|
Mặt Thật Của HCM Và Bè Lũ
Cộng Sản

Mặt Thật Của HCM Và Bè Lũ Cộng Sản
Thâm cung bí sử truyện ông Hồ
Lộ tẩy phơi trần bản mặt rô
Xảo quyệt, điêu ngoa bầy Cộng đỏ
Gian tà, lật lọng đám Tàu ô
Dùng mưu mị thế gầy danh tiếng
Lập kế lừa dân dựng ư đồ
Cướp nước thành công là áp đặt
Cường quyền độc ác, ách Tam Vô
Vntvnd
(02/12/2008) Tấm h́nh thứ nhất góc trái (ghi là HCM thật), có lẽ do OSS
chụp khoảng năm 1944, khi c̣n hoạt-động bí-mật vùng biên-giới Việt-Hoa,
đây là lúc tiền-thân CIA đang huấn-luyện cho trung-đội vơ-trang
truyên-truyền, đội quân đầu-tiên của bộ-đội "nhăn răng"; có lẽ là Ông Hờ-ồ
giả luôn, đó là Hồ-Tập-Chương gián-điệp người Khách-Gia mà GS
Hồ-Tuấn-Hùng nói đến.
Tấm h́nh thứ hai, anh đầu trọc, nh́n thấy có nét Nga, hao-hao giống
Putin.
Tấm h́nh Hờ-ồ giả thứ tư, hóa-trang dở quá, phía trên lỗ tai trái không
bị méo.
Mèn ! Từ trên xuống dưới đảng VC toàn là đồ giả. Không chừng số đông
chóp-bu bộ chính-trị, và công-an toàn là gián-điệp, để Tầu cai-trị VN
kiểu "rule by proxy". Hèn chi ngày nay họ đang từ-từ thay tiếng Việt
bằng quá nhiều tiếng Tầu. Trước đây đă ḷi ra mấy anh Uông-Chính-Lưu,
La-Văn- Liếm ...
Nghe tiếng Lê-Duẩn nói lơ-lớ, ngờ quá !
Tṛ Tê
--- En date de : Dim 30.11.08, Phuong1110@aol. com <Phuong1110@aol. com>
a écrit :
Thâm Cung Bí Sử
- Có bao nhiêu ông Hồ Chí Minh, xác HCM trong lăng có phải là xác giả
???
Thu Hiền : Thưa ông, theo ông cho biết là có nhiều ông HCM, xin
ông cho biết cụ thể hơn về vấn đề nầy .
Cán bộ: Sự thật th́ có rất nhiều ông HCM, ông Hồ vào năm 1911 đi
theo Tàu Pháp kiếm việc đă mất từ năm 1953 , sau đó Trung Quốc ngụy tạo
một nhân vật đưa vào VN lănh đạo, nhân vật nầy tương đối giống ông Hồ
nhưng tướng tá mập hơn . Ông Hồ thứ hai đă ra lệnh chôn sống, ném đá
chết hằng chục ngh́n người lúc bấy giờ . Nhiều gia đ́nh có công với cách
mạng trong thời kỳ Điện Biên cũng bị giết không tha . Sau đó th́ ông Hồ
nầy có lên Đài xin lổi, khóc lóc cho là phong trào Cải Cách Ruộng Đất đi
sai đường lối .
Vào năm 1965 ông Hồ thứ hai cũng già nua và chết, lần nữa Trung Quốc lại
cho phẩu thuật một người VN tương đối giống ông Hồ để lên ngồi chức chủ
tịch . CS lúc bấy giờ đang dấy động phong trào chống Mỹ nên họ không thể
đưa tin ông Hồ bị chết được . Ông Hồ thứ 3 không giống lắm, v́ khó t́m
được một người khác với số tuổi lớn mà giống nhưng ông Hồ nên đảng CS
cho thủ tiêu ông Hồ giả thứ 3 vào năm 1969, sau đó họ cho làm tang lễ
toàn quốc để che đậy sự việc nầy .
Thu Hiền: Thưa ông, những chuyện ông vừa kể ra , theo ông có bao
nhiêu người biết về vấn đề nầy ?
Cán bộ: Theo tôi rất nhiều người biết, những người trong bộ chính
trị hầu như ai cũng biết chuyện nầy nhưng không ai dám nói ra . Kể từ
năm 1965, ông Lê Duẩn là người đă nắm hết quyền hành trong tay . Ông HCM
giả được ngụy tạo năm 1965 rất ít khi ra đường v́ đảng CS sợ dân chúng
biết được . Nhiều người miền Bắc có dịp tiếp xúc với ông Hồ 1953 (thứ
hai) nên họ có thể nhận ra nhân vật giả dạng HCM vào năm 1965, nếu việc
nầy đồn ra ngoài sẽ ảnh hưởng rất lớn .
Thu Hiền: Vậy thưa ông cho biết về những tài liệu của ông Hồ như
nhật kư là của ông Hồ nào viết ra ?
Cán bộ: Những nhật kư của ông Hồ đều do đảng CSVN ngụy tạo kể cả
những huyền thoại về ông Hồ cũng do họ dựng ra .
Thu Hiền: Lúc trước nói chuyện với ông, ông có nói về cái xác của
ông HCM nằm trong lăng là cái xác giả, xin ông cho biết chi tiết như thế
nào .
Cán bộ: Xác ông HCM đă được đưa qua Nga nhiều lần để tẩm thuốc ,
năm 1980 họ lại đưa xác HCM qua Nga để sửa lại sóng mũi v́ bị gẫy nhiều
lần, họ dùng một loại keo để dán lại như sau đó keo không giữ được sóng
mũi mà làm bấy nhầy thêm . Sau năm 1990, nước Nga thay đổi chính thể nên
xác ông Hồ được đưa qua Trung Quốc để tu sửa nhưng TQ không làm được v́
khung mặt của Hồ đă bị vữa thối v́ không có thuốc của Nga nên khó kềm
lại . Lăng Hồ chủ tịch đă lấy cớ tu sửa một thời gian dài v́ lúc đó họ
không biết làm ǵ với cái xác ông HCM .
Một điều rất dễ nhận xét là xác ông Hồ nằm dưới ánh đèn , hai bàn tay để
phía trên bụng, nếu người đi xem nh́n kỹ th́ sẽ thấy ánh đèn phản chiếu
làn da óng lên . Thường th́ xác chết không phản quang chỉ có những nơi
như trán , nơi có xương căng ra mới có thể phản quang chứ c̣n da người
chết không có óng lên qua ánh đèn được .. Đây là xác bằng thạch cao nên
mới có hiện tượng đó . V́ vấn đề che đậy nên các chiến sĩ bảo vệ lăng
không cho ai đứng lại nh́n lâu . Đoàn người đi xem xác chỉ được đi qua
thật nhanh chứ không được nh́n kỹ .
Thu Hiền: Xin cám ơn ông đă cho biết về những chuyện thâm cung bí
sử nầy , xin hẹn ông lần tới .
