|
Chuyện
gián điệp và cuộc chiến 1975
Trọng Đạt
Tin tức của t́nh báo, gián điệp đóng
một vai tṛ rất quan trọng trong chiến tranh không kém ǵ tiếp liệu,
vũ khí…Binh pháp người xưa đă nói biết địch biết ta trăm trận trăm
thắng. Có khi tin tức t́nh báo gián điệp thay đổi cả một khúc quành
trong cuộc chiến như vai tṛ của Tiến sĩ Sorge trong cuộc chiến
tranh Nga Đức 1941-1945. Richrad Sorge (1895-1944)
sinh tại Đức, cha người Đức mẹ người Nga, đậu tiến sĩ Chính trị học
1919, sinh sống tại Đức, gia nhập đảng Cộng Sản Đức, làm gián điệp
cho Hồng quân Nga. Bề ngoài Sorge là đảng viên Quốc Xă Đức để che
mắt chính quyền, ông hành nghề báo chí.
Năm 1933, với tư cách một nhà báo Đức, Sorge sang Nhật làm báo nhưng
thực ra để thiết lập màng lưới gián điệp cho Cộng Sản Nga. Trong năm
1933-34 ông ta đă thu thập được nhiều tin tức ngoại giao quan trọng
của Nhật. Năm 1941 Sorge đă cho Nga tin tức chính xác về chiến dịch
Barbarossa của Hitler nhằm tấn công Sô Viết ngày 22-6-1941 nhưng
Staline lại thờ ơ không tin mấy. Đúng vào ngày 22-6-1941 Hitler đưa
một lực lượng vĩ đại 180 Sư đoàn bộ binh và cơ giới
(70% lực lượng của Đức)
tiến đánh miền Tây nước Nga. Mặc dù Nga đă biết trước qua một số tin
tức nhưng quân Đức vẫn đạt yếu tố bất ngờ, vả lại quân Nga trang bị
vũ khí lỗi thời nên đă bị Đức đè bẹp ngay khi chiến dịch tiến hành.
Từ ngày khởi đầu chiến dịch cho tới những ngày gần chót khi quân Đức
đă tiến sát Mạc Tư Khoa trong gần nửa năm, họ đă bắt được khoảng 3
triệu tù binh Nga.
Đầu tháng 12 quân Đức chỉ c̣n cách Mạc Tư Khoa 18 dặm Anh
(30km),
cả thành phố hốt hoảng tưởng như quân Đức sắp vào tới nơi, Hitler
đắc thắng cho rằng đă chinh phục được nước Nga, chắc ăn như bắp rồi,
hươu hươu tự đắc tuyên bố “ Cộng Sản Nga đang dẫy chết”. Thế giới
nín thở, người ta cho rằng nước Nga đă thua trận, khoảng hơn 200 Sư
đoàn chủ lực đă bị đánh tan. Staline đang cố gắng huy động 80 Sư
đoàn để cứu nguy Thủ đô nhưng thực ra lúc này chỉ c̣n 25 Sư đoàn
trang bị đầy đủ. Vào lúc ấy mùa đông khắc nghiệt mấy chục độ dưới số
không khiến quân Đức phải tạm ngưng cuộc tấn công. Trong lúc t́nh
h́nh vô cùng nguy khốn th́ được tin t́nh báo của Tiến Sĩ Sorge cho
biết quân Nhật (Lộ quân Quan Đông)
sẽ không mở mặt trận tấn công
phía Đông nước Nga như họ đă dự trù. Từ mấy năm trước Staline đă dàn
40 sư đoàn (có tài liệu nói 50 Sư đoàn)
tại biên giới Măn Châu để pḥng ngừa quân Nhật tấn công chiếm các
tỉnh phía Đông. Nhờ tin tức của tiến sĩ Sorge nêu trên Staline đă
cho rút 40 Sư đoàn về tăng cường cho tuyến pḥng thủ Mạc Tư Khoa rồi
chuyển bại thành thắng, đẩy lui được quân Đức ra xa hằng 100km.
Một phần v́ đường xá của nước Nga quá tồi tệ lạc hậu đă cản trở sự
tiến quân của người Đức, phần v́ thời tiết khắc nghiệt và nhất là
nhờ tin t́nh báo của Tiến Sĩ Sorge đă khiến cho Moscow thoát hiểm.
Nếu Thủ đô Nga rơi vào tay quân Đức, quân Nhật sẽ thừa cơ nước đục
thả câu chiếm một số tỉnh miền Đông khi ấy Sô Viết sẽ có nguy cơ sụp
đổ phải kư hoà ước theo kiểu Pétain. Đây là một thành quả gián điệp
lớn lao nhất trong cuộc Thế chiến Thứ hai, nó đă cứu Sô Viết thoát
chết trong gang tấc và thay đổi cả một khúc quành trong cuộc chiến
tranh Nga Đức hay nói khác đi cái nôi của Cộng Sản Quốc Tế đă thoát
chết trong đường tơ kẽ tóc y như một phép lạ! Phải chăng ông Trời đă
cứu nước Nga? Tiến sĩ Sorge bị an ninh Nhật bắt năm 1941, bị treo cổ
năm 1944.
Trong cuộc chiến tranh Việt Nam cũng như bất cứ cuộc chiến nào, hai
bên đều có hệ thống t́nh báo để lấy tin tức bí mật về chiến thuật
chiến lược ḥng thủ lợi. Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng dễ cài t́nh
báo gián điệp hơn Việt Nam Cộng Hoà v́ miền Nam theo chế độ dân chủ
tự do. Họ rất dễ trà trộn lợi dụng sự dễ dàng của cơ cấu xă hội
chẳng thế mà sau 30-4-1975, cháy nhà ḷi ra mặt chuột, người ta thấy
tại các nhà thương, trường học, nhà thờ, chùa chiền và ngay cả trong
quân đội, cảnh sát… chỗ nào cũng có cán bộ nằm vùng. Những người đă
nhận nhiệm vụ làm gián điệp, t́nh báo cho Cộng Sản không bao giờ dám
bỏ trốn v́ sợ bị thủ tiêu, thanh toán. Ngược lại phía Việt Nam Cộng
Hoà và Đồng Minh khó đưa t́nh báo gián điệp ra miền Bắc v́ CS kiểm
soát người dân rất kỹ theo chế độ hộ khẩu nhưng không phải là không
có t́nh báo của phe ta ngoài ấy.
