Hồ Sơ
Đen Của Cộng Sản Việt Nam: Thuyền Nhân
Nguyên tác: Viet Nam: Le Dossier Noir du Communisme - Tác
giả: Michel Tauriac
Dịch giả: Nhà Báo Hồ Văn
Đồng
Những Con Ḅ Sữa
"Thuyền Nhân".
Cái danh từ có một âm tự mà mỗi khi chính quyền Cộng Sản ở Hà Nội nghe
đến nó th́ họ nghĩ đến danh từ "đồng đô la". Thế nhưng cho đến bao giờ
người ta mới biết hết được những bất hạnh đă xảy ra cho danh từ đó? Mặc
dù danh từ "Thuyền Nhân" xuất hiện lần đầu tiên trên tờ báo New York
Times bởi ng̣i bút của kư giả Henry Kamm, nhưng ai cũng biết cuộc di tản
bằng đường biển của người tỵ nạn Việt Nam đă bắt đầu ngay từ khi các
phương tiện bỏ chạy bằng đường bay không c̣n hữu hiệu nữa v́ Sài G̣n đă
bị Cộng Sản chiếm đóng vào ngày 30 tháng Tư năm 1975. Một trong những
nhóm người đầu tiên rời khỏi Việt Nam, bằng đường biển vào ngày mất nước
hôm đó, là những người tỵ nạn Cộng Sản. Họ thả xuôi theo gịng nước sông
Cửu Long ra đến cửa biển Cần Thơ, một thành phố lớn nhất vùng châu thổ,
trên hai chiếc tầu nhỏ và một chiếc ghe, cùng với hai mười người Mỹ và
trong đó có cả Tổng Lănh Sự Mc Namara. Cùng trong ngày hôm đó, chiếc
chiến hạm Mỹ tên là Mobile, nằm ở cửa biển sông Sài G̣n, đă thấy có đến
hai mươi chiếc tầu đánh cávà một chiếc tầu chở hàng cũ chứa đầy người tỵ
na.n. Những người tiền phong cho cả một đám đông khổng lồ ra với hành
trang tuyệt vo.ng.
Ngày hôm sau,
thứ Năm, mồng Một, tháng Năm, năm 1975. Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, ở cách
bờ biển 35 dặm, đă chứng kiến một đoàn 27 chiếc tầu nhỏ ào ạt tắp đến từ
đảo Phú Quốc, một ḥn đảo nhỏ c'ach Việt Nam 25 dă.m. Trên khoang những
chiếc tầu, có gần 30,000 người tỵ nạn, trong số 50,000 người mà Thủ
Tướng VNCH đă quyết định cho di tản đên đảo này từ hai ngày sau khi Thủ
Đô Sài G̣n thất thủ. Rạng đông ngày thứ Sáu, mồng Hai, Tháng Năm, năm
1975, trên tầu Blue Ridge, chiếc chiến hạm chỉ huy của Hạm Đội VII với
46 đơn vị, đă mang đến 25,000 người Sài G̣n trong số những người cuối
cùng có thể thoát khỏi thành phố bị bao vây. Trên thành tầu, những người
thủy thủ nghiêng ḿnh nh́n xuống một cảnh tượng kinh hoàng mà họ không
dám tin là sự thật: mặt biển được bao phủ bởi hàng ngày ... và ... hàng
ngàn chiếc thuyền ghe đủ loại đủ cỡ, từ những chiếc xà lan già nua rỉ
sét cho đến những chiếc thuyền đánh cá tư hon mỏng manh và lố nhố đầy
người trên khoang thuyền. Những kư giả được tầu Blue Ridge cứu lên đă
ước lượng là có đến khoảng 100,000 người, đó là con số những "Thuyền
Nhân" đầu tiên trong lịch sử người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản.
Từ đêm hôm đó
cho đến rạng đông ngày mồng Ba tháng Năm, năm 1975, lần lượt các nước
láng giềng gần ranh giới Việt Nam cũng đă đón nhận được những người đầu
tiên bỏ trốn ra khỏi nước mà hành lư mang theo là hai bàn tay trắng với
trái tim rướm máu và một tâm hồn tuyệt vo.ng. Sau này, trước sự vượt
biên thường xuyên của họ, chính những quốc gia này đă đành phải đẩy họ
trở ra biển để trả lại tử thần v́ không c̣n cách nào khác hơn đươ.c. Một
chiếc tầu 8,000 tấn, có tên là Đông Hải, đă mở đầu con đường hải lộ bi
thương này khi thả lên Singapour một nhóm 822 người tỵ na.n. Trong khi
đó, ngày mồng, Bốn, tháng Năm, năm1975, 4,500 người khác, trong số có
1000 thiếu nhi, được lên tầu Đan Mạch Clara Maersk. Họ đă rất may mắn v́
chiếc thương thuyền chở họ, có tên là Trường Xuân, đă rời khỏi Việt Nam
ngay trước mắt Cộng Sản, và c̣n đang ở trong t́nh trạng sửa chữa. Khi
sắp bị ch́m th́ tầu Trường Xuân được chiết tầu cứu tinh này từ phương
Bắc đến gần và cứu vớt.