Hồ Chí Minh, Nhận Định Tổng
Hợp
01- WILLIAM J. DUIKER và HO CHI MINH, A LIFE
Tuần báo Far Eastern Economic Review (Kinh Tế Viễn Đông) số ra ngày
8-8-2002 bị hạn chế phổ biến tại Hà Nội v́ đăng một bài có tựa đề Các
nhà kiểm duyệt bàn căi về tiểu sử ông Hồ. Sự việc này đă dẫn tới lời qua
tiếng lại giữa hăng thông tấn Reuters và phát ngôn viên ngoại giao Phan
Thúy Thanh của Hànội. Chung quy chỉ v́ tác phẩm Ho Chi Minh, a life (1)
của William J. Duiker mà một số người tại Hà Nội có ư định dịch ra tiếng
Việt.
Ngoài lời tán tụng của một số sử gia Mỹ nổi tiếng như Douglas Pike,
Marilyn Young, tờ Washington Post đă nhận định tác phẩm của William J.
Duiker "có lẽ đầy đủ và có uy tín nhất từ trước đến nay" trong các sách
nói về Hồ Chí Minh. Stanley Karnow, nhà báo lăo thành trở thành sử gia
tên tuổi với cuốn Vietnam, a history cũng viết "Người ta đă viết nhiều
về Hồ Chí Minh, nhưng chưa có cuốn nào bằng (equals) cuốn của
W.J.Duiker". Chữ bằng ở đây có thể được hiểu theo nhiều nghĩa: Hay, hấp
dẫn, nhiều chi tiết mới hoặc nhiều trang nhất. Quả t́nh cho tới nay chưa
có cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh nào nhiều trang như cuốn này: 700 trang khổ
lớn.
Để hoàn thành tác phẩm, Duiker đă dành 20 năm cho việc đọc và gặp gỡ
những tác giả đi trước, những nhân chứng, những người cầm bút ở Mỹ, Úc,
Âu châu, Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản... Ông nêu ra hàng loạt tên
tuổi, trong đó phần lớn là viên chức các cơ quan tại Hà Nội như Viện Mác
Lênin, Viện Sử Học, Đại Học Hà Nội và những nhân vật Cộng Sản Việt Nam
mà ông gọi là các học giả và nhà nghiên cứu thường quan tâm tới Hồ Chí
Minh hay tới cuộc cách mạng Việt Nam. Một số người c̣n được ông nêu đích
danh như Nguyễn Huy Hoàn ở Viện Bảo Tàng Hồ Chí Minh, Trần Thanh, bốn
nhà sử học Phùng Hữu Phu, Lê Mậu Hân, Phạm Xanh, Phạm công Tùng cùng các
nhân vật Hà Huy Giáp, Đặng Xuân Kỳ, Đỗ Quang Hưng, Ngô Phương Ba, Văn
Tạo, Trần Hữu Đính, kể cả Lưu Doăn Hùynh thuộc Viện Liên Lạc Quốc Tế của
Cộng Sản Việt Nam .... Cuối lời Tựa, tác giả "tha thiết măi măi cám ơn
Yvone (2) tỏ ra kiên nhẫn chịu đựng ông Hồ, người đă trở thành gần như
một thành viên của gia đ́nh"…
Những lời trên cho thấy tác giả chẳng những sống với nhân vật của ḿnh
mà c̣n lôi cuốn cả vợ con chia xẻ t́nh cảm của ḿnh đối với ông Hồ. Rơ
ràng phải cảm phục ông Hồ lắm, tác giả mới có thể kết thúc tác phẩm như
sau: "Bất kể cuối cùng người đời phán xét về di sản của ông để lại cho
dân tộc ḿnh ra sao, ông Hồ đă chiếm được một chỗ trong ngôi đền thờ
những anh hùng cách mạng từng đấu tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ
trên thế giới có được tiếng nói đích thực của họ"(3).
Duiker trách nhà cầm quyền Paris và Washington "đă bỏ lỡ cơ hội không
nắm tay Hồ Chí Minh khi ông này giơ tay cho họ bắt, để đến nỗi đem lại
hậu quả thảm khốc cho nhân dân Việt Nam và cho cả thế giới."(4) Theo
Duiker, chính tổng thống Truman chịu phần lớn trách nhiệm về t́nh h́nh
Việt Nam do hành vi năm 1945 bác bỏ lá thư của Hồ Chí Minh xin Hoa Kỳ
ủng hộ khi ông mới chân ướt chân ráo về nước. Tác giả nh́n lại thời điểm
này qua tường tŕnh, báo cáo của mấy nhân vật trung cấp Hoa Kỳ có dịp
tiếp xúc với Hồ Chí Minh những năm 45-46 như Archimedes Patti, Charles
Fenn vốn là những người ngay thẳng, không có kinh nghiệm về cung cách
ứng xử của ông Hồ.
Thực ra, cũng khó quyết đoán là Duiker quá tin ở những tài liệu trên để
nghĩ như thế hay ông đă dùng những tài liệu trên như điểm tựa cho ư nghĩ
vốn có của ḿnh mà người đọc có thể lượng trước qua sự cảm phục đối với
nhân vật Hồ Chí Minh.
Khi xây dựng tác phẩm, Duiker đă được tài trợ để qua Việt Nam, qua Liên
Xô thu góp tài liệu, đồng thời lại có sẵn tài liệu của nhiều tác giả đi
trước. Khối tài liệu mà ông sử dụng hết sức dồi dào và đa dạng v́ bao
gồm từ tài liệu chính thống tới tài liệu đả phá do ông tham khảo ở một
vài tác giả chống Cộng. Khi phân tích tài liệu, Duiker luôn tỏ ra vô tư
bằng cách nêu lên nhiều giả thuyết trái ngược, nhưng phần lớn kết luận
của ông bao giờ cũng ngả theo tài liệu chính thống trước các nghi vấn
đang gây tranh căi.
Chẳng hạn trong nghi vấn về vụ nhà cách mạng lăo thành Phan Bội Châu bị
Pháp bắt, Duiker đưa ra rất nhiều lời biện bạch để cho rằng chính cụ
Nguyễn Thượng Huyền, một người thân tín của cụ Phan, đă báo cho Pháp bắt
cụ Phan chứ không phải Lâm Đức Thụ là kẻ cộng tác mật thiết với Hồ Chí
Minh như sử gia Phạm Văn Sơn hay tác giả Hoàng Văn Chí và nhiều tác giả
khác đă viết. Riêng tác giả Việt Thường, một nhà báo cộng sản hoạt động
cho đến 1976 tại miền Bắc đă quả quyết người âm mưu bán đứng cụ Phan
chính là Hồ Chí Minh. Khi nói về nghi vấn này, Duiker cũng không nhắc
tới cái chết của Lâm Đức Thụ mà theo một số tác giả là do Hồ Chí Minh
chủ trương để giữ bí mật việc ông ta có dính vào vụ báo cho Pháp bắt cụ
Phan, mặc dù Duiker từng nhắc tới mối liên hệ khăng khít giữa Lâm Đức
Thụ và Hồ Chí Minh (5).