Vào khoảng năm 1983 chúng tôi có dịp tiếp xúc với một trung uư kỹ sư
công binh của CSBV tại miền Nam, hỏi về vụ Người Mỹ xử dụng biệt
kích để giải thoát tù binh tại Sơn Tây bằng trực thăng bị thất bại
anh ta cho biết nội dung đại khái như sau:
Bộ đội BV cũng vẫn thườøng dùng trực thăng tập trận tại trại Sơn Tây
nên khi Mỹ đưa trực thăng chở biệt kích tới, ăn mặc giả làm bộ đội
đổ quân xuống nhưng thất bại v́ tù binh Mỹ tại đây đă được chuyển đi
nới khác từ mấy ngày trước. Anh ta cho biết đó là sự chuyển trại
b́nh thường, trong khi trực thăng đổ biệt kích xuống th́ tay trong
của họ (Mỹ ngụy)
cắt hết dây điện thoại nên trại không liên lạc được với bên ngoài và
do đó không được tiếp cứu.
Chúng tôi bèn hỏi “Ngoài Bắc cũng có tay trong của Mỹ nguỵ à? Th́
anh ta cho biết “Mỹ Ngụy” có để nhiều t́nh báo gián điệp tại miền
Bắc, thí dụ như khi Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh vừa về làng quê thăm
họ hàng gia đ́nh th́ phi cơ phản lực Mỹ bay vút tới ném bom vào khu
vực nhà ông ấy, Nguyễn Chí Thanh vội chui xuống hầm ngay và thoát
chết, anh ta nói gián điệp địch đă báo cho Mỹ biết. Anh trung uư này
cũng cho biết tại Hà Nội các giàn súng pḥng không của BV phải di
chuyển đổi vị trí luôn, nếu ở lâu một nơi sẽ bị điệp viên của địch
báo cho máy bay Mỹ tới ném bom.
Nói về cuộc chiến 1975, có một chuyện t́nh báo gián điệp khá lớn đă
được sách báo ngoại quốc đề cập, hồi kư của Văn Tiến Dũng cũng có
nói tới nội dung bản tin do t́nh báo CS thu lượm được tại dinh Độc
Lập.
Trong cuốn Decent Intreval, Frank Snepp, một chuyên viên cao cấp về
phân tích t́nh báo chiến lược Hoa Kỳ thuộc văn pḥng CIA ở Sài G̣n
đă cho biết như sau:
“Một điệp viên trong bộ tham mưu thân
cận của Tổng Thống Thiệu đă gửi một bản báo cáo tối mật về những kế
hoạch và ước đoán của chính phủ Sài G̣n cho Bắc Việt. Theo báo cáo
của tên gián điệp này th́ vào hai ngày 9 và 10 tháng 12 năm 1974, có
một phiên họp cao cấp về quân sự tại Sài G̣n nhằm vào việc thẩm định
những dự tính của Hà Nội trong năm tới.Trong phiên họp này, các
tướng lănh cùng đồng ư với quan điểm của Tổng Thống Thiệu là trong
những tháng sắp tới, Cộng Sản sẽ “chiến đấu trên một b́nh diện đại
qui mô”hơn trong năm 1974 tuy nhiên sẽ không tổng tấn công như hồi
năm Mậu Thân 1968. Tên điệp viên nói thêm rằng Tổng Thống Thiệu đă
kết luận rằng các lực lượng Bắc Việt sẽ không đủ khả năng để tấn
công chiếm giữ và bảo vệ các thành phố lớn, Tổng Thiệu đă tiên đoán
rằng Cộng Sản sẽ nhắm mũi tấn công vào tỉnh Tây Ninh thuộc Vùng III
Chiến Thuật và Cộng Sản sẽ tấn công mạnh cho đến hết mùa khô vào
tháng 6 (năm 1975)
rồi sẽ ngưng các cuộc tấn công để dưỡng quân, tái tổ chức và trang
bị. Tên gián điệp này cũng báo cáo thêm rằng căn cứ trên những ước
tính này, Tổng Thống Thiệu đă quyết định sẽ không tăng viện cho Vùng
II và sẽ tập trung các lực lượng trừ bị trong vùng phía Nam mà thôi.
(Trần
Đông Phong trích dịch –Việt Nam Cộng Hoà, 10 Ngày Cuối Cùng)
Cuốn Decent Interval của Frank Snepp này đă được CSVN cho dịch ra
tiếng Việt vào năm 1978, lấy tên Khoảng Cách Vừa Đủ, và đă cho đăng
trên các báo Sài G̣n Giải Phóng và báo Nhân Dân, CS cho là có lợi
cho họ. Dưới đây là nhận định của Frank Snepp về hậu quả do báo cáo
của tên gián điệp CS như sau:
“Cũng chẳng có ǵ khó khăn để tưởng
tượng ra được các nhà lănh đạo Bắc Việt đă hồ hởi, khoái chí như thế
nào khi họ nhận được bản báo cáo này. Đó là một bản báo cáo vô giá.
Trong quyết nghị về kế hoạch quân sự tại miền Nam năm 1975, giới
lănh đạo Bắc Việt c̣n chưa có quyết định tối hậu v́ chưa có đủ yếu
tố. Giờ đây, nhờ vào bản báo cáo này mà Hà Nội đă nắm đủ yếu tố, đă
biết rơ ông Thiệu dự tính họ sẽ tấn công như thế nào và tương kế tựu
kế, họ sẽ sửa đổi lại kế hoạch tấn công để qua mặt ông Thiệu.
Nếu như ông Thiệu tiên đoán rằng Cộng Sản sẽ tấn công vào Tây Ninh
th́ trước hết họ sẽ tấn công vào tỉnh Phước Long: nếu ông Thiệu nghĩ
rằng Cộng Sản sẽ không tấn công vào vùng II th́ họ sẽ tấn công vào
vùng Cao nguyên và đó cũng là nơi họ sẽ tập trung các lực lượng
chính yếu để thôn tính toàn bộ vùng này; nếu ông Thiệu nghĩ rằng
Cộng Sản không có đủ khả năng tấn công và chiếm giữ các thành phố
lớn th́ họ sẽ làm y như vậy: tấn công Phước Long và kế đến Ban Mê
Thuột rồi thay v́ phải rút lui họ sẽ chiếm giữ luôn những thành phố
đó
Trong số những người đă đóng góp công trạng cho sự chiến thắng của
Bắc Việt, tên gián điệp nằm vùng này trong bộ tham mưu của ông Thiệu
phải là người có công lao lớn nhất. Cho đến giờ này th́ tên tuổi của
tên gián điệp này vẫn c̣n bí mật, chỉ có Hà Nội là biết rơ, nhưng
vào thời gian y cung cấp tài liệu có giá trị vô giá này cho Bắc Việt
vào cuối năm 1974 th́ văn pḥng CIA ở Sài G̣n có một bản danh sách
gồm có 4 người trong bộ tham mưu thân tín của ông Thiệu bị t́nh nghi
là có thể làm gián điệp nội tuyến cho Bắc Việt. Một trong 4 người đó
là một sĩ quan đang giữ chức trưởng ban phản gián của Cục An Ninh
Quân Đội, người này là bà con rất gần với một nhân viên cao cấp
trong bộ tham mưu của Tổng Thống Thiệu.
