí Minh, sự thậtvề
thân thế và sự nghiệp, Nxb. Nam Á,
Paris, 1990, tr. 276.
28. Oliver Todd,
bđd.,sđd. tr. 277. Stanley Karnow, "Ho
Chi Minh", tạp chí Time, tập 151,
số. 14, 13-4-1998, tr. 123.
29. Trần Dân Tiên,
sđd. tr. 9. Các chữ viết hoa theo
nguyên bản.
30. Trần Dân Tiên,
sđd. tr. 149. Các chữ viết hoa theo
nguyên bản.
31. Thành Tín, Hoa
xuyên tuyết, Nhân Quyền xb, Cali.1991,
tr. 117.
32. Phạm Cây Trâm, "Về bài
thơ viếng đền thờ Đức Trần Hưng Đạo của ông Hồ",
mục "Bạn đọc viết", nguyệt san Thế kỷ 21,
California .
|