Karnow khen Duiker đă giải mật (demystifies) về nhân vật Hồ Chí Minh,
làm cho các huyền thoại, các bí ẩn được sáng tỏ. Nhưng chính Duiker lại
viết ở cuối đoạn mở đầu : "Ngồi trên ṭa cao của đền thánh dành cho các
anh hùng cách mạng, Hồ Chí Minh hẳn sẽ thích thú biết rằng, ít nhất qua
cuốn tiểu sử này, cái dáng dấp huyền bí bao quanh ông vẫn c̣n nguyên vẹn
(remains intact)."(6)
Có thể hiểu đó là lời thú nhận sự bất lực trong việc giải tỏa các nghi
vấn về tiểu sử Hồ Chí Minh và cũng có thể hiểu đó lời khẳng định thái độ
tôn trọng đối với nhân vật nên cố ư giữ sự nguyên vẹn cho những huyền
thoại đă có. Theo dơi những trang sách, người đọc khó bác bỏ cách hiểu
thứ hai qua nhiều trường hợp lăng quên của tác giả trước một số sự việc.
Ở đoạn viết về tương quan giữa Hồ Chí Minh với Mikail Borodin, Duiker
lập lại nguyên vẹn tài liệu của Hồng Hà (7) với nhiều chi tiết hơn từ
việc hai người ở chung tại khách sạn Lux Mạc Tư Khoa tháng 12.1923 và
thường tṛ chuyện với nhau bằng tiếng Anh tới việc được cử sang Trung
Hoa với tư cách phụ tá và thông dịch cho Borodin lúc đó là Trưởng Phái
Bộ Liên Xô bên cạnh chính phủ Trung Hoa Dân Quốc tại Quảng Đông và cuối
cùng cũng kết luận y hệt Hồng Hà: "Chỉ riêng vợ chồng Borodin biết căn
cước thực của ông"(8).
Nhưng chính Hồ Chí Minh dưới bút hiệu Trần Dân Tiên đă kể khác hẳn về
tương quan với Borodin. Ông Hồ kể rằng lúc đó ông qua Trung Quốc để t́m
đường về nước với mục đích truyền bá lư tưởng b́nh đẳng, tự do, bác ái
học được ở Pháp. Tại Trung Quốc, ông phải đi bán báo và thuốc lá để kiếm
sống nên nhân đó mới đọc thấy lời quảng cáo t́m thông ngôn và đă đến xin
việc với Borodin. Trần Dân Tiên là một trong 5 bút hiệu của Hồ Chí Minh
nên lời kể trên chính là lời tự kể. Duiker đă tới Việt Nam sưu tầm đủ
loại tài liệu về Hồ Chí Minh chắc chắn không thể bỏ qua tập tự truyện
của Hồ Chí Minh. Tuy vậy, Duiker coi như không hề có cuốn sách của Trần
Dân Tiên (9). Tại sao?
Có thể cho rằng Duiker đă gạt cuốn sách sang bên chỉ đơn giản là do thấy
những lời kể trong đó sai với sự thực chăng? Cách giải thích này e khó
hợp lư khi lời kể sai sự thực kia chính là lời tự kể của nhân vật đang
được nhận dạng. Hơn nữa, mỗi lời kể sai về sự thực bản thân của bất kỳ
ai đều phải có hậu ư và trong trường hợp Hồ Chí Minh, hậu ư đó không thể
dễ dàng bỏ qua, nhất là đối với một sử gia đang làm công việc t́m hiểu
về con người và cuộc sống của chính Hồ Chí Minh.
Nghi vấn thứ nhất cần được giải đáp là lư do khiến Hồ Chí Minh kể sai
như thế. Hồ Chí Minh chỉ muốn vẽ ra một cảnh gian khổ để tự đề cao hay
muốn che giấu vai tṛ đảng viên Cộng Sản Quốc Tế ? Ư nghĩa của dụng ư đề
cao hoặc che giấu đó là ǵ?
Nghi vấn thứ hai là công việc thực sự của Hồ Chí Minh lúc đó tại Trung
Hoa. Hồ Chí Minh là phụ tá cho Borodin với nhiệm vụ phát triển ảnh hưởng
Đệ Tam Quốc Tế qua Trung Hoa và Đông Nam Á hay đúng như Hồ Chí Minh kể
là chỉ muốn đem tinh thần tự do, b́nh đẳng, bác ái của Cách Mạng Dân
Quyền Pháp về truyền bá tại Việt Nam? Ngay cả khi tin tưởng tuyệt đối
các tài liệu của Liên Xô và tác phẩm của Hồng Hà cũng không thể không
xét đến lời kể của chính Hồ Chí Minh dù đă được ông che giấu dưới một
cái tên khác.
Nghi vấn thứ ba nằm trong thời điểm Hồ Chí Minh đưa ra lời kể trên. Đó
là năm 1948, sau khi xuất hiện ư hướng xoay chiều của người Pháp trong
cuộc chiến Việt Nam và vấn đề chống Cộng đă được đặt lại trong dư luận ở
nhiều nơi, kể cả vùng Pháp chiếm đóng lẫn vùng kháng chiến. T́nh thế lúc
đó đă dẫn tới việc Hồ Chí Minh phải che mờ các khuôn mặt cộng sản quá
khích như Vơ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Tôn Đức Thắng ... bằng tấm màn
cải tổ chính phủ hồi tháng 7.1947 với sự tŕnh diện một số nhân vật tên
tuổi cũ hoặc không lộ rơ màu sắc cộng sản như Phan Kế Toại, Tạ Quang
Bửu, Hoàng Minh Giám... Cuốn sách của Hồ Chí Minh có tương quan với t́nh
h́nh trên không và ư nghĩa tương quan đó ra sao? Trong khuôn khổ nghi
vấn này cũng không thể bỏ qua tiết lộ của Pierre Brocheux, tác giả cuốn
Ho Chi Minh, cho biết ngay từ đầu năm 1948, Hồ Chí Minh đă có bản dịch
tiếng Pháp của cuốn sách và trao cho một nhân viên Cộng Sản Việt Nam tại
Miến Điện để dịch ra tiếng Anh cùng các thứ tiếng khác. Như vậy, khi
nhận dạng Hồ Chí Minh, không thể bỏ qua cuốn Những mẩu chuyện về đời
hoạt động của Hồ Chủ Tịch do mức độ quan trọng của cuốn sách theo đánh
giá của chính ông ta.