Dù rằng có đủ bằng chứng nhưng CIA vẫn không có thể làm ǵ được đối
với họ v́ cả bốn người đều là người tâm phúc thân cận với Tổng Thống
Thiệu và trong đó có hai người, kể cả người phụ trách về phản t́nh
báo của An Ninh Quân Đội, trớ trêu thay lại là cộng sự viên lâu đời
của CIA . Nếu CIA mà làm tới và kết tội họ th́ việc đó sẽ làm cho
chính CIA bị bỉ mặt, do đó mà CIA đành phải làm ngơ”
(Trần
Đông Phong trích dịch – VNCH, 10 Ngày Cuối Cùng)
Chuyện gián điệp tại dinh Độc
Lập nêu trên chắc hẳn là có thật v́ trong tài liệu phía Cộng Sản
cũng có nói tới gần giống như vậy. Văn Tiến Dũng, Tổng Tham Mưu
Trưởng Quân đội Cộng Sản Bắc Việt, người chỉ huy trận chiến xâm lăng
miền Nam 1975 đă ghi nhận trong hồi kư của y (Đại Thắng Mùa Xuân)
như sau"
“Theo tin t́nh báo của ta, trong hai
ngày 9 và 10 tháng 12 năm 1974, trong “dinh Độc Lập”, Thiệu họp với
bọn tư lệnh các quân đoàn, quân khu ngụy để phán đoán hoạt động của
ta trong năm 1975. Bọn chúng nhận định.
Trong năm 1975, ta có thể đánh với qui mô lớn hơn năm 1974 nhưng
không như năm 1968 và không bằng năm 1972.Ta chưa có khả năng đánh
thị xă lớn hoặc thành phố, dù có đánh cũng không giữ được. Ta chỉ có
thể đánh loại thị xă nhỏ và cô lập như Phước Long, Gia Nghĩa. .. . .
. . .
. . . . . . . Do nhân định như vậy, chúng không thay đổi thế bố trí
chiến lược mạnh hai đầu (quân khu 1 và quân
khu 3) và chúng cũng chưa
có sự thăng cường lực lượng ǵ lớn ở quân khu 2, trong đó có Tây
Nguyên”.
(Trang
40, 41)
Cũng nói về vụ t́nh báo gián điệp tại dinh Độc Lập nhưng phía Cộng
Sản không cho là quan trọng lắm, họ có chú ư tới cái nh́n khinh địch
của ông Thiệu nhưng không thấy đề cao thành tích của tay điệp viên
này. Trái lại phía Mỹ, Frank Snepp th́ quá quan trọng hoá vai tṛ
của tên gián điệp, làm như y là một Tiến sĩ Sorge thứ hai vậy!!
Frank Snepp đă tán phét, thổi phồng vấn đề và nhận định, phán xét vụ
gián điệp này một cách quá đơn giản, chủ quan. Ông ta nói rằng các
nhà lănh đạo Bắc Việt hồ hởi, khoái trá khi nhận được bản báo cáo vô
giá này nhưng trên thực tế họ không có biểu lộ ǵ hồ hởi như ông
nghĩ. Ông ta nói rằng trong nghị quyết về kế hoạch quân sự tại miền
Nam, Hà Nội chưa có quyết định tối hậu v́ chưa có đủ yếu tố, giờ đây
nhận được báo cáo của tên gián điệp, họ biết rơ dự tính của ông
Thiệu để tương kế tựu kế qua mặt ông Thiệu. Frank Snepp nhận định
hoàn toàn chủ quan và sai lầm, ông không hiểu về người Cộng Sản cho
lắm và suy diễn sự kiện theo chủ quan riêng tư của ḿnh bởi v́ trước
khi nhận được tin tức t́nh báo của tên gián điệp khoảng hai tháng họ
đă hoạch dịnh xong kế hoạch quân sự để tấn công Việt Nam Cộng Hoà.
Ông cho rằng sở dĩ Cộng Sản tấn công Phước Long v́ ông Thiệu tiên
đoán họ tấn công Tây Ninh, nhận định này rất mơ hồ v́ CS tấn công
Phước Long chỉ là để thăm ḍ phản ứng của Mỹ, họ chọn một tỉnh nhỏ
xa xôi, pḥng thủ yếu để tấn công, đơn giản như vậy thôi.
Frank Snepp nói v́ ông Thiệu cho rằng Cộng Sản sẽ không tấn công
Vùng 2 (Quân Khu 2)
nên họ tấn công Vùng 2, đây cũng lại
là một nhận định hoàn toàn sai lầm, Cộng Sản Bắc Việt đâu có khù khờ
như ông nghĩ. Kế hoạch tấn công Cao Nguyên
(QK-2) của Hà Nội đă được
hoạch định từ tháng 10, nghĩa là trước phiên họp
(9-12-1974)
tại dinh Độc Lập kể trên khoảng 2
tháng, có nghĩa là Bắc Việt đă lên kế hoạch tấn công Tây Nguyên từ 2
tháng trước khi có tin t́nh báo của tên gián điệp này. Văn Tiến Dũng
có ghi trong hồi kư của y trang 22 như sau:
“Tháng 10 năm 1974, trời cuối thu bắt
đầu lạnh, gợi cho các cán bộ quân sự chúng tôi nhớ đến mùa chiến
dịch sắp đến. Bộ Chính Trị và Quân Uỷ Trung Ương họp nghe Bộ Tổng
tham mưu tŕnh bầy kế hoạch tác chiến chiến lược”
Hội nghị quân sự cao cấp của Bắc Việt trong dịp này bàn về chiến
trường và họ chọn Tây Nguyên làm chủ yếu trong cuộc tổng tiến công
1975, nguyên do Cộng Sản Bắc Việt chọn Tây nguyên là v́ họ nhận xét
về cách bố trí của ông Thiệu mạnh ở hai đầu, Quân khu 1 để 5 sư đoàn,
Quân khu 3 để 3 sư đoàn, Quân khu 2 ở giữa chỉ có hai Sư đoàn chủ
lực lại phải rải ra giữ các tỉnh Tây nguyên và bảo vệ các tỉnh duyên
hải như Qui Nhơn, B́nh Định, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết….Ở đây
(QK-2)
là chỗ yếu nhất nên BV nhắm vào đó để tấn công. BV cho rằng Tây
Nguyên là là một chiến trường hết sức cơ động, nó giữ một vị trí yết
hầu then chốt v́ có thể theo đường Quốc Lộ 14 tiến về phía Nam như
Quảng Đức, Phước Long và theo các đường Quốc Lộ 19, 7, 21 tiến xuống
miền duyên hải như Qui Nhơn, Tuy Hoà, Nha Trang… Tây nguyên có độ
chênh không đáng kể tiện cho việc làm đường, họ nói “về mặt chiến
lược đây là một địa bàn hết sức quan trọng”.