Tổng cộng, có
khoảng hơn 200,000 người tỵ nạn Việt Nam đă trốn ra khỏi nước trong
những ngày đầu tiên của tháng Năm. Khoảng 130,000 người được Hoa Kỳ tiếp
nhận sau khi qua trạm Phi Luật Tân hay đảo Guam, một ḥn đảo nằm ở vùng
biển Thái B́nh Dương mà trước đây có căn cứ Hải Quân của Mỹ. Những người
khác, thường th́ họ mang hai quốc tịch Việt Nam và Pháp nên đă được đi
Pháp. Trong số những làn sóng người tỵ nạn đầu tiên có rất nhiều kỹ sư,
chuyên viên đủ nghành, và y sĩ, họ đều quan ngại đến sự thù ghét mà Cộng
Sản dành cho giai cấp của họ.
Kể từ năm 1975
đến năm 1977, làn sóng "Thuyền Nhân" đă gia tăng đều đặn, và các trại tỵ
nạn cũng đă được Phủ Cao Ủy Liên Hiệp Quốc (HCR) đều đặn mở ra tại Thái
Lan, Mă Lai, Phi Luật Tân, và Nam Dương hàng ngày đều có thêm người tỵ
nạn mới nhập tra.i. Các quốc gia Tây Phương đă rộng răi chấp nhận một số
đông người tỵ nạn đến tạm trú như Pháp, Hoa Kỳ, Gia Nă Đại, và Úc Đại
Lợi (bỏ ra nhiều thời gian hơn để quyết định), ngoài ra c̣n có thêm một
số quốc gia Âu Châu ở bên ngoài bức màn sắt.
Cho đến đầu năm
1976, Cộng Sản Việt Nam lại càng thêm cứng rắn và sắt máu với người dân.
Những lời hứa hẹn về "hoà hợp hoà giải dân tộc" đă vĩnh viễn bay biến,
và các trại cải tạo tập trung đầy ắp người, dân chúng miền Nam bị công
an Cộng Sản theo sát như h́nh với bóng, và mấy chục ngàn người dân thành
phố bị đày ải đi đến các thành phố khô cằn sỏi đá hay rừng thiêng nước
độc mà Cộng Sản Việt Nam che đậy bằng danh từ hoa mỹ là "vùng kinh tế
mới", mà ở đó người dân bước vào kinh tế vô sản với kiếp sống đọa đày và
khốn khổ. Cùng trong khi đó th́ "luật cải cách ruộng đất" đă tước đoạt
hết đất đai của nông dân. Do đó mà người dân Việt Nam đă bất chấp thất
cả mọi thử thách kể cả những kho khăn nguy hiểm ngày càng chồng chất,
thậm chí có thể bị tù đày hay giết chết, họ vẫn cứ lén lút và chen chúc
nhau, từng đêm đi chôn dầu vượt biên, và đuà giỡn với tử thần trên các
bờ băi. Vào năm 1977, đă có hơn 10,000 "Thuyền Nhân" - danh từ này đă
trở nên thông dụng - đến Thái Lan và Mă Lai. Các trại tỵ nạn đă phải mở
rộng thêm ra và các xứ sở đầu tiên tạm dung họ bắt đầu khó chi.u. Và chỉ
có một nửa đơn thỉnh nguyện di trú được các nước Tây Phương chấp thuâ.n.
Thừ cuối năm
1977 đến đầu năm 1978, t́nh trạng lại càng thê thảm hơn. 80,000 thuyền
nhân đến bờ biển các nước miền Đông và Đông Nam Á Châu, th́ có đến
70,000 người đổ xô vào chỉ riêng một nước Thái Lan. Đó là thời điểm mà
tiếng đại bác nổ dữ dội ở vùng biên giới Viê.t-Hoa, và "đàn anh Trung
Cộng" đang vác gánh nặng ở vùng biên giới phía Nam v́ những cuộc giao
tranh giữa quân Khờ Me Đỏ và bộ đội Cộng Sản Việt Nam. Biến cố này đă
khiến cho 300,000 người Hoa Kiều bỏ trốn. Hoa Kiều ở miền Bắc th́ chạy
bộ vượt biên giới sang Trung Cộng, Hoa Kiều ở miền Nam th́ dùng đường
biển mà chạy lấy ma.ng. Cộng Sản Hà Nội lên án Bắc Kinh là muốn phá hoại
t́nh trạng kinh tế Việt Nam khi chiếm mất số dân cư rất năng động kia,
mà đa số họ là đang nắm huyết mạch tiền tệ và thương mại thời đó. Con
hát mạt hạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Khắc Viện lại rống lên
những điệp khúc rẻ tiền do các quan thày của hắn ở Bắc Bộ Phủ đă soạn
sẵn bài bản (SuđVietnam au fil des années, 241. Éditions en langues
étrangères, Hanoi, 1984.): Các gián điệp Trung Hoa dưới sự điều động
trực tiếp của ṭa đại sứ Trung Hoa ở Hà Nội đă xúi giục người Hoa Kiều
hồi hương "nơi đó nhà nước sẵn sàng đón rước họ để tham gia lao động tái
thiết "Đại Trung Quốc". Họ nói là người Việt Nam sẽ tàn sát họ một khi
tiếng đại bác đầu tiên phát nổ ở vùng biên giới Viê.t-Hoa. Như thế, đối
với các đảng viên Cộng Sản Việt Nam, nếu hàng trăm ngàn đồng hương của
họ bỏ xứ trốn đi, th́ luôn luôn là do bởi sự xúi giục từ "mạng lưới
ngầm" của những người nước ngoài đáng ghét.