Ngoài những nghi vấn về hậu ư khi viết sách, sự hiện diện của cuốn sách
cũng là một nghi vấn cần xét về nhân cách của người viết. Một người viết
hồi kư kể sai về một sự việc luôn bị nh́n là kẻ bất khả tín th́ một
người cố t́nh giấu mặt để tô vẽ ḿnh bằng những huyền thoại tự tạo chứng
minh rằng ḿnh có một cuộc sống vô cùng thánh thiện, ḿnh đă được toàn
dân tôn xưng là anh hùng cứu nước, được toàn dân coi là cha già dân tộc
cần nhận dạng ra sao?
Có lẽ lời giải thích hợp lư nhất về việc Duiker bỏ qua cuốn sách kia chỉ
có thể dựa trên phát biểu của chính tác giả là ít nhất qua cuốn tiểu sử
này, cái dáng dấp huyền bí bao quanh ông vẫn c̣n nguyên vẹn. Duiker
không muốn phá vỡ các huyền thoại mà Hồ Chí Minh đă tự dựng lên về ḿnh
nên mới coi như không có cuốn sách. Bởi v́, nếu đưa cuốn sách ra mổ xẻ
để đối chiếu với thực tế, hoặc chỉ để đối chiếu với một số tài liệu
khác, th́ h́nh ảnh thực của Hồ Chí Minh khó có thể giúp ông Hồ chiếm
được một chỗ trong ngôi đền thờ những anh hùng cách mạng từng đấu tranh
mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có được tiếng nói đích
thực của họ như lời diễn tả của Duiker.
Thực ra, Duiker không chỉ tránh chạm tới các huyền thoại xuất phát từ
lời kể của chính Hồ Chí Minh mà c̣n góp thêm huyền thoại qua cuốn sách
dày cộm của ḿnh.
Khi nói về thời niên thiếu của Hồ Chí Minh, Duiker viết: "Mẹ Cung (Hồ)
cũng có chút ít kiến thức văn chương Việt Nam và thường ru con ngủ bằng
hát ca dao hay ngâm những vần thơ trích trong truyện Kiều cổ điển, một
truyện t́nh thương tâm của cặp t́nh nhân vướng vào mạng lưới luân lư cổ
truyền."
Nói về bà của Hồ Chí Minh, Duiker viết: "Đến đêm, bà của Cung, trước khi
đặt cháu lên vơng thường đọc cho bé nghe chuyện những bậc anh hùng. Cung
thông minh và ṭ ṃ nên nhanh chóng hấp thụ kiến thức".(10)
Duiker c̣n kể chuyện ông Cử Sắc, thân phụ Hồ Chí Minh, đă từ chối không
nhận tiệc khao để đem phân phát thịt trâu cho dân nghèo và thường kể cho
con nghe về những thần thoại, những bậc anh hùng Việt Nam trong quá khứ.
(11)
Tác giả cũng đưa cả ông thợ rèn hàng xóm ra để chứng tỏ cậu bé Cung đă
được tiêm nhiễm tinh thần dân tộc từ nhỏ như thế nào. Qua sự diễn tả của
tác giả, ông thợ rèn này đă kể cho Cung nghe về mọi chuyện tranh đấu
trong lịch sử Việt Nam từ chuyện Lê Lợi, chuyện Mai Thúc Loan, chuyện
Phan Đ́nh Phùng tới phong trào Cần Vương... (12)
Điểm tựa cho sự bác bỏ hay nh́n nhận những diễn tả trên hết sức mơ hồ kể
cả trong trường hợp tác giả nêu nổi bằng chứng cụ thể cho cái nếp sinh
hoạt thơ ấu của cậu bé Cung là như thế và ông thợ rèn hàng xóm là một
người rất thông hiểu về lịch sử Việt Nam. V́ ngay trong trường hợp này
vẫn không có ǵ xác nhận cậu bé đă được ru ngủ bằng những vần thơ Kiều,
được nghe kể mọi chuyện về Lê Lợi, về Mai Thúc Loan ... và xác nhận cậu
bé đă nhanh chóng hấp thụ kiến thức. Dù muốn dù không, vẫn phải nh́n
nhận diễn tả trên chỉ phản ảnh quan niệm quen thuộc về ảnh hưởng tác
động vào xu hướng tinh thần của con người để dựa trên bối cảnh chung của
xă hội nông thôn Việt Nam cuối thế kỷ 19 mường tượng ra vài cảnh sống
coi như tiêu biểu của nhân vật. Nói một cách khác, tính chất tưởng tượng
đă thay thế tính chất sử liệu trong diễn tả này.
Nhưng, chuyện mẹ ru con ngủ bằng ca dao và truyện Kiều, chuyện bà kể cho
cháu nghe về các anh hùng dân tộc, chuyện bố cơng con trên đường vừa đi
vừa kể về các thần thoại và các nhân vật lịch sử Việt Nam, chuyện ông
thợ rèn hàng xóm hun đúc ḷng yêu nước của cậu bé bằng sự nhắc lại những
cuộc khởi nghĩa, những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm vv… lại được
Duiker gom thành tiền đề cho lời xác quyết về nhiệt t́nh yêu nước của
Nguyễn Tất Thành khi Thành lên đường vào mùa hè 1911 để ra đi t́m phương
cứu nước.(13) Và, để giữ vững xác quyết này, Duiker đă đưa ra một giải
thích hoàn toàn chủ quan trước nghi vấn đang được đặt ra về lá đơn đề
ngày 15.9.1911 của Hồ Chí Minh xin được nhập học trường thuộc địa như
một học sinh nội trú với mong mỏi sẽ trở nên hữu ích cho nước Pháp...
Nhiều tác giả coi lá đơn này như chứng cớ cho thấy Hồ Chí Minh không hề
nghĩ đến chuyện đấu tranh vào lúc đó nhưng Duiker quả quyết ư định thực
sự của Nguyễn Tất Thành khi viết lá đơn trước hết là để giấu kín ư đồ
cứu nước của ḿnh và kế đó chỉ là để có cơ hội học hỏi thêm (14). Nếu sự
việc chỉ đơn giản như vậy và c̣n biểu hiện tính thận trọng, tính cầu
tiến rất đáng nêu gương cho giới trẻ th́ tại sao Hồ Chí Minh giấu kín
việc viết lá đơn và đảng Cộng Sản Việt Nam cũng coi như không có lá đơn,
kể cả khi được lôi ra khỏi Thư Khố Paris đầu thập niên 1980?