Bắc Việt đă đánh giá vị trí chiến lược của Tây Nguyên rất cao “Ai
làm chủ Tây Nguyện th́ làm chủ chiến trường” Đại Tá Phạm Bá Hoa
(VNCH),
trong bài Cuộc Rút Quân Trên Đường Số 7 đă viết:
“Năm 1960 trong thời gian tôi học tại
trường Đại Học Quân Sự (hậu thân của Viện
Nghiên Cứu Quân Sự của Quân Đội Viễn Chinh Pháp),
tôi đọc được một tập tài liệu có nhận định rằng “ Trong chiến tranh
Việt Nam, ai chiếm giữ được Cao Nguyên miền Trung th́ người đó sẽ
nắm phần chiến thắng”. Chắc chắn rằng, những vị Tướng của chúng ta
đang nắm quyền lănh đạo quốc gia và lănh đạo quân đội đều biết tài
liệu đó, nhưng có thể các vị bị chính trị đẩy Cao nguyên ra khỏi tầm
tay chăng?
Cả hai phía Quốc Gia và Cộng Sản đều nh́n nhận vị trí chiến lược
quan trọng của Cao nguyên nhưng sở dĩ ông Thiệu không chú tâm vào
việc pḥng thủ Cao Nguyên bằng Quân khu 3, Quân Khu 4 v́ theo ông
nghĩ các vùng đồng bằng mầu mỡ quan trọng hơn các vùng rừng núi khô
cằn. Quân khu 2 là một giải đất rộng mênh mông hơn một nửa diện tích
Việt Nam Cộng Hoà gồm 12 tỉnh mà chỉ có 2 Sư đoàn bộ binh
(22, 23)
và 7 Liên đoàn Biệt động quân trấn đóng (gồm
5 Liên đoàn cơ hữu và 2 Liên đoàn tăng cường, mỗi Liên đoàn có hơn
1000 người), đó là nơi
pḥng ngự yếu nhất so với các Quân khu khác nên Bắc Việt chủ trương
tấn công trước. Năm 1974, trong một tài liệu học tập cho Công chức
quân nhân tại Vùng 2, chính phủ cũng đă cho biết Cộng Sản sẽ tấn
công chiếm QK-2 để cắt đôi VNCH và cô lập QK-1.
Sở dĩ Bắc Việt chọn Cao nguyên làm chiến trường chủ yếu để tấn công
trước v́ vị trí chiến lược quan trọng của nó chứ không phải v́ tại
ông Thiệu không tăng viện cho Vùng Hai và không tin CS sẽ tấn công
nơi đây như Frank Snepp nói. Sự thực ông Thiệu nói ông sẽ không tăng
cường lực lượng pḥng thủ cho Quân khu II chỉ là nói cho có chuyện
vậy thôi chứ trên thực tế cũng không c̣n quân trừ bị để tăng cường:
hai Sư đoàn Tổng trừ bị (Nhẩy Dù và TQLC)
đă đưa ra Quân khu Một từ
1972; 17 Liên đoàn Biệt động quân đă phân chia cho ba quân khu (QKMột
4 liên đoàn, QK Hai 7 liên đoàn, QK Ba 6 liên đoàn) th́ c̣n lấy đâu
ra quân trừ bị để tăng viện?
Frank Snepp nói Bắc Việt tấn công chiếm Ban Mê Thuột v́ ông Thiệu
cho rằng Cộng Sản không đủ khả năng đánh vào các thành phố lớn. Nhận
định của Frank Snepp có thể nói vô căn cứ, lư do Bắc Việt chọn mục
tiêu Ban Mê Thuột v́ những yếu tố chiến thuật chứ không phải v́ tin
t́nh báo. Vào ngày 9-1-75, Quân Uỷ Trung Ương
(Cơ quan đại diện của Đảng trong Quân đội)
họp nghe báo cáo của Bộ Tổng tham mưu về chiến dịch Tây Nguyên.
Trong hồi kư của Dũng có ghi Lê Đức Thọ đến tham gia buổi họp và nói:
“Phải đặt vấn đề dứt khoát là giải
phóng Buôn Ma Thuột. Ta có gần 5 sư đoàn ở Tây Nguyên mà không đánh
được Buôn Ma Thuột là thế nào?” (trang 31).
Theo tài liệu Đại Tá Cộng Sản Dương Đ́nh Lập: lực lượng CS tham gia
chiến dịch Tây Nguyên gồm 5 Sư đoàn (10,
320A, 316, 968, 3) và 4
Trung đoàn độc lập (25, 271, 95A, 95B)
, Trung đoàn đặc công 198, toàn bộ lực lượng tương đương 6 Sư đoàn.