Mặc dù bên
ngoài th́ che đậy như thế, nhưng trên thực tế th́ phỉ quyền Cộng Sản ở
Hà Nội đă t́m ra hai mối lợi: một cơ hội để dứt bỏ một số dân chúng rất
dễ trở nên nguy hiểm trong trường hợp chiến tranh vùng biên giới gây bất
lợi, và một cơ hội khác là để nhét đầy túi tiền. Họ đă làm tiền người ra
đi sau khi thẳng tay bóc lột sạch sẽ đủ mọi thứ. ngày 24, tháng 3, năm
1978, Cộng Sản Việt Nam bắt đầu tung công an ra tấn công tài sản của
"giới tư sản mại bản" ở Chợ Lớn, khu vực người Hoa-Kiều tại Sài G̣n. Tất
cả tài sản của cộng đồng người Hoa Kiều đều bị "quốc hữu hóa" đồng lúc
với tư doanh. Bàn ghế, nhà cửa, nữ trang, qúy thạch, đồ sứ đắt tiền, và
đo6` dùng các thứ đều trở thành "tài sản nhân dân". Kho tàng của chiến
tranh, mà Cộng Sản Hà Nội hy vọng như vậy, để bù trừ các hậu qủa của
việc bỏ trốn gây ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia. Không cần phải phí
phạm một giây khắc suy nghĩ nào, người ta cũng có thể hiểu được rằng
việc đó sẽ đưa Cộng Sản Việt Nam vào chỗ bế tắc sau này.
V́ bị khốn đốn
trong tuyệt vọng, người Hoa Kiều đă bắt buộc phảiđặt chân lên những con
tầu. Người ta c̣n nhớ câu chuyện chiếc tầu hàng hải cũ kỹ tên là Hồng
Hải sắp bị ch́m trong hải cảng Klong ở Mă Lai, với 2,500 hành khách mà
phần lớn là người Việt gốc Hoa, đă bị khước từ không cho lên bờ. Thảm
cảnh này đă làm rúng động lương tâm thế giới và thúc đẩy xu hướng cứu
cấp của người Tây Phương. Một trong số đó là một y sĩ người Pháp, một
cựu đảng viên đă ly khai Đảng Cộng Sản, ông ta đă t́m cách đền bù lỗi
lầm v́ đă hoạt động cho Cộng Sản bằng cách mua một chiếc tầu dùng để ra
biển Đông vớt người tỵ nạn, mặc dù các "cựu đồng chí" của ông thấy động
cơ đó không đúng chỗ. Sự ra đi của tất cả những hành khách không ngày về
đó đă được tổ chức trong bóng tối, mà mỗi người đều phải mang nợ để đáp
ứng yêu sách vô hạn đi.nh. Dù cho có phải là Hoa Kiều hay không, ngày
nay người ta đều có thể rời khỏi Việt Nam "bán chính thức", cho dù người
Hoa Kiều bị cưỡng bách hay là do tự ư ra đi như tất cả mọi người, họ đều
muốn chạy thoát khỏi nanh vuốt của kẻ áp bức là Cộng Sản Việt Nam.