Theo Duiker, ngoài nhiệt tâm yêu nước, Hồ Chí Minh c̣n có một nhăn quan
chính trị rất sắc bén mà chứng cớ cụ thể là đă chê nhà cách mạng Phan
Bội Châu, không thèm nhận lời mời tham gia phong trào Đông Du từ trước
khi cụ Phan về nước, năm 1904.(15) Giả dụ lời mời được đưa ra vào năm
1904 th́ lúc đó Hồ Chí Minh đang là nhân vật như thế nào? Tiểu sử Hồ Chí
Minh ghi ông sinh năm 1890 c̣n thông hành của ông khi từ Pháp qua Nga
ghi năm sinh là1895. Vậy năm 1904, Hồ Chí Minh chỉ là cậu bé mới 9 tuổi
hoặc tối đa 14 tuổi. Một cậu bé ở cỡ tuổi đó đă có đức tính ǵ và đóng
góp ǵ để nhận được lời mời tham gia cách mạng và có thể tin nổi rằng
cậu bé đó đủ nhận thức bác bỏ đường lối hoạt động của một phong trào đấu
tranh chăng? Thực ra, câu trả lời nằm sẵn ở ngay cuốn Những mẩu chuyện
về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch. Trong cuốn sách này, Hồ Chí Minh đă
viết "ông Nguyễn lúc đó rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là
Công Hội, thế nào là băi công và thế nào là chính đảng". Lời mô tả này
nhắm cho thời kỳ trước khi Hồ Chí Minh qua Mỹ tức là thời gian mà Hồ Chí
Minh đă ngoài 20 tuổi. Một chàng trai ngoài 20 tuổi vẫn chưa biết thế
nào là chính đảng, thế nào là băi công có thể là hậu thân của cậu bé chỉ
mới trên dưới 10 tuổi đă biết phán xét, và phán xét sắc bén, đường lối
đấu tranh của những nhà cách mạng tiền bối chăng? Nếu không muốn nh́n
tới cuốn sách của Hồ Chí Minh th́ Duiker vẫn không thể không biết một
câu tương tự do chính ḿnh đă trích dẫn là Hồ Chí Minh sau này đă nói
với nhà báo Mỹ Anna Louise Strong rằng cho tới khi viếng thăm Hoa Kỳ
khoảng 1913, ông chẳng biết ǵ về chính trị (16).
Sự mâu thuẫn và bỏ sót rơ rệt nhất của Duiker c̣n nhiều hơn trong những
trang nói về cuộc sống t́nh cảm riêng của Hồ Chí Minh. Về khía cạnh này,
Duiker có khá nhiều tài liệu nhưng có vẻ không lưu tâm. Duiker nhắc tên
một loạt các người vợ, các người t́nh của Hồ Chí Minh như Nguyễn Thị
Minh Khai, Tăng Tuyết Minh, Đỗ Thị Lạc, Nồng Thị Xuân, Nguyễn Thị Phương
Mai... một cô ở Pháp, vài cô ở Nga và cả chuyện ông Hồ nhờ một cán bộ
cao cấp Trung Cộng giới thiệu cho một cô gái trẻ để hưởng tuổi già...
theo lối nh́n dành cho những chi tiết lặt vặt và vui vui trong cuộc đời
của một lănh tụ. Có thể đây là lối nh́n mà chính Duiker đă có nhưng cũng
có thể đây là chủ đích định hướng nhận dạng đối tượng mà tác giả muốn có
nơi người đọc.
Dù thuộc trường hợp nào th́ cách diễn tả của Duiker cũng bị vướng mắc
khá nhiều.
Chỉ nh́n riêng trường hợp Nguyễn Thị Minh Khai đă thấy rơ những vướng
mắc đó. Duiker tỏ ra có khá nhiều tài liệu. Duiker biết Nguyễn Thị Minh
Khai là chị của Nguyễn Thị Minh Giang, vợ Vơ Nguyên Giáp. Duiker biết
liên hệ t́nh cảm giữa Hồ Chí Minh và Nguyễn Thị Minh Khai là một bí ẩn
rắc rối nhất trong đời ông Hồ. Duiker biết bút hiệu T.Lan của ông Hồ
chính là viết tắt tên Trần Thái Lan, một tên khác của Nguyễn Thị Minh
Khai. Nhưng Duiker không bàn tới chi tiết cuộc t́nh bí ẩn này mà chỉ đưa
ra những danh xưng rất dễ gây lúng túng cho người đọc. Chẳng hạn khi
Duiker gọi Minh Khai là "vợ Quốc", khi gọi là "vợ cũ", khi gọi là "vợ Lê
Hồng Phong" và Duiker c̣n ghi rơ Lê Hồng Phong chính thức kết hôn với
Minh Khai tại Liên Xô (17).
Sự việc này cho thấy Duiker đă coi nhẹ vấn đề tới mức không thèm nh́n
vào tờ giá thú của Hồ Chí Minh với Nguyễn Thị Minh Khai được t́m thấy
trong văn khố mật của Liên Xô hoặc Duiker chỉ dựa theo tài liệu của Đảng
Cộng Sản Việt Nam (18) để giữ vẹn màu sắc thần thánh cho Hồ Chí Minh.
Trong trường hợp sau, việc ông dùng danh xưng "vợ cũ của Quốc" để gọi
Nguyễn Thị Minh Khai không hẳn là do cẩu thả mà chính là cố ư tạo sẵn
lời giải thích cho bất kỳ thắc mắc nào có thể nẩy ra về cuộc t́nh bí ẩn
trên. Người thắc mắc sẽ tự t́m cho ḿnh lời giải thích rằng Nguyễn Thị
Minh Khai là "vợ cũ" của Hồ Chí Minh v́ đă chia tay với nhau, sau đó mới
trở thành vợ Lê Hồng Phong. Cách giải thích này có thể giúp thay đổi hẳn
cái nh́n về phẩm cách của Hồ Chí Minh so với t́nh tiết thực của mối t́nh
tay ba qua ghi nhận của nhiều tác giả mà Duiker đă bỏ qua.
Theo những t́nh tiết này th́ Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai từng
hứa hôn từ khi qua Trung Quốc làm việc tại Đông Phương Bộ Quốc Tế Cộng
Sản năm 1930. Năm 1931, Minh Khai bị mật thám Pháp bắt giữ cho tới năm
1934 mới được thả. Đây là lúc Lê Hồng Phong và Minh Khai được chọn làm
đại biểu tham dự Đại Hội Quốc Tế Cộng Sản lần thứ 7 tại Mạc Tư Khoa. Lê
Hồng Phong lên đường trước, c̣n Minh Khai ở lại thụ huấn với Hồ Chí Minh
để chuẩn bị cho việc tham gia Đại Hội. Thời gian ngắn ngủi này dẫn tới
việc Minh Khai có thai với Hồ Chí Minh và khi hai người tới Mạc Tư Khoa
đă có sự can thiệp của tổ chức Đảng ở đây để Hồ Chí Minh và Minh Khai
chính thức thành hôn. Do đó mới có bản giá thú lưu trữ tại Văn Khố Mật
của Liên Xô.