Sở dĩ Bắc Việt chọn Ban Mê Thuột làm địa điểm tiến công trước tại
QK-2 v́ tại đây pḥng thủ yếu, toàn bộ chủ lực chỉ có hai tiểu đoàn
thuộc Trung đoàn 53 (Sư đoàn 23 BB)
c̣n lại là Địa phương quân,
nghĩa quân, cảnh sát. Nguyễn Định một nhân chứng tại Ban Mê Thuột
trong bài “Ban Mê Thuột, Ngày Đầu Cuộc Chiến” cho biết BMT
giống như một thành phố bỏ hoang, toàn bộ lực lượng kể cả ĐPQ, Cảnh
sát, Cán bộ Xây dựng nông thôn… không quá 2000 người, trong khi ấy
Pleiku được pḥng thủ mạnh hơn nhiều v́ đây là Đại bản doanh của
Quân đoàn 2. Theo Nguyễn Đức Phương (Chiến
Tranh Việt Nam Toàn Tập)
Ban Mê Thuột không thuận lợi cho việc pḥng thủ, địa h́nh Ban Mê
thuột không có chướng ngại thiên nhiên như Kontum, Pleiku để tŕ
hoăn sự tấn công của Cộng Sản, diện tích rộng hơn Kontum, Pleiku
nhiều. BMT trên thực tế không có ṿng đai pḥng thủ liên tục, quá
nhiều đồn điền san sát nhau khiến CSBV có thể lợi dụng để ngụy trang.
Như thế địch chọn đánh Ban Mê Thuột v́ yếu tố địa h́nh và v́ sự
pḥng thủ tại nơi đây yếu chứ không phải v́ tin t́nh báo như Frank
Snepp đă nói.
Tuy nhiên nói như thế không có nghĩa Bắc Việt không khai thác ǵ ở
bản báo cáo này là mấy. Họ đă khai thác triệt để cái nh́n chủ quan
khinh địch của ông Thiệu, khai thác triệt để sai lầm trầm trọng này
để đạt được yếu tố bất ngờ khiến ông Thiêu hốt hoảng đi từ sai lầm
này đến sai lầm khác. Ông Thiệu cho rằng Bắc Việt vẫn chưa phục hồi
sau trận Mùa hè đỏ lửa năm 1972 nhưng thực ra năm 1975 họ mạnh hơn
hồi 1972 rất nhiều. Năm 1972 Hà Nội đưa vào chiến dịch tổng tấn công
10 Sư đoàn (5 Sư đoàn tại Quảng Trị, 2 Sư
đoàn tại Kontum, 3 Sư đoàn tại An Lộc),
năm 1975 họ đưa vào Nam toàn bộ lực lượng chính qui của bốn Quân
đoàn (1, 2, 3, 4)
và đoàn 232 (tương đương một Quân đoàn),
mỗi Quân đoàn có 3 Sư đoàn tổng cộng 15 Sư đoàn, cộng thêm một Sư
đoàn đặc công và trên 10 trung đoàn độc lập, toàn bộ chủ lực quân
Cộng Sản Bắc Việt vào khoảng 20 Sư đoàn bộ binh . Năm 1972 VNCH đầy
đủ nhiên liệu và đạn dược mà c̣n phải dựa vào yểm trợ của máy bay
chiến lược B-52 của Hoa Kỳ. Năm 1975 VNCH thiếu thốn về tiếp liệu,
hoả lực giảm 60% v́ quân viện bị cắt giảm, trong khi lực lượng CSBV
gấp hai lần năm 1972, vũ khí đạn dược cũng gấp hai lần 1972
(do báo Nhân Dân năm 1976 tiết lộ).
Chúng ta thấy t́nh h́nh bi đát như thế nào mà cuối năm 1974 ông
Thiệu vẫn b́nh chân như vại v́ ông vẫn chủ quan tin tưởng Bắc Việt
chưa phục hồi được sau trận mùa hè đỏ lửa, họ chưa có khả năng đánh
vào các thành phố lớn….
Tướng Trần Văn Nhựt, cựu Tư lệnh Sư đoàn 2 cho rằng ông Thiệu không
có tầm nh́n xa.
“Việc ông sửa đổi Hiến Pháp để làm
Tổng thống thêm một nhiệm kỳ năm năm nữa chứng tỏ ông đă không nh́n
thấy việc Hoa Kỳ sắp bỏ rơi Việt Nam và đă làm xáo trộn thêm t́nh
h́nh chính trị trong nước. Như tướng Khiêm phải ra mặt chống đối
Tổng Thống Thiệu v́ ông Thiệu không giữ lời hứa là sau hai nhiệm kỳ
làm Tổng thống th́ tới phiên ông Khiêm.
(Cuộc Chiến Dang Dở trang 273)
Thật vậy người ta đă có chính sách bỏ Đông Dương từ mấy năm trước,
ngày 9-7-1971 Kissinger đă bí mật găp Chu Ân Lai tại Bắc Kinh… thế
mà ông không hay biết ǵ cả! Ông vẫn thoải mái trong tư dinh, cho
sửa Hiến Pháp chuẩn bị ra ứng cử làm Tổng Thống thêm năm năm nữa !
Về điểm này trong một cuộc phỏng vấn của Phạm Huấn, cựu Trung Tướng
Vĩnh Lộc đă chê ông Đại Sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ không làm tṛn nhiệm
vụ, ông Đại Sứ không phải chỉ đi ăn tiệc, tiếp tân mà phải làm một
Spy, điệp viên lấy tin tức về cho chính phủ của ḿnh tại Sài G̣n để
biết chính sách của Đồng Minh mà liệu bề đối phó. Hậu quả của sự
thiếu trách nhiệm này là Tổng Thống không có tin tức t́nh báo về
chính sách của Đồng minh.
Ngày 11-3-1975 Cộng quân chiếm được Ban Mê Thuột, 12-3-1975, Hạ Viện
Mỹ biểu quyết cắt quân viện bổ túc cho VNCH, hai ngày sau 14-3-1975
ông Thiệu ra lệnh Quân đoàn 2 rút bỏ Cao nguyên. Cho tới lúc này mà
ông vẫn chưa biết người ta bỏ Đông Dương c̣n chơi tṛ tháu cáy giả
vờ thua chạy để lôi kéo Mỹ trở lại, rốt cuộc ông đă làm sụp đổ cả
một Quân khu và khiến cho bao nhiêu người chết oan. Ông không có tầm
nh́n xa, thiếu tin t́nh báo ông không biết chính sách Đồng Minh đă
thay đổi và lại khinh địch v́ không biết rơ lực lượng địch nên khi
Đồng Minh bỏ rơi và kẻ địch tấn công vũ băo th́ ông hốt hoảng đi từ
sai lầm này đến sai lầm khác.
