|
Hồ Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Sinh Cung: ba
không thể là một
|
|
Tác Giả: Nguyễn Gia Định
|
|
|
Trước hết xin nói rơ, ngày 19 tháng 5 không phải là sinh
nhật của Hồ Chí Minh.
V́ “sứ mệnh đặc biệt” ông ta không để lộ
ngày sinh và nơi sinh chính thức nên lấy ngày tuyên bố
thành lập Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh tức Việt
Minh tại hang Cốc Lếu, bản Pắc Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh
Cao Bằng
(19/5/1941) làm sinh
nhật.
Xin thưa: Việt Nam Độc Lập Đồng Minh là
của Hồ Học Lăm thành lập ở Nam Kinh (Trung Quốc), năm
1936. Hồ Chí Minh giành làm của ḿnh gây dựng vị thế
“cha già dân tộc” đồng thời xóa Mặt trận Phản đế Đông
Dương đă có từ trước và để tạo huyền thoại ḷe bịp nhóm
Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Bùi San... lần đầu tiên
được lên Cốc Lếu gặp ông ta.
* Điều này đặt ra mấy giả thiết như sau:
- Thứ nhất Hồ Chí Minh là Hồ Học Lăm, hậu
duệ của Thái thú Hồ Hưng Dật do Tàu “bồi dưỡng, vun vén”
đưa trở về.
- Thứ hai Hồ Chí Minh là một người Tàu
thừa kế sứ mệnh Hồ Học Lăm, mạo nhận là Nguyễn Ái Quốc
để dắt mũi dân ta.
- Thứ ba Hồ Chí Minh là Liêu Trọng Khải,
Hội trưởng “Hội Liên hiệp Các Dân tộc Bị Áp bức ở Á Đông”
do Tàu lập vào tháng 7 năm 1925.
Năm 1925, với bút danh Nguyễn Ái Quốc, ai
đó đă có bài viết ca ngợi Phan Bội Châu là thiên sứ, là
anh hùng dân tộc. Năm 1948, T.Lan (tức Hồ Chí Minh) viết
trong sách Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện lại lên án Phan
Bội Châu dựa vào Nhật đánh Pháp là “đuổi hỗ cửa trước
rước beo cửa sau”. Nếu hai là một th́ không thể “tiền
hậu bất nhất” như thế. Vậy Hồ Chí Minh không
phải là Nguyễn Ái Quốc.
·Nói về Nguyễn Sinh Cung ( Nguyễn
Tất Thành )
Lư Thụy tức Nguyễn Sinh Cung xuất hiện
tại Quảng Châu (Trung Quốc) cuối năm 1924 chỉ là người
giúp việc vặt cho Bô rô đin (người Nga) bên cạnh chính
phủ Tôn Trung Sơn, thi thoảng có xưng với một vài người
Việt đồng hương đang làm ăn ở Quảng Châu là Vương, chưa
tự xưng là Nguyễn Ái Quốc. Vả lại, sau tiếng bom Sa Điện
của Phạm Hồng Thái (19/6/1924), người Việt ở Quảng Châu
rất sợ mật thám Pháp và sợ cả những người Việt đă từng
làm công cho Pháp nên tránh tiếp xúc với Lư Thụy.
Đă
đến lúc mỗi một người Việt Nam phải biết rơ lai lịch
Nguyễn Sinh Cung.
Bởi biết rơ Nguyễn Sinh Cung sẽ nhận ra
Hồ Chí Minh chân hay ngụy một cách dễ dàng.
Nguyễn Sinh Cung là con thứ ba của Nguyễn
Sinh Sắc với Hoàng Thị Loan. Nguyễn Sinh Sắc trên danh
nghĩa là con thứ hai của Nguyễn Sinh Nhậm và Hà Thị Hy (vợ
lẻ). Hà Thị Hy v́ có tài ca hát và múa đèn nên người
làng Hoàng Trù gọi là o Đèn. Thời đó người ta coi o là
“xướng ca vô loài” không ai muốn lấy làm vợ, thành ra
quá xổi. Thế rồi, v́ nhà họ Hà nuôi Cử nhân Hồ Sĩ Tạo
làm gia sư nên “lửa gần rơm đă bén” o Đèn “dính” đành
chịu phận làm lẻ Nguyễn Sinh Nhậm. Nguyễn Sinh Nhậm góa
vợ từ lâu đang “khát”có ngay người con trai thứ hai với
vợ kế Hà Thị Hy đặt tên con là Nguyễn Sinh Sắc cho xứng
với tài của mẹ. Nhưng nhận ra đă trót, ông Nhậm rất buồn,
thụ bệnh rồi chết.