Để che đậy tội
ác và lừa bịp thế giới, Cộng Sản Hà Nội lên tiếng xuyên tạc sự thật
rằng: Làm sao dám giả định là các thuyền nhân trốn lánh một sự áp bức
thường trực? Bọn này chỉ tuân theo mệnh lệnh của Washington và muốn phá
hoại nền kinh tế nước nhà bằng cách tước đoạt lấy chất xám. Và những
luận điệu này đă được chúng lập đi lập lại nhiều lần với báo chí Tây
Phương. Chưa hết, mỗi ngày, tên bác sĩ Việt Cộng hành nghề con hát tên
Nguyễn Khắc Viện, đều kể lể trong bản thông tin của bọn Phỉ Quyền Cộng
Sản và trên các tài liệu tuyên truyền của chúng dành cho "người nước
ngoài" rằng: Hoa Kỳ đă đề nghị cùng những người vượt biên là sẽ chở họ
đi với giá từ khoảng 2,000 đến 3,000 đô la, đến tạn các tầu Hải Quân Mỹ
đậu ngoài khơi chờ đón. Những chuyên viên giỏi và trí thức th́ không
phải trả tiền ǵ cả, hắn ta c̣n dám xác nhận rằng: "Giờ đây chúng tôi có
thể quả quyết rằng nhà nước không cưỡng bức một ai phải bỏ xứ ra đi, và
cũng không giữ một ai muốn ra nước ngoài sinh sống." Thật vậy, nếu một
vài người bị "lầm lạc" bởi các "lực lượng phản động ở trong nước và
ngoài nước", hắn ta c̣n thêm vào, đó là v́ "họ không có can đảm đi khai
khẩn các vùng đất mới." Nguyễn Khắc Viện đưa ra thí dụ của một đồng
nghiệp bác sĩ, dưới chế độ cũ th́ ông bạn đồng nghiệp này "đi xe ô tô và
sống trong vi la có gắn máy lạnh" và trở thành "quản lư của một bệnh
viện công". Như thế th́ làm sao người này có thể sống trong một "xă hội
mới", thích nghi với một "xă hội cách mạng" ? C̣n về phần nhà nước, tuy
rất tiếc khi thấy những người này ra đi, nhưng không thể làm được ǵ
khác hơn là cầu chúc cho họ được thượng lộ b́nh an.
Những bài diễn
văn kiểu ngụy biện và xuyên tạc như trên, chúng ta thường thấy xuất hiện
dưới ng̣i bút của các kư giả Cộng Sản, là những người duy nhất vào thời
điểm đó được ra vào Việt Nam, đóng kín ở phía sau bức màn sắt đầy đe
dọa, từ tháng Năm, năm 1975, như một con nhím đang dương những cọng gai
nhọn hoắt. Và hai mươi năm sau, nó vẫn c̣n nằm trong cửa miệng của một
vài tay b́nh luận Tây Phương. Thí dụ như miệng của một phóng viên báo
PhápĐDức, Arte [Le Grand Documentaire, ngày 11, tháng 2, 1995], đă chứng
kiến cảnh đào thủy lợi bằng tay không của "những người dân can đảm của
mười làng ra công hợp sức", và t́m được trong "cái thú vị của sự nỗ lực
chung", và để giải thích lư do tại sao mà nhiều vạn người khác quyết
định trốn khỏi nước Việt Nam Cộng Sản, th́ hắn ta châm biếm rằng họ
không thể "có cái cảm giác xây dựng quê hương xứ sở, như là cha ông họ
đă từng đánh giặc bằng vũ khí trên tay". Chỉ có những con hát mới biết
mặt thật của họ ở phía sau lớp phấn son, và chỉ có Cộng Sản mới biết sự
thật của họ ở phía sau bức màn sắt; do đó một cựu đại tá Việt Cộng như
Bùi Tín th́ dĩ nhiên là phải biết rơ Việt Cộng hơn một tên phóng viên
của tờ báo Arte. Ông Bùi Tín giải thích điều đó trong quyển sách
"Vietnam, La face cachée du regime", [147, Kergour, 1999], viết ít lâu
sau khi ông đến lưu vong tại Paris. Việt hối lộ của các người Hoa Kiều
ra đi "bán chính thức" được chính bộ Nội Vụ tổ chức. Được biết đó là "Kế
Hoạch 2", mà mục đích được giữ kín, có cả một loạt những công tác cho
phép các giới chức tổ chức cuộc ra đi của các người lưu vong mới sau khi
"nhổ sạch lông" của họ một cách rất có phương pháp. Mỗi người phải trả
giá vượt biên từ 3 đến 5 lượng vàng (một lượng = 36 grams), có khi gấp
đôi. Nhà cửa, xe cộ, hoặc của cải để lại cho
Khi đến chỗ
xuống tầu, thường th́ ở ngay tại thành phố như Cần Thơ, bên bờ Cửu Long,
chẳng hạn, người ra đi phải chịu đựng những sự bóc lột cuối cùng như: bị
tịch thu do các băng đảng tự cho là có quyền lục lọi, lấy vàng, nữ trang
hoặc đô la mà người tỵ nạn có thể c̣n cất dấu đươ.c. Sau đó th́ xuống
tầu với nỗi lo sợ rằng chiếc tầu chở ḿnh sẽ có một phần hai cơ hội sẽ
bị hải tặc tấn công để lấy nốt những mẩu vàng c̣n xót lại trên người
trước khi ném họ xuống biển. Thế nhưng khi đă lên được tầu rồi vẫn c̣n
chưa yên với tuần cảnh địa phương nếu tầu chưa ra đến hải phận quốc tế.
Nếu muốn thoát khỏi không bị bắt lại, th́ tốt hơn hết là đưa ra chút của
cải nào c̣n được dấu vào chỗ kín nhất. Bằng không th́ sẽ bị bắt lại, và
trong trường hợp này, tội danh là phản bội và bị "đế quốc Mỹ" mua
chuô.c. Tội này có thể ngồi tù từ 12 năm cho đến 20 năm (sắc luật luôn
luôn có sẵn để tham khảo.)