Người ta thường đề cao khả năng của t́nh báo Cộng Sản, nhiều người
cho rằng họ đă cài được đảng viên làm phụ tá Tổng Thư Kư Phủ Tổng
thống (Huỳnh Văn Trọng)
th́ chuyện ǵ của VNCH họ cũng biết hết, sự thực không phải như vậy.
Năm ngoái, trả lời phỏng vấn của Trần Phong Vũ, ông Nguyễn Văn Ngân
nguyên phụ tá Tổng Thống Thiệu cho biết:
Trần Phong Vũ: Ông
nhận định thế nào về tầm mức quan trọng của cán bộ t́nh báo chiến
lược Cộng sản nằm vùng trong hàng ngũ quốc gia trước 1975?
Nguyễn Văn Ngân: Các cán bộ t́nh báo chiến lược dù chui sâu
vào chính quyền miền nam cũng rất khó t́m hiểu các bí mật quốc gia
có tầm mức chiến lược v́ đây là lănh vực chuyên độc của người lănh
đạo quốc gia mà số giới chức tiếp cận rất hạn chế. Dưới thời Tổng
Thống Diệm cũng như thời Tổng Thống Thiệu, ngay Hội đồng Tổng trưởng
là cơ quan cao nhất của chính phủ cũng rất ít khi thảo luận các vấn
đề chính trị có tính cách chiến lược v́ đây là lănh vực cấm kỵ, liên
quan đến mặt trái của chính sách Mỹ.
Phần lớn các cán bộ t́nh báo chiến lược của Cộng Sản nằm vùng trong
hàng ngũ quốc gia đều là cộng sự viên của các cơ quan t́nh báo ngoại
quốc, như Huỳnh Văn Trọng nguyên là nhân viên pḥng nh́ Pháp và sau
này là nhân viên Toà đại sứ Mỹ, Phạm Ngọc Thảo làm việc cho cơ quan
t́nh báo Anh và CIA Mỹ, Phạm Xuân Ẩn liên hệ với CIA từ thời
Lansdale..v..v.. qua các môi trường t́nh báo ngoại quốc, họ khai
thác được các tin tức có tầm mức chiến lược. Cơ quan t́nh báo Mỹ
biết họ là điệp viên Cộng Sản nhưng đă cố t́nh xử dụng v́ các mục
tiêu dài hạn. Sau 30/4/75, những cán bộ t́nh báo này đă được Cộng
sản thăng cầp, mang nhiều huy chương, danh hiệu anh hùng… nhưng
không bao giờ c̣n được tin dùng nữa.
Sau ngày 30-4-1975, cháy nhà ḷi ra mặt chuột, các cán bộ nằm vùng
Việt Cộng lộ diện nguyên h́nh tại khắp nơi như nhà thờ, chùa chiền,
trường học, đồn lính, bóp cảnh sát và đủ thành phần như dân biểu ,
tỉnh trưởng , sĩ quan.. Ấy thế mà một tin tức rất quan trọng nằm sờ
sờ trước mặt mà họ không hay biết ǵ, Việt Nam Cộng Hoà đă lâm vào
t́nh trạng gần hết đạn, từ giữa năm 1974 cho tới đầu năm 1975 hoả
lực giảm 60%, đạn chỉ đủ đánh trận cho tới tháng 5-1975, sau đó sẽ
không c̣n một viên, thế mà họ không hề hay biết.
Năm 1965 Mỹ đổ quân vào cứu miền Nam đang có nguy cơ sụp đổ, tính
trung b́nh một tuần ta mất một tiểu đoàn và một quận.
| Năm 1966 |
Quân phí: 6 tỷ MK |
|
| Năm 1967 |
tăng lên 20 tỷ |
|
| Năm 1968 |
tăng 26 tỷ |
|
| Năm 1969 |
tăng 29 tỷ |
|
| Hai năm 1970, 71 |
xuống c̣n 12 tỉ
|
v́ Mỹ đang rút quân. |
| Năm 1972 |
Mỹ chỉ c̣n 24,200
người, miền Nam một ḿnh gánh vác chiến trường với quân
viện ngày một bị cắt giảm. |
| Năm 1973 |
quân viện là 2 tỷ 1, |
|
| Năm 1974 |
xuống c̣n 1 tỷ 4 |
|
| Năm 1975 |
chỉ c̣n 700 triệu |
kể cả tiền trả lương cho nhânviên cơ quan
DAO |
Hậu quả của cắt quân viện là:
- Không quân phải cho trên 200
máy bay ngưng bay, giảm giờ bay, huấn luyện 50%, số giờ bay thám
thính 58%, phi vụ trực thăng giảm 70%.
- Hải quân cũng bị cắt giảm
hoạt động 50%, khoảng 600 tầu, thuyền các loại nằm u.
- Hỏa lực giảm 60%, đạn trong
kho chỉ đủ dùng đến khoảng tháng 5-1975. Sau này ông Cao Văn Viên
cho biết tháng 4-1975 đạn tồn kho ở bốn kho chỉ c̣n đủ đánh 2 hoặc 3
tuần… Năm 1972 một số lớn săng dầu và đạn dược đă được dốc và trận
chiến Mùa hè đỏ lửa nên VNCH đă lâm vào t́nh trạng thiếu hụt tiếp
liệu mặc dù 1973 có quân viện 2 tỷ 1.
Trong khi ấy viện trợ của Cộng Sản Quốc Tế cho BV năm 1973, 1974…không
thay đổi, họ mang vào Nam nhiều súng đạn hơn v́ đă mở mang đường vận
chuyển, chúng tôi sẽ nói chi tiết sau. Trong cuộc Hội thảo qui mô
tổng kết cuộc chiến tranh VN vào ngày 14 và 15-4-2006 tại Sài G̣n (theo
BBCVietnamese.com), Viện Lịch sử quân sự VN đă cho biết:
-Trong giai đoạn 1969-1972 Tổng số
hàng viện trợ của CS quốc tế là 1.000.769 tấn, gồm 316.130 tấn hàng
hậu cần, 684.666 tấn vũ khí, trong đó Liên xô 143.739 tấn
(chiếm 14%), Trung Quốc
761.001 tấn (75%),
các nước Xă hội chủ nghĩa khác 96.002 tấn
(10%).