Vợ chồng Nguyễn Sinh Thuyết (Trợ) là con
trai trưởng của Nguyễn Sinh Nhậm (con vợ cả) biết Nguyễn
Sinh Sắc không phải ṇi giống Nguyễn Sinh Nhậm nên không
làm bổn phận “quyền huynh thế phụ”, đă đuổi mẹ con Hà
Thị Hy, Nguyễn Sinh Sắc ra khỏi nhà Nguyễn Sinh. Hà Thị
Hy buồn, nhục và đói khổ chết. Nguyễn Sinh Sắc ba tuổi
mồ côi cả cha lẩn mẹ, được ông Tú Hoàng Xuân Đường đón
về làm con nuôi.
Nguyễn Sinh Sắc lên tuổi 17 đă làm cho em
nuôi ḿnh là Hoàng Thị Loan (con gái đầu ḷng của ông bà
Hoàng Xuân Đường) có chửa lúc 14 tuổi. Bà Nguyễn Thị
Bạch Liên tức o Thanh ra đời tại nhà ông bà Hoàng Xuân
Đường. Đă trót là phải trét. Nguyễn Sinh Sắc c̣n tiếp
tục cho cha mẹ nuôi thêm Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh
Cung, Nguyễn Sinh Nhuận.
Sau ngày Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó bảng
(khoa thi năm 1901), tại
Huế
th́ Nguyễn Sinh Khiêm mang tên mới là Nguyễn Tất Đạt.
Nguyễn Sinh Cung mang tên mới là Nguyễn Tất Thành.
Nguyễn Sinh Nhuận mang tên mới là Nguyễn Tất Danh.
Nguyễn Tất Danh ra đời trong lúc bà Loan mới vào Huế lại
đau yếu đói khổ nên khắt sữa. Chị Thanh và hai anh
Khiêm, Cung bồng em đi hàng xóm xin bú sữa dư nên có
thêm tên là Nguyễn Sinh Xin. Năm 1901, bà Hoàng Thị Loan
mới 33 tuổi bị bệnh chết và Nguyễn Sinh Xin cũng chết
non.
Ba chị em Liên, Khiêm, Cung, bơ vơ dắt
díu nhau về quê ngoại Hoàng Trù ở với d́ Hoàng Thị An.
Đây là thời gian anh em Khiêm, Cung được gọi là Khơm,
Công. Khơm Công nói lái là không cơm. Có nghĩa là nghèo
đói.
Như vậy là từ khi ra đời 1892 đến năm
1905, Nguyễn Sinh Cung tức Nguyễn Tất Thành hai lần vào
Huế hai lần ra quê học hành chưa được mấy chữ và chưa hề
ở nhà tại làng Kim Liên. Vả lại nhà đó không phải của
ḍng họ Nguyễn Sinh mà là của làng làm trên đất công để
có chỗ cho Nguyễn Sinh Sắc vinh
quy
theo lệ làng. Tại sao họ Nguyễn Sinh không mặn mà với
vinh quang mà vị Phó bảng mang về? Năm 1905 ông Nguyễn
Sinh Sắc có việc làm đưa Nguyễn Tất Thành vào Huế học
trường Tiểu học Đông Ba. Năm 1908, Nguyễn Tất Thành vừa
bước chân vào trường Quốc học th́ bỏ đi xem biểu t́nh
chống thuế Trung Kỳ nên bị đuổi.