Những người
chọn cách đi tỵ nạn bằng đường bộ xuyên qua lănh thổ Lào hay Căm Bốt đến
Thái Lan th́ gọi là Bộ Nhân (land people) . Những cuộc hành tŕnh vượt
biên đi tỵ nạn bằng đường bộ th́ luôn luôn gặp nguy hiểm. Họ sẽ bi công
an, hay bộ đội, hay là cảnh vệ nhân dân đuổi bắt, và có khi chỉ là người
đi đường, thường là có liên hệ với Cộng Sản. C̣n những người vượt biên
nào "mượn được", theo với giá do quân đội Nhân Dân ấn định, một chiếc xe
vận tải quân sự chở quân nhu, cho phép họ núp bên trong thùng lớn, cách
này được xử dụng khá thường xuyên, nhưng có khi cũng bị ngộp thở chết v́
hơi xăng, và các nạn nhân trong trường hợp này cũng khá đông.
Những người may
mắn hơn hết là có thể "kiếm" được một "giấy xuất cảnh chính thức" và vé
máy bay đến tận Hoa Kỳ. Nhờ vào một kế hoạch do Liên Hiệp Quốc tổ chức
với sự thỏa thuận giữa Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội vào năm 1979. Thế nhưng
họ cũng vẫn chịu hạch sách và tống tiền th́ đơn xin xuất cảnh chính thức
mới qua lọt, nhiều khi phải mất đến mười năm chờ đơ.i. Ngay chí Hoa Kỳ
c̣n bị hạch sách đủ điều, và phải trả tiền cho từng đầu người tỵ nạn để
được phê chuẩn cho phép đi.
Do đó, Cộng Sản
Việt Nam đă phát minh ra được "NHỮNG CON B̉ SỮA THUYỀN NHÂN" của họ. Một
nhà nghiên cứu ở Ba Lê tên là Bùi Xuân Quang, trong cuốn sách La
Troisième guerre d'Indochine 1975-1099 (207-590, L'Harrmattan, 2000),
ông đă tính toán "mối giao dịch" này của Cộng Sản Việt Nam, kéo dài ṛng
ră 20 năm kể từ 1975 đến 1995, đă mang lại cho Ngân Khố của Nhà Nước
Cộng Sản Việt Nam khoảng 25 TẤN VÀNG. Với chừng ấy vàng mà người ta thấy
xuất hiện trên thị trường tiền tệ Tây Phương dưới h́nh dạng các thỏi
vàng mang ấn dấu cu/a Việt Nam. Chủ yếu của nó là dùng vào việc bồi hoàn
những số nợ mà bọn Phỉ Quyền Cộng Sản Việt Nam đă kư kết với Cộng Sản
Nga và các xứ dân chủ nhân dân cùng tiền mua vũ khí chiến tranh, số vàng
ấy lên đến trị giá khoảng 2.5 tỷ Mỹ Kim, tính trong khoảng thời gian từ
năm 1979 đến năm 1983.
Hiệp sống với
nỗi ám ảnh là bỏ nước ra đi. Tôi c̣n nhớ tiếng nói của người "Thuyền
Nhân" mà chúng tôi đă từng gặp nhau trên băi biển Songkla tại Thái Lan
giữa những người khác, bên cạnh chiếc tầu bị hư của họ, mà tôi đă được
nghe anh kể lại câu chuyện thống khổ của anh. Và cho đến bây giờ bên tai
tôi vẫn c̣n văng vẳng lời kể lại của anh: Vào một đêm nọ ở Việt Nam, một
tên cán bộ Cộng Sản Việt Nam đă nói khẽ vào tai anh: "hai ngàn đô la,
hay 4 cây vàng ..." Anh đồng ư với mối làm ăn; thế nhưng khi đến chỗ hẹn
th́ Hiẹp mới nhận ra ḿnh đă bị cướp. Thuyền th́ chẳng thấy đâu mà vàng
th́ bị mất. Đó là cái hoạ luôn luôn ŕnh rập và cũng là một trong những
cái giá mà những người muốn vượt biên t́m tự do. Làm sao để tránh khỏi
bị lừơng gạt, cướp bóc hoặc bị tố cáo, và t́m ra đường giây tốt. Tôi
biết có một "Thuyền Nhân" đă không thành công trong việc đi tỵ nạn mặc
dù đă thử đến 27 lần. Hiệp th́ đi hụt 3 lần, và sau đó th́ anh quyết
định tự tổ chức lấy chuyến vượt biên. Anh đă lén lút tự vá víu một chiếc
tầu đánh cá cũ. Từng đêm rồi lại từng đêm cứ lo bào rồi lại trét, và
những đêm trắng đêm h́ hục sửa chữa máy móc. Thế rồi cuối cùng th́ ngày
khởi hành cũng đến, chiếc tầu đánh cá cũ kỹ của anh mang theo 85 người
rời băi xuôi gịng và trôi dọc theo những con kênh châ>y dài ra biển.