Theo bộ sách 10 tập của Cộng Sản Việt Nam, Hồ Chí Minh Biên Niên Tiểu
Sử, th́ 3 đại biểu của Đông Phương Bộ Quốc Tế Cộng Sản tham gia Đại Hội
Quốc Tế Thanh Niên lần 6 khai mạc tại trụ sở công đoàn Liên Xô, Mạc Tư
Khoa ngày 25.9.1935 là Hồ Chí Minh, Minh Khai và Tú Hưu (tức Hoàng Văn
Nọn). Tài liệu ghi rơ tên trong Đảng của Hồ Chí Minh lúc đó là Teng Man
Huon, c̣n tên trong Đại Hội là Lin. Không có tài liệu nào của Cộng Sản
nói về sự có mặït của Lê Hồng Phong bên cạnh Hồ Chí Minh hay Nguyễn Thị
Minh Khai tại Nga vào thời gian này. Khi Nguyễn Thị Minh Khai về nước
năm 1936, Hồ Chí Minh cũng xin về nhưng chuyến đi bị hủy bỏ nên măi cuối
năm 1938, Hồ Chí Minh mới về tới Quế Lâm, làm việc tại Văn Pḥng Bát Lộ
Quân dưới cái tên mới là Hồ Quang, cấp bậc Thiếu Tá. Không có tài liệu
nào cho biết thêm về tương quan giữa Hồ Chí Minh với Nguyễn Thị Minh
Khai, ngoài những tài liệu của Đảng nói về việc Nguyễn Thị Minh Khai có
một người con gái và tất nhiên nói đó là con của Lê Hồng Phong. Lê Hồng
Phong bị bắt năm 1938 tại Chợ Lớn sau khi chia tay với Hồ Chí Minh tại
Hong Kong để về nước. Cuộc gặp gỡ giữa Lê Hồng Phong và Hồ Chí Minh diễn
ra hết sức bí mật nên việc bị bắt của Lê Hồng Phong cũng thành một nghi
vấn là có thể do bàn tay hăm hại của ông Hồ v́ ông vẫn biết Lê Hồng
Phong chưa nguôi thù hận về câu chuyện t́nh với Minh Khai nên ra tay trừ
khử.
Trong tác phẩm của ḿnh, Duiker có ghi Hồ Chí Minh từng bị Hà Huy Tập,
một đảng viên cùng đợt với Lê Hồng Phong, tố cáo với Quốc Tế Cộng Sản về
việc Hồ Chí Minh đă gây ra tai họa cả trăm đảng viên bị sát hại.(19) Tuy
nhiên, Duiker không đả động tới nghi vấn về vụ bị bắt của Lê Hồng Phong,
dù chỉ đề cập để bác bỏ.
Thực ra, Duiker bỏ qua rất nhiều nghi vấn và sự việc trong cuộc đời t́nh
cảm của Hồ Chí Minh bằng lối kể lửng lơ. Qua cuốn sách của Duiker, người
đọc không hiểu diễn biến cuộc sống vợ chồng của Hồ Chí Minh và Tăng
Tuyết Minh ra sao, không nắm vững hết tương quan t́nh cảm giữa Hồ Chí
Minh với Nguyễn Thị Minh Khai thế nào, không biết ǵ về cái kết cục bi
thảm dành cho Nồng Thị Xuân cùng số phận tất cả những người t́nh khác...
Dường như Duiker chỉ đề cập tới khía cạnh này để chứng tỏ đă đọc nhiều,
biết nhiều và nhất là không thể tránh né để chứng tỏ cái nh́n vô tư của
một sử gia. Duiker đă chọn một cách đề cập có cân nhắc để không gây tác
hại cho cái nh́n vốn có của ḿnh dành cho nhân vật được ngưỡng mộ. Dù
vậy việc phổ biến cuốn sách bằng tiếng Việt vẫn gặp rắc rối vào tháng
8.2002 như đă ghi ở đầu chương.
Nhưng ngay cả những người ngăn cản việc phổ biến tác phẩm của Duiker tại
Hà Nội chắc chắn cũng phải nh́n nhận Duiker đă góp phần rất tích cực cho
việc đánh giá cao tinh thần yêu nước và tài ngoại giao của Hồ Chí Minh.
Tương tự một số tác giả khác có cảm t́nh với Hồ Chí Minh, Duiker xác
quyết ông Hồ là người yêu nước thương dân, người hiền hậu khoan dung và
những tàn hại mà nhân dân Việt Nam phải gánh chịu đều do thủ hạ lộng
quyền, tiêu biểu là nhóm Lê Duẩn, gây ra.
Theo Duiker, Lê Duẩn là người không chấp nhận đường lối ôn ḥa được Liên
Xô cổ vơ giữa thập niên 1950 và đă được ghi vào nghị quyết của Đảng, v́
Duẩn tin theo chủ thuyết Mao Trạch Đông, chủ trương thống nhất đất nước
bằng bạo lực là điều mà Hồ Chí Minh không tán thành. Duiker không trưng
dẫn một tài liệu nào làm điểm tựa cho lập luận này nhưng rơ ràng là một
biện bạch rất cần thiết cho lối nh́n đă có về Hồ Chí Minh thể hiện từ
h́nh ảnh những cảnh đời thơ ấu của cậu bé Nguyễn Sinh Cung qua sự t́m
đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành tới hành vi của Tổng Thống Mỹ Truman
năm 1945 từ chối ủng hộ Hồ Chí Minh mà Duiker gọi là sai lầm. Theo diễn
tả của Duiker, Hồ Chí Minh luôn là người thánh thiện, nhiệt t́nh với dân
với nước nhưng luôn bị lâm cảnh gánh chịu tai tiếng về những thảm họa.
Cuộc chiến Việt Nam 1945-1954 là do Tổng Thống Truman gián tiếp gây nên
bởi bác bỏ đề nghị xin ủng hộ của Hồ Chí Minh và cuộc chiến Việt Nam
1954-1975 là do chủ trương của Lê Duẩn.
Nhưng chính Duiker lại tỏ ra tự mâu thuẫn khi ghi nhận rằng Hồ Chí Minh
là người ủng hộ việc bổ nhiệm Lê Duẩn vào chức bí thư thứ nhất tức là
chức vụ có quyền cao nhất trong Đảng với lư do để có thể an tâm rằng kẻ
kế vị ông sẽ dành ưu tiên cao cho vấn đề thống nhất đất nước.(20)
Với ghi nhận này, khó thể nghĩ Hồ Chí Minh chống lại chủ trương dùng bạo
lực của Lê Duẫn và không chia xẻ trách nhiệm về những thảm cảnh sau này
của đất nước.
Hai điểm nhấn mạnh khác của Duiker trong bức chân dung Hồ Chí Minh là
tinh thần quốc gia và tính khoan ḥa nhân ái.