Như vậy là từ năm 1908 đến năm 1918,
Nguyễn Sinh Cung không hề học tiếp, nên tŕnh độ tiểu
học đă bị mai một sau 8 năm bếp núc dưới hầm tàu. Có
chăng về vốn ngôn ngữ giao tiếp thêm một số tiếng bồi
thuộc ngành củi lửa, bốc
vác. Từ lẽ đó, Nguyễn
Tất Thành (Nguyễn Sinh Cung) không thể là tác giả Thỉnh
nguyện thư gửi Ḥa hội Véc Xây năm 1919 và đương nhiên
không phải là Nguyễn Ái Quốc.
Bởi đứng tên bản Thỉnh nguyện thư lúc đó
là “Patriote Nguyên”.
·Nói về Thỉnh nguyện thư 1919
và nguồn góc của ‘’Nguyễn Ái Quốc’’ :
Do một nhóm người Việt Nam yêu nước, đồng
tác giả “Thỉnh nguyện thư” gồm: Luật sư Phan Văn Trường,
Phó bảng Phan Chu Trinh, Kỷ sư Nguyễn Thế Truyền, Luật
sư Nguyễn An Ninh...v́ đang có mặt trên đất Pháp nên
không tiện đứng tên thật do đó họ cùng đứng tên là ‘’
Patriote Nguyên’’( người ái –quốc họ Nguyễn ). Tŕnh độ
tiểu học của Nguyễn Sinh Cung ,một phụ bếp không thể là
tác giả .
Năm 1920 Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An - Hà
Tĩnh) là Trần Đ́nh Bá đă khẳng định bằng văn bản rằng
Nguyễn Ái Quốc là tên chung của một nhóm không phải là
một người Nghệ.
*Câu hỏi :Nguyễn Sinh Cung (
Nguyễn Tất Thành ) có phải là Hồ Chí Minh không?
Ai cũng biết rằng 10 năm đầu đời Nguyễn
Sinh Cung hai lần vào Huế, ra Nghệ học chữ Hán chưa qua
“Tam thiên tự”. 10 năm tiếp theo học quốc ngữ bậc tiểu
học, rồi học tiếng bồi dưới tàu hàng. Chấm hết! Từ đó về
sau phiêu bạt kỳ hồ, không qua trường lớp nào nữa.
Làm thơ chữ Hán với “Ngục Trung Nhật kư”
và một hai lần nỗi hứng viết thư pháp điêu luyện, bay
bướm càng gợi nên cho những người sáng suốt quan tâm
thêm và tự đặt cho ḿnh nghi vấn: Hồ Chí Minh là ai? Bởi
ngoại trừ thần đồng của người trời, từ trên trời rớt
xuống. C̣n người trần th́ không ai thoát khỏi lẽ đời :
“Nhân bất học bất tri lư. Ấu bất học lăo hà vi”.
Thật khó mà tin được Nguyễn Sinh Cung -là
Nguyễn Ái Quốc- là Hồ Chí Minh.
Một điều tưởng cũng dễ hiểu là tại sao Hồ
Chí Minh lại tránh gặp mặt chị, khi bà Thanh xách một bu
gà từ Nghệ An ra, phải xách trở về xứ Nghê (tháng 11 năm
1945). Tại sao Hồ Chí Minh lại tiếp ông Cả Khiêm vào ban
đêm trong một căn nhà hẹp thiếu sáng ở phố Hàng Ngang mà
không là nhà khách ban ngày ban mặt. “Lập lờ đánh lận
con đen” chăng?
Hồ Chí Minh – Nguyễn Ái Quốc – Nguyễn
Sinh Cung không thể là một.
*
Vậy ai là người đóng vai Hồ Chí Minh?
Hồ Học Lăm, Liêu Trọng Khải hay một người
nào khác.
Bắc Việt đưa được Vũ Ngọc Nhạ vào dinh
Độc Lập của Việt Nam Cộng Ḥa th́ thầy Hán của họ chắc
chắn c̣n cao tay hơn.
Tôi không tin Hồ Chí Minh là người Việt
kể từ giờ phút ông ta làm ngơ khi mấy tên cố vấn Tàu
giết bà Nguyễn Thị Năm – một người yêu nước ḿnh (1953).