Hiệp lặp lại
cho chúng tôi nghe với một vẻ thống khổ: "Chúng tôi có 85 người trên
chiếc tầu này và đă rất sung sướng v́ có thể rời khỏi Việt Nam. Bây giờ
th́ ông hăy nh́n xem, ngày hôm nay chúng tôi chỉ c̣n có hai người. Hai
người sống sót duy nhất là Ngọc, con gái của chị tôi và tôi." Với cái
đầu ướt lạnh như con mèo chết đưới và thân thể đói khát gầy trơ xương
sườn như một con chó hoang, cùng với đứa bé gái lên sáu tuổi có đôi mắt
nai khờ. Chúng tôi đă khóc. Nước mắt của những kẻ thừa mứa tự do đă đổ
xuống mặn ướt câu chuyện phiêu lưu liều chết t́m tự do của anh. Anh đă
bị kẹt lại ở trại Songkla này cùng với Ngọc sau khi thoát chết khỏi
những bàn tay đẫm máu của bọn hải tặc Thái Lan đă giết chết chị anh cùng
tất cả hành khách trên tầu sau khi chúng bắt mang theo gần hết phụ nữ.
Vào tháng 10
năm 1978 có 20,000 người tỵ nạn đặt chân lên bờ biển Mă Lai, và chỉ đến
tháng 12 năm đó con số đă lên đến 50,000 người. Cộng thêm vào con số
5,000 người đi chân đất với ước vọng đă đến được bến bờ tự do. Chỉ trong
ṿng 4 tháng cũng đủ để cho ḥn đảo hoang Pulau Bidong của Phi Luật Tân
đón nhận được 20,000 kẻ bị biê>n ruồng bỏ. Vào khoảng giữa năm 1979, có
5000 người tỵ nạn mới đến thêm vào con số những người anh em khốn khổ
trong trại tỵ nạn Hồng Kông, trong khi có 90,500 người khác làm đầy ắp
trại tỵ nạn Mă Lai. Những người mà cảnh sát địa phương từ chối đẩy ra
biển đă trôi giạt đến Nam Dương, hoặc xa hơn nữa, đến tận Nam Hàn, hay
Nhật Bản, và có khi đến tận Úc Đại Lơ.i. Hăy thử nhắm mắt và tưởng tượng
cuộc hành tŕnh liều chết để t́m tự do của họ trên khoang một con tầu bé
nhỏ mong manh ...
Bất th́nh ĺnh,
một hồi chuông báo động nổi lên khi hai nước Thái Lan và Mă Lai tuyên bố
rằng từ nay về sau họ sẽ không nhận thêm thuyền nhân mới. Bị dồn vào
đ+ờng cùng, Liên Hiệp Quốc phải triệu tập một hội nghị quốc tế ở Genève
và thu hoạch được ba kết qủa là: Các quốc gia ở vùng duyên hải bảo đảm
là thuyền nhân sẽ không bị đẩy lui ra biển; các quốc gia tiếp nhận họ
gia tăng thêm một số lượng hạn định tái định cư bổ túc là 130,000 người;
và quan trọng nhất là Hà Nội, lo ngại khi phương diện của chúnh bị bôi
đen tối dần ở biển Đông trước sự bất măn của cả thế giới, nên đă cho
phép thuyền nhân có thể ra đi chính thức hợp pháp "trong ṿng trật tự",
bằng phương tiện hàng không, chương tŕnh này Liên Hiệp Quốc gọi là "Ra
Đi Trong Ṿng Trật Tự" (Orderly Departure Program) viết tắt là ODP. Kể
từ giờ phút đó, nhịp điệu những người vượt biển đến các trại tỵ nạn thưa
thớt một cách rơ rê.t. Mực độ từ 300,000 người vào năm 1979, xuống chỉ
c̣n 24,500 vào năm 1984, và đến năm 1986 chỉ c̣n 19,500 người. Cũng vào
năm đó, lần đầu tiên, các cuộc ra đi tỵ nạn chính thức bằng hàng không
với giấy nhập cảnh nhiều hơn con số những người trôi dạt đến bằng đường
biển. Kết quả của hội nghị thuyền nhân tại Genève đă thỏa măn thấy rơ,
nơi mà Liên Hiệp Quốc nhắm vào một giải pháp mới cho vấn đề "Thuyền
Nhân".
Nhưng chỉ hai
năm sau th́ t́nh h́nh lại đổi ngược và đă làm cho thế giới thất vo.ng.
Những người tỵ nạn đi t́m tự do lại trở ra biển: con số tăng lên 45,000
người vào năm 1988 (25,000 người nhiều hơn hai năm trước đó), 71,300
người vào năm 1989, trong số đó phải cộng thêm vào khoảng 17,000 người
"bộ nhân". Vấn đề trở nên không giải quyết được và các quốc gia ở vùng
duyên hải bắt đầu nổi giâ.n.