Tinh thần quốc gia của Hồ Chí Minh là điều được Duiker nhắc liên tục từ
đầu tới cuối tác phẩm qua h́nh dạng một người yêu nước và tranh đấu v́
chủ nghĩa dân tộc. Cho nên Duiker cho rằng Hồ Chí Minh không phải là
người theo đường lối Cộng Sản Quốc Tế và khẳng định Hồ Chí Minh chỉ muốn
làm vừa ḷng Stalin khi nhắn với Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam rằng
phải tuyệt đối tuân theo chính sách mặt trận thống nhất đă được thông
qua tại Đại Hội 7 Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản chứ không thực sự muốn thi
hành các điểm đă nêu, trong đó có điểm 4 mà Hồ Chí Minh đă nhắc lại như
sau: "Chúng ta không thể nhượng bộ điều ǵ cho nhóm Tờ-Rốt-Kít. Chúng ta
phải làm tất cả mọi việc có thể được để lột mặt nạ của chúng là những
con chó của Phát Xít và tiêu diệt chúng về chính trị." (21)
Song song với lời bào chữa được đưa ra, Duiker lại ghi về mối tương quan
và các hoạt động của Hồ Chí Minh trong thời gian ở Trung Hoa luôn nằm
trong tầm chi phối của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Những nhân vật liên hệ
với Hồ Chí Minh là Manuilsky, Joseph Ducroux có bí danh Serge Lefrank,
Hilaire Noulens ... đều là người của Đệ Tam Quốc Tế và hoạt động của Hồ
Chí Minh đều do Đệ Tam Quốc Tế chỉ thị. Duiker c̣n nêu các tài liệu cho
biết Hồ Chí Minh đă được Đệ Tam Quốc Tế cấp phương tiện tiền nong cũng
như việc thành lập các Đảng Cộng Sản Đông Dương và Đảng Cộng Sản Việt
Nam đă được Đệ Tam Quốc Tế hướng dẫn ra sao. Có thể bảo mối tương quan
và các hoạt động đó cũng chỉ là một cách lấy ḷng Stalin chăng?
Vả lại, chính Duiker đă cho biết Hồ Chí Minh hết sức yêu kính và trung
thành với Lênin và c̣n trích dẫn một bài viết của ông Hồ trên tờ Sự Thật
(Pravda) của Liên Xô số ra ngày 27-1-1924 với lời kết như sau: "Khi c̣n
sống, người là cha, là thày, là đồng chí và cố vấn của chúng ta. Nay
người là ngôi sao dẫn đường đưa tới cách mạng xă hội. Lênin sống măi
trong sự nghiệp của chúng ta. Người bất tử."
Đi xa hơn, Duiker c̣n trích dẫn phát biểu của một đảng viên Cộng Sản
Pháp rất thân với Hồ Chí Minh nhưng về sau bỏ Đảng, từng gọi Hồ Chí Minh
là "Staliniste" , một người theo chủ nghĩa Staline thuần thành. (22)
Như thế, Hồ Chí Minh không chỉ bị Cộng Sản chi phối do nhận nhiệm vụ,
nhận tiền trợ cấp để hoạt động cho những mục tiêu của Đệ Tam Quốc Tế mà
bản thân Hồ Chí Minh đă tự nguyện đi theo con đường của Đệ Tam Quốc Tế
v́ ḷng tin tuyệt đối dành cho các lănh tụ tổ chức này. Những tài liệu
trích dẫn trên là những trở lực khó vượt qua để khoác cho Hồ Chí Minh bộ
áo người quốc gia yêu nước, dù mức độ ước mong của Duiker lớn tới cỡ
nào.
Khía cạnh khác của Hồ Chí Minh mà Duiker đề cao là tính khoan ḥa, ḷng
nhân hậu và sự thấu triệt về phương thức đấu tranh. Theo Duiker, Hồ Chí
Minh là người chịu ảnh hưởng luân lư Khổng Mạnh nên luôn chú trọng các
tiêu chuẩn đạo đức như cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, chân thành
phục thiện, cầu học cầu tiến, lễ độ khiêm cung và trên hết là khoan ḥa
độ lượng... Tất nhiên Duiker không có dịp trực diện với Hồ Chí Minh mà
chỉ ghi theo một số nhân chứng nào đó và qua suy diễn. Trên thực tế, nếu
có những nhân chứng đă kể Hồ Chí Minh có các đức tính trên th́ cũng
không thiếu nhân chứng xác nhận Hồ Chí Minh là kẻ đại gian đại ác và như
thế vấn đề lại trở thành tranh căi. Cách duy nhất mà người nhận dạng Hồ
Chí Minh phải chọn chính là nh́n thẳng vào những ǵ liên hệ tới cuộc
sống và hoạt động đă được ghi lại. Trước mắt Duiker đă có những thảm
cảnh lịch sử Việt Nam từ 1945, có những nạn nhân của chính sách cải cách
ruộng đất, có những người Cộng Sản Đệ Tứ Quốc Tế bị Hồ Chí Minh gọi là
những con chó của Phát Xít và ra lệnh tiêu diệt... Trước mắt Duiker chắc
chắn cũng có những tài liệu cho biết ngày 28-12-1967, Hồ Chí Minh đă họp
Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng quyết định mở đợt tổng tấn công Tết Mậu
Thân 1968 trên toàn miền Nam và tháng 3-1968, trong khi toàn miền Nam
ch́m trong máu lửa tóc tang, Hồ Chí Minh đă hào hứng sáng tác 2 bài thơ
"Vô Đề" được Đảng lưu lại như di sản quư báu:
I
Đă lâu chưa làm bài thơ nào
Đến nay thử làm xem ra sao
Lục măi giấy tờ vẫn chưa thấy,
Bỗng nghe vần "thắng" vút lên cao
II
Thuốc kiêng rượu cữ đă ba năm
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn
Một năm là cả bốn mùa Xuân. (23)
Một người lấy cảnh chết chóc đau khổ của đồng bào ḿnh làm nguồn hứng
sáng tác thơ, trong khi chính người đó từng tuyên bố với báo chí "gộp
tất cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đ́nh lại th́ thành
nỗi đau khổ của tôi" (24) liệu có thể là con người nhân ái và trung
thực, chân thành không?
Duiker c̣n có thể nh́n lại điều chính ḿnh đă đưa ra để xác định tầm
thấu triệt phương thức đấu tranh của Hồ Chí Minh qua sự việc cuốn Con
Đường Kách Mệnh của Hồ Chí Minh gần như giống hệt cuốn Kinh Bổn của
Người Cách Mạng của Sergey Nechayev. Theo Duiker, Nechayev nhấn mạnh đến
vai tṛ của người làm cách mạng chẳng khác ǵ một dụng cụ mù quáng của
mục tiêu cách mạng. Anh ta phải tàn nhẫn, nham hiểm như Machiavel, trong
khi cổ vơ cho mục đích cách mạng. Anh ta phải tỏ ra tuyệt đối phục tùng
đảng của anh ta. và sẵn sàng từ bỏ mọi liên hệ bạn bè và gia đ́nh. Cũng
phải sẵn sàng hy sinh những tiêu chuẩn đạo lư đă được nh́n nhận một cách
phổ quát, để có thể nói dối, ăn gian v́ lợi ích cách mạng….Nói chung
cuốn sách đă được Lênin tán thưởng và trở thành thánh kinh của nhóm đa
số (quá khích) của ông.(25)
Nechayev từng được Lênin coi như một thứ siêu Machiavel. Khi đă thấy Hồ
Chí Minh giống hệt Nechayev ắt không thể kết luận khác được rằng Hồ Chí
Minh là một con người chỉ sống và hành sử bằng thủ đoạn mà thôi. Trong
trường hợp này, diễn tả Hồ Chí Minh bằng h́nh ảnh một người mang nặng
ảnh hưởng luân lư Khổng Mạnh chỉ có thể hiểu là quá mù mịt về Khổng học
hoặc cố t́nh thay trắng bằng đen. Hơn nữa, chính Duiker đă bảo Hồ Chí
Minh là đệ tử thuần thành của cả Lênin lẫn Stalin th́ dựa vào đâu để nói
được rằng Hồ Chí Minh là con người khoan dung, nhân ái, khi chính những
người Cộng Sản Liên Xô đă triệt hạ tượng đài của các nhân vật này, coi
Lênin là kẻ gian xảo và gọi Stalin bằng biệt danh tên đồ tể.