Nguyên thủ quốc gia mà vô trách nhiệm với
dân như vậy sao!
Xin mọi người Việt Nam tỉnh táo nhận ra
rằng ngày trước các vị đứng đầu đảng Cộng sản Việt Nam
là Trịnh Đ́nh Cửu, Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong,
Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn đều ghét Tống Vân Sơ (tớ vẫn
sống) Hồ Chí Minh.
V́ sao Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong tẩy chay
Tống Vân Sơ và đuổi ông ta ra khỏi Đại hội I nhóm họp
tại Ma Cao, năm 1935. Về sau, Hồ Chí Minh nhận đại biểu
dự khuyết là man khai. Ông Nguyễn Chánh Nh́ là đại biểu
Xứ ủy Nam Kỳ có mặt tại Đại hội Ma Cao, năm 1935 sống ở
Sài G̣n cho đến đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, đă khẳng
định điều đó.
Tại Đại hội II lấy tên là đảng
Lao
động Việt Nam (1952) Đặng Xuân Khu tức Trường Chinh, Hạ
Bá Cang tức Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng tức Lâm Bá
Kiệt, Vơ Nguyên Giáp tức Lư Quang Hoa là những người
mang tên Tàu, biết rơ gốc tích Hồ Chí Minh mới bầu ông
ta làm chủ tịch đảng kiêm chủ tịch nước. Đây là khoảng
thời gian Hồ Chí Minh ráo riết thực hiện chủ trương diệt
chủng bằng nhiều h́nh thức như :
-hợp tự phá đ́nh chùa (1952) để xóa di
sản văn hóa truyền thống.
- Cải cách ruộng đất giết sạch người hiền
tài, đốt phá thư tịch cổ (1953-1956). --Phát động chiến
tranh để dân tự diệt theo kiểu “ném đă giấu tay” với
ngoa ngôn “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng, dù đốt
hết dăy Trường Sơn cũng giành cho được độc lập”
(1955-1975).
Người Việt Nam cuối cùng không c̣n, có
nghĩa lănh thổ Tổ quốc Việt Nam vô chủ.
Âm mưu của người Tàu là điều đó và chờ
điều đó đă hàng ngh́n năm.
Nguyễn Tất Thành tức Nguyễn Sinh Cung.
Năm 1923 là Line. Năm 1924 là Lư Thụy.
Năm 1927 là Vương. Năm 1930 - 1932 là Tống Vân Sơ. Chết
v́ bệnh lao ở Thượng Hải hay mất tích.
Năm 1939 Hồ Quang xuất hiện và nhận là Nguyễn Ái Quốc.
Năm 1939 Hồ Học Lăm từ Nam Ninh xuống Quảng Châu th́
cũng thời gian đó Hồ Quang từ Diên An theo Diệp Kiếm Anh
về Hoa Nam.
Hồ
Chí Minh là Hồ Quang về đường Vân Nam để tránh các cơ sở
người Việt ở Quảng Châu. Về Pắc Bó ông ta chỉ tiếp xuc
với những người không có mặt ở Quảng Châu trước đây.
Trường Chinh, Bùi San, Hoàng Quốc Việt... Tất cả chỉ
nghe hơi nồi chơ nên nhầm.
Từ sau Đại hội lần thứ III năm 1960 Lê
Duẩn, Lê Đức Thọ là những người bạn thừa kế Lê Hồng
Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ đă vô hiệu hóa Hồ Chí
Minh nhưng để an dân, họ đă dành cho ông ta quyền làm
thơ chúc tết và “đóng kịch”.
Rất đau ḷng dân tộc là lớp có thế lực
đầu thế kỷ XXI lại ăn phải bả Tàu như Đặng Xuân Khu -
Trường Chinh, Hạ Bá Cang – Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn
Đồng - Lâm Bá Kiệt.
Đă đến lúc mỗi người Việt Nam cần biết Hồ
Chí Minh là ai. Bởi kịp nhận ra ông ta là c̣n cơ may cứu
nguy dân tộc tránh khỏi nạn diệt chủng tiếp.
Hà Nội,
ngày 19 tháng 5 năm 2011
|
|