Đó chính
là lư do mà tại trại tỵ nạn Hồng Kông, nơi mà mỗi ngày có đến 34,000 "Thuyền
Nhân" mới nhập trại, và chính quyền Hồng Kông quyết định từ đó về sau họ
sẽ đưa những người mới đến vào trại tạm giam. Thế là những cuộc nổi loạn
và tự tử nối tiếp theo quyết định của chính quyền Hồng Kông. Để đóng
chặt cánh cửa ngăn chận hẳn cái mạch chính của làn sóng vượt biển t́m tự
do không ngung này, các quốc gia tiếp nhận di trú lại tập họp lại thêm
một lần nữa và họ đă t́m ra một biện pháp mới gọi là PAG (Plan d'Action
Global)tức là chương tŕnh Hành Động Toàn Cầu. Bất cứ thuyền nhân nào
đến trước ngày 13 tháng 3 năm 1989 ở một quốc gia lân cận Việt Nam, kể
từ đó, trên phương diện hành chánh, được xem như một người có quyền xin
cư trú, nghiă là một người tỵ nạn chính trị hoàn toàn có quyền hy vọng
được đi sống hết cuộc đời ḿnh ở một nước Tây Phương. Dĩ nhiên là với
điều kiện xứ này phải bằng ḷng cấp cho họ một visa nhập cảnh. Ngược lại,
tất cả hồn tồn khác đối với một người tỵ nạn lên bờ sau ngày 19 tháng 3,
năm 1989. Họ bị xắp loại là di dân kinh tế, người đó phải chứng minh
dược ḿnh có một sự sợ hăi co căn cứ về việc bị xử tội, nếu khơng th́
người đó bị đe dọa là sẽ bị cưỡng bách hồi hương. Trừ phi chính ḿnh tự
quyết dịnh quay về nước.
Đó là
điều Hiệp đă lầm. Quy chế tỵ nạn chính trị của anh bị từ khước, anh biết
ḿnh khơng c̣n cơ hơi dược nhận vào Hoa Kỳ. Tuy nhiên, anh cũng phân vân
rất lâu trước khi chấp nhận ư tưởng hồi hương. Bởi v́ cũng như phâ`n
đông các người tỵ nạn khác, anh sợ bị bắt nhốt vào tù một khi trờ về
Việt Nam. Anh chưa bao giờ làm chính trị, nhưng có người anh từng chiến
đấu trong quân dội Việt Nam Cộng Ḥa, và ơng nội anh làm việc cho chính
phủ bảo hô.. Hai vết đen đó trên lư lịch cá nhân có thể khiến anh phải
trả giá rất đắt. Nhưng rồi có một lá thư từ Sài G̣n gửi đến trại tỵ nạn
Thai Lan PhanatNikhom, nai anh tạm trú, đă trấ an anh được phần nào. Một
trong những người bạn vượt biên cũ của anh, đă t́nh nguyện về Việt Nam,
cho anh biết là mọi chuyện khá tốt đẹp ở đó, và khuyến khích anh cùng về.
Năm 1993,
chúng tôi gặp lại Hiệp ở quê hương anh, và lại khóc lần nữa. Thế nhưng
lần này th́ chúng tôi cùng khóc mừng rỡ khi thấy anh đă thoát na.n. Anh
là một trong 110.000 cựu "thuyền nhân" kể từ nam 1989 đă chọn hồi hương
thay v́ tiếp tục chết dần ṃn ở một trại tỵ nạn Á Châụ Nhờ có sự giup đỡ
tài chánh của Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quo"c (HCR) và Liên Minh Âu
Châu, mà giờ đây anh trở thành chủ nhân của một xưởng pha chế nước mắm
và một căn nhà nho nhỏ hai pḥng., gần Vũng Tầu, mà tên cũ người Pháp
gọi là Cap Saint-Jacques, trên bờ biển Miền Nam mà ngày xưa anh đă bỏ ra
đi t́m tự do không bao giờ có, và tưởng rằng không bao giờ anh sẽ phải
trở lại nởi đây. Anh sống cùng bà gúa phụ của một trong những người bạn
đă biến mất trên biển đi t́m tự do, cùng với người em gái và ba đứa con
của bà. "Nhà của chúng tôi tuy nhỏ như chúng tôi có thể chứa được đủ thứ.
Ở trên thuyền c̣n ít chỗ hơn."
Trong
những cuộc vận động và thoả thuận cùng Hà Nội, Liên Hiệp Quốc đă cố gắng
tạo điều kiện tốt cho những người cứng rắn, ngơ hầu giúp cho họ tự quyết
định sắp xếp quay về. Họ cho chiếu những cuốn phim quay tại Việt Nam mà
trong đó cho thấy cảnh những người cựu thuyền nhân t́nh nguyện hồi hương
"sống như những ông hoàng". Các cán bộ Cộng Sản c̣n đến gặp họ để tâng
bốc. Họ gáy lên những điệp khúc tuyên truyền nào là Việt Nam đă thay đổi,
và ở đó người ta sống tự do và ai đói th́ cứ ăn.