Phải nh́n nhận rằng W.J.Duiker đă đưa ra một tác phẩm đồ sộ hơn hẳn
những tác giả trước ông với rất nhiều chi tiết về Hồ Chí Minh. Ông đọc
nhiều, có một khối tài liệu phong phú nên c̣n giúp cho người đọc hiểu
thêm cả những hoàn cảnh và những nhân vật xoay quanh đối tượng của ḿnh.
Dù chỉ viết về tiểu sử Hồ Chí Minh, Duiker đă dựng lại nhiều khung cảnh
chiến tranh Việt Nam cũng như t́nh h́nh thế giới sau Đệ Nhị thế chiến,
t́nh h́nh nội bộ Liên Xô cùng với mối quan hệ Liên Xô–Đức Quốc Xă, cuộc
hôn phối cưỡng ép Quốc–Cộng Trung Hoa trong thời gian kháng Nhật và một
số hoạt động đảng phái tại Việt Nam.
Ưu điểm của Duiker là cố phân tích tới từng chi tiết của mọi vấn đề.
Nhưng có lẽ ưu điểm này đă là một phần nguyên do đưa tác giả tới nhiều
điểm tự mâu thuẫn khi gặp các chi tiết quá phức tạp vượt khỏi tầm xác
định. Ưu điểm này cũng khiến lộ rơ những cố t́nh tránh né của tác giả
trước nhiều chi tiết được bỏ qua.
Phần khác, theo chúng tôi, tác giả có vẻ bị chi phối bởi định kiến về
con người Hồ Chí Minh nên không chịu đặt cuộc chiến mà ông Hồ chủ trương
vào đúng bối cảnh chiến tranh ư thức hệ cộng sản hay đấu tranh giai cấp
của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Duiker đă nhắc đến đề cương của Lênin về chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa
thuộc địa và ghi nhận việc Lênin hô hào liên kết với các giai cấp phi vô
sản để đánh đổ chủ nghĩa đế quốc trong một quốc gia chỉ là chiến thuật
giai đoạn và có điều kiện. Nhưng Duiker lại không chịu nh́n sâu vào
chiến lược sách lược toàn bộ cuộc đấu tranh đó để xác định vai tṛ của
Hồ Chí Minh với tính chất chủ yếu là lệ thuộc vào Liên Xô.
Chính v́ thế, Duiker đă không đếm xỉa đến nỗi đau khổ cùng cực của nhân
dân Việt Nam với tính cách nạn nhân trực tiếp trong quá tŕnh theo đuổi
lư tưởng của Hồ Chí Minh cũng như không nhận ra những lời lẽ đầu môi
chót lưỡi và thủ đọan xảo trá của một chính trị gia tham tàn, mặc dù
trong chương IX, tác giả đă viết: Môn học chính mà ông Hồ dậy các học
viên đàn em cuả ông là tuyên truyền. (26) và nhắc đến cái tên trung đội
vơ trang tuyên truyền giải phóng quân được đặt cho đạo quân bé nhỏ đầu
tiên của Vơ Nguyên Giáp khi mới thành lập.
Có thể bảo tất cả cuộc chiến Việt Nam nằm gọn trong 2 chữ tuyên truyền
theo các nguyên tắc đấu tranh của Lênin dưới ảnh hưởng tinh thần vô luân
Nechayev mà Hồ Chí Minh tín phục và tuân thủ. Nếu không do cố ư bởi sự
chi phối bởi một định kiến th́ chỉ có thể nói là đă hoàn toàn lạc hướng
khi đề cập tới vai tṛ Hồ Chí Minh trong cuộc chiến Việt Nam mà không
nh́n thẳng vào tính chất này.
Trong trường hợp nh́n tác phẩm của Duiker ở khía cạnh lạc hướng, có thể
giải thích là trong quá tŕnh thu góp tài liệu, Duiker chỉ tiếp xúc giới
hạn với những khuôn mặt khoa bảng thuộc các cơ quan Nhà Nước Cộng Sản
Việt Nam và chỉ đọc những tác phẩm chính thống tức là những tác phẩm đă
được nhào nặn, được đo lường rất kỹ về từng chi tiết trước khi phổ biến.
Trong giới hạn này, vóc dáng của lănh tụ luôn luôn là vóc dáng được tô
điểm v́ h́nh thành từ cái nh́n của thủ hạ và gay gắt hơn là cái nh́n đă
được uốn nắn. Trên thực tế, cái nh́n từ phía quần chúng, thậm chí từ
phía nạn nhân, có thể có một giá trị đóng góp tích cực hơn do tính trung
thực v́ vừa phản ảnh tâm tư của đám đông vừa chưa bị uốn nắn. Suốt nửa
thế kỷ qua, con người và sự nghiệp Hồ Chí Minh đă được nhiều thế hệ dân
chúng Việt Nam đánh giá qua không ít những mẩu chuyện cười, những vần
"thơ ghế đá" ... và đây là nguồn tài liệu mà Duiker đă bỏ qua. Tư cách
sử gia của tác giả Hồ Chí Minh, a life rơ ràng bị hạn chế trong cái nh́n
chăm chú vào mặt được chiếu sáng của tấm huy chương, trong khi tấm huy
chương nào cũng có mặt trái của nó.
Chúng tôi nghĩ rằng sự việc xảy ra vào tháng 8-2002 về việc phổ biến
cuốn sách tại Việt Nam có thể đă gợi nhắc tác giả về một ư nghĩ nào đó.
Duiker nghĩ sao khi những người Cộng Sản Việt Nam đặt thẳng vấn đề phải
cắt bỏ một số chi tiết trong cuốn sách mới được phép phổ biến tại Việt
Nam? Trong lá thư gửi cho nhà xuất bản Hyperion Books, New York , nhà
xuất bản Chính Trị Quốc Gia tại Hà Nội đă ghi rơ cần bỏ đi một vài đoạn
không phù hợp với những thông tin hiện có trong hồ sơ của chúng tôi.
|