-Trong giai đoạn 1973-1975 Tổng số viện trợ là 724.512 tấn gồm
75.267 tấn hàng hậu cần, 649.264 tấn vũ khí, trong đó Liên Xô 65.601
tấn (9%),Trung
Quốc 620.354 tấn (85%),
các nước XHCN khác 38.557 tấn (5%)
Như vậy số lượng hàng viện trợ hậu cần trong giai đoạn 1973-75 có
sút giảm so với giai đoạn 1969-72 nhưng hàng vũ khí, trang bị kỹ
thuật trong hai giai đoạn coi như tương đương
(684.666 tấn giai đoạn 69-72 và 649.264 tấn giai đoạn 73-75).
Trong giai đoạn 1969-72 việc vận chuyển vũ khí đạn dược vào Nam bị
máy bay chiến lược Hoa Kỳ ném bom đánh phá dữ dội nên nói chung việc
vận chuyển khó khăn, vũ khí mang vào bị hạn chế. Giai đoạn 1973-75
th́ trái lại, từ sau ngày kư Hiệp định ba Lê, Hoa Kỳ rút quân về
nước , họ không c̣n quan tâm tới VN nên dù CSBV đem vũ khí đạn dược
vào Nam bao nhiêu đối với họ không thành vấn đề. Các tuyến đường xâm
nhập coi như bỏ ngỏ, không bị đánh phá như thời kỳ c̣n Đồng Minh.
Chúng tôi được nghe một vị Trung tá Không quân nói đường xâm nhập
của CS hiện rơ trên bản đồ nhưng ḿnh không đủ lực lượng để ngăn
chặn.
Sau khi kư Hiệp định Ba Lê, BV cho khởi công xây tuyến đường xa lộ
Đông trường Sơn hay hành lang 613, song song với đường ṃn Hồ chí
Minh nhưng nằm trong địa phận VNCH từ Đồng Hới cho tới Lộc Ninh tới
đầu 1975 th́ hoàn thành dài 1,200 km. Dọc theo Đông trường sơn là hệ
thống dẫn dầu từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh. BV huy động
hàng vạn bộ đội, thanh niên xung phong, dân công …ngày đêm phá núi
san đèo, xây cống, lắp đường, dựng cầu.. đường rộng 8 m, xe vận tải
cỡ lớn chạy hai chiều được, ngày đêm chở hàng trăm ngh́n tấn đạn
dược quân nhu cho chiến trường, họ đă xử dụng 16 ngh́n xe vận tải
chuyên chở binh khí kỹ thuật, đạn dược, lương thực trong 2 năm 1973
và 74 để chuẩn bị cho chiến trường miền Nam. Chiều dài toàn bộ hệ
thống chiến lược Trường Sơn là 16 ngàn km, gồm năm hệ thống đường
trục dài 5,500 km, 21 đường trục ngang 1,020 km , một đường hệ thống
dẫn dầu 5000km.
Như chúng tôi đă tŕnh bầy ở trên, số lượng hàng viện trợ về vũ khí,
trang bị kỹ thuật hai giai đoạn 1969-72 và 1973-75 coi như tương
nhau nhưng giai đoạn sau v́ không bị máy bay chiến lược Hoa kỳ oanh
tạc vả lại BV đă xây được tuyến đường chuyên chở rất qui mô vĩ đại
nên trong giai đoạn sau (1973-75)
họ mang được nhiều vũ khí đạn dược hơn giai đoạn trước rất nhiều.
Năm 1976, CSVN tiết lộ trên báo Sài G̣n Giải Phóng vũ khí đạn dược
trong trận chiến 1975 gấp ba lần năm 1972, có thể họ đă nói phóng
đại lên, nhưng chắc cũng phải gấp hai lần.
Năm 1973 tại tỉnh Quảng Đức phía Nam Ban Mê Thuột có trận đánh lớn
giữa QK-2 VNCH và CSBV, họ khó chịu tỉnh QĐ v́ nó nằm trên tuyến xa
lộ Đông Trường Sơn. Trận đánh cấp Sư đoàn kéo dài từ tháng 8 cho tới
cuối năm 1973. BV chiếm quận Kiến Đức, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn
đă cho tăng cường các Trung đoàn BB 44, 53, Liên đoàn 21 BĐQ tái
chiếm Kiến Đức và nhổ các chốt Cộng quân đến cuối năm 1973 th́ BV
phải rút sau khi bị thiệt hại nặng.
Chúng tôi có tiếp xúc với vị Đại uư coi về Tiếp liệu
(thuộc Trung Tâm Yểm trợ tiếp vận Quảng Đức),
ông này cho biết Trung tâm được cung cấp dự trữ đạn cho ba tháng mùa
mưa và 30 ngày tiếp liệu, coi như đạn đủ xài trong bốn tháng. Trung
Tâm có nhiệm vụ yểm trợ cho vùng ba biên giới Miên, Nam Kỳ, Trung Kỳ
(nay là Quảng Đức). Trong suốt trận chiến , QK-2 đă xử dụng gần 100
ngàn quả đạn đại bác và súng cối của Trung Tâm, nhờ yểm trợ tối đa
của pháo binh nên Cộng quân bị đẩy lui. Đại Úy tiếp liệu này cho
biết về sau Bộ Tổng tham mưu cử người lên điều tra, họ hỏi tại sao
xử dụng nhiều quá vậy? ông Đại uư bèn đưa lệnh hành quân của đơn vị
trưởng ra, mặc dù có giấy tờ chứng minh nhưng Trung tâm cũng bị Bộ
TTM khiển trách. Sau đó TTM cắt giảm, không cho bổ sung, từ nay
không cho bắn quay phá địch, cấp số bổ sung chỉ c̣n một nửa.
Câu truyện trên đây cho ta thấy ngay từ đầu 1974 VNCH đă bắt đầu có
sự thiếu hụt về tiếp liệu nhất là đạn dược.
Như chúng tôi đă nói ở trên theo ông Cao Văn Viên từ tháng 7-1974
cho tới tháng 1975 hoả lực của VNCH giảm đi 60%.
Theo sử gia Bill Laurie, so với năm 1972, trong năm 1975 tỉ lệ giảm
cấp số đạn trong một ngày:
Đạn 105 ly 180 viên giảm c̣n 10 viên
(giảm 94%).
Đạn 155ly 150 viên giảm c̣n 5 viên
(giảm 97%).
Đạn 175 ly 30 viên giảm c̣n 3 viên
(giảm 90%).
Mọi thứ đă bị cắt giảm tới xương tủy.