Bọn Phỉ
Quyền Hà Nội có thể tự khen chúng. NHỮNG CON B̉ SỮA THUYỀN NHÂN ĐĂ MANG
ĐẾN CHO BỌN PHỈ QUYỀN CỘNG SẢN HÀ NỘI RẤT NHIỀU QUYỀN LƠ.I. CHƯA HẾT,
NHỮNG CON B̉ SỮA VẪN C̉N TIẾP TỤC CUNG CẤP SỮA DÙ Ở TẬN BÊN KIA BỜ ĐẠI
DƯƠNG. Qua những gói qùa họ gởi về cho gia đ́nh mà những người tỵ nạn
không bao giờ ngừng gởi về nuôi thân bằng quyến thuộc c̣n kẹt lại ở Việt
Nam, bắt đầu từ ngày đầu tiên họ đặt chân định cư trên một quốc gia tự
do. Bằng những đồng tiền mồ hôi nước mắt mà họ không bao giờ ngưng
chuyển về ngơ hầu giúp đỡ những người thân sống c̣n. Và bằng sự hiện
diện của họ bởi v́ ngày nay họ được phép về nước nghỉ hè bên cạnh thân
bằng quyến thuô.c. Một ước tính vào năm 1999 cho tha6'y có đến hai tỷ
đồng Đô La hàng năm họ đă mang lại cho Phỉ Quyền Cộng Sản, tức là một
phần ba ngân sách của Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam.
GẦN HAI TRIỆU
NGƯỜI VIỆT NAM ĐĂ CHỌN ĐỜI SỐNG LƯU VONG NƠI XỨ LẠ QUÊ NGƯỜI THAY V̀ LÀM
NÔ LỆ CHO CỘNG SẢN, HÀNG TRĂN NGÀN NGƯỜI ĐĂ GỤC CHẾT TRÊN ĐƯỜNG TRỐN
CHẠY NANH VUỐT CỘNG SẢN VIỆT NAM. KẺ NÀO ĐĂ DÁM ĂN NÓI NGƯỢC NGẠO, VÀ
TUYÊN TRUYỀN LÁO KHOÉT RẰNG TOÀN THỂ NHÂN DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM ĐOÀN KẾT
CÙNG CÁC "ANH HÙNG GIẢI PHÓNG" VÀO NĂM 1975 ???
Nỗi ám ảnh bỏ
nước ra đi của Hiê.p. Tôi c̣n nghe anh nói, run rẩy trong bộ đồ bà ba
ướt sũng nước biển, ga tài duy nhất c̣n sót lại trong đời anh. Giữa vùng
vịnh Thái Lan, tiếng máy tầu của Hiệp h́nh như văng vẳng tiếng kêu của
những linh hồn ĺa xác. Thức ăn và nước uống đều sắp ca.n. Những người
đàn bà qùy trên khoang tầu khấn nguyện trời đất. Phải chăng trời đất đă
chấp thuận lời cầu nguyện của những thuyền nhân vừa mới thoát ra khỏi
nanh vuốt Cộng Sản và đang dẫy trên giữa ḷng đại dương ??? Vào giữa
trưa ngày thứ sáu, có một chiếc thuyền lướt sóng cha,y nhanh về phía họ.
Đó là một chiếc thuyền đánh cá Thái Lan. Rồi hai chiếc ... rồi ba chiếc
.... Thoát Nạn chăng ? Nhưng ... Than ôi, đó là những chiếc thuyền hải
tặc Thái Lan. Chúng cướp bóc trên tầu, giết chết những người đàn ông
kháng cự, và bắt đi 18 người đàn bà trẻ nhất, rồi bỏ đi sau khi đâm
thủng tầu. Những người Việt Nam cố bám vào thân tầu th́ bị chúng dùng
gậy đập chết. Khi trời sáng th́ chỉ c̣n hai người sống sót duy nhất đang
bám víu vào sự sống cuối cùng là chiếc thùng đựng nước bằng nhựa hóa học
mà định mệnh của học bập bềnh theo sóng biển vô t́nh. Hai người đó là
Hiệp và Ngọc, cô bé gái có đôi mắt của con nai bị thương vừa thoát chết
dưới lưỡi hái của tử thần. Tôi nh́n cô bé đầu nghiêng mắt nai, tựa cằm
trên bàn, và đăm đăm nh́n tôi với ánh mắt để đời. Dường như tất cả tuổi
thơ đă bỏ em mà đi. Cô bé chỉ c̣n lại một khoảng trống rỗng của đời
người. Một chiếc b́nh hoa tuyệt mỹ đă rơi xuống bên thềm địa ngục và tan
vỡ giữa trần gian.
Đó là lịch sử
của những người chạy trốn nanh vuốt Cộng Sản mà đời gọi họ là "THUYỀN
NHÂN", và cũng có những người c̣n mệnh danh họ là kẻ "CHẾT ĐUỐI CHO TỰ
DO". Lịch sử của một dân tộc trong suốt 20 năm trường đă bị tàn hại dưới
nanh vuốt của một thứ chính trị đầy thù hận và kỳ thị của bất cứ một chế
độ Cộng Sản nào.