Như vậy từ cuối năm 1973 và đầu năm 1974 VNCH đă gặp khó khăn về
tiếp liệu, thiếu thốn đạn dược và nhất là từ tháng 7-1974 trở đi,
theo ông Cao Văn Viên trước 73 mỗi tháng trung b́nh xử dụng 60 hoặc
70 ngàn tấn, từ giữa năm 1974 chỉ c̣n xử dụng 19 ngàn tấn một tháng.
Một điều ta không thể ngờ là Bắc Việt hoàn toàn không hay biết ǵ về
t́nh trạng nguy khốn của Việt Nam Cộng Hoà đă gần hết đạn.
Theo hồi kư của Văn Tiến Dũng đă nêu trên (trang
28, 29), Hội nghị Bộ Chính
Trị Bắc Việt từ 18-12-1974 tới 8-1-1975 để lên kế hoạch chiến lược
xâm chiếm miền Nam, Bộ Chính trị nêu quyết tâm.
“Động viên nỗ lực lớn nhất của
toàn Đảng, toàn quân , toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian
1975-1976 đẩy mạnh quân sự, chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại
giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện . . . . . tạo điêu kiện
chín mùi tiến hành tổng công kích, Tổng khởi nghĩa….
Nguyên văn kế hoạch của Hà Nội đă được ghi nhận như sau:
Quyết tâm chiến lược của Bộ Chính
Trị được thể hiện trong kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976: năm
1975, tranh thủ bất ngờ, tiến công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện
để năm 1976 tiến hành Tổng công kích-Tổng khởi nghĩa, giải phóng
hoàn toàn miền Nam.
Như đă nói trên VNCH chỉ c̣n đủ đạn dược cho quân đội xử dụng tới
tháng tháng 4 hoặc 5- 1975, sau đó các kho đạn sẽ hết sạch không c̣n
đến một viên, ấy thế mà Hà Nội đă thảo kế hoạch xâm lăng miền Nam
trong 2 năm 1975, 1976 nghĩa là họ phải bỏ hai năm mới chiếm được
VNCH th́ ta đủ thấy t́nh báo chiến lược của Bắc Việt “gà mờ” tới cỡ
nào? Trong Việt Nam Thiên Sử truyền h́nh
(Vietnam History by Television)
Văn Tiến Dũng trả lời phỏng vấn ngoại quốc cũng nói y như thế, hắn
nói Bộ Chính Trị đă dự trù kế hoạch 2 năm để xâm chiếm miền Nam.
Việt Cộng cho người ŕnh rập nghe ngóng nhân dân, đưa nằm vùng vào
lănh thổ quốc gia làm gián điệp th́ rất giỏi nhưng họ chỉ lấy được
những tin vặt về chiến thuật chứ không có khả năng thu lượm những
tin tức có tầm vóc chiến lược bằng cứ là quân đội VNCH đă gần “hết
đạn” mà họ không hề hay biết.
Cho tới cuối 1974, họ mới biết một cách phong phanh quân đội miền
Nam suy yếu .
Tham Mưu phó quân đội CSBV viết về hậu quả trận Thượng Đức:
. . . . . . . .
Trận Thượng Đức chúng tỏ một cách rơ ràng quân đội Sài G̣n đă yếu
nhiều, chưa bao giờ không lực cũng như khả năng di động của bộ binh
địch xuống thấp như vậy. Một thiếu tá bộ binh thuộc quân đội Sài G̣n
bị bắt trong trận đánh này đă khai rằng họ không có đủ phi cơ để
chuyển vận binh sĩ và gặp nhiều khó khăn trong khi chuyển quân. Nói
tóm lại trận Nông Sơn và Thượng Đức khiến chúng tôi tin tưởng một
cách nhất định rằng quân đội ta mạnh hơn địch. Điều này ảnh hưởng
không nhỏ đến những suy nghĩ chiến lược của chúng tôi.
Nguyễn
Đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 695.
Trận Thượng Đức diễn ra cuối 1974, chỉ c̣n vài tháng nữa là quân đội
miền Nam sẽ hết đạn, khi ấy dẫu có vét kho cũng không c̣n đến một
viên !!! thế mà Bắc Việt chỉ mới biết phong phanh rằng Quân đội Sài
G̣n đă yếu nhiều. Nếu t́nh báo chiến lược Cộng Sản đă biết được rằng
VNCH đă gặp nhiều khó khăn về đạn dược nhất là đạn đại bác từ đầu
năm 1974 th́ Hà Nội đă mở cuộc tấn công miền Nam từ hồi ấy, nghĩa là
trước cuộc tấn công Ban Mê Thuột một năm. Hoặc ít nhất họ đă mở cuộc
tấn công qui mô VNCH từ giữa năm 1974, nghĩa là trước trận đánh Ban
Mê Thuột 8 tháng, khi mà hoả lực của Quân đội miền Nam bị sút giảm
tới 60%.
Hà Nội chỉ thực sự biết miền Nam hết đạn khoảng thượng tuần tháng
3-1975, sau khi chiếm Ban Mê Thuột xong ngày 11-3, hôm sau 12-3 Hạ
Viện Mỹ biểu quyết cắt 300 triệu Mỹ kim quân viện bổ túc cho VNCH,
báo chí đài phát thanh loan báo khắp nơi và nhất là khi miền Trung
di tản náo loạn cả lên th́ họ mới biết miền Nam đă tới lúc kiệt quệ
về tiếp liệu. Nhất là sau khi hai Quân khu 1 và 2 của miền Nam sụp
đổ, Hà Nội vội vă hối hả đưa nốt 3 Sư đoàn tổng trừ bị
(thuộc Quân đoàn 1)
ở ngoài Bắc vào Nam để đánh chiếm Sài G̣n trước mùa mưa, toàn bộ lực
lượng Bắc Việt trong chiến dịch Hồ Chí Minh vào khoảng gần 20 Sư
đoàn.
Trong phần nói về Hội Nghị Bộ Chính Trị lên kế hoạch hai năm xâm
chiếm miền Nam như đă nói ở trên Văn Tiến Dũng có ghi thêm trong hồi
kư.
“Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản hai
năm, trong kế hoạch năm 1975, Bộ Chính Trị c̣n dự kiến một phương án
khác và một phương hướng hành động cực kỳ quan trọng là : Nếu thời
cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, th́ lập tức giải phóng miền Nam
trong năm 1975”
(Trang
29)
Sự thực th́ Văn tiến Dũng viết thêm đoạn này vào cho nó đỡ “quê”, ra
cái điều Đảng ta đă đoán biết trước tất cả!! Thật là vô lư khi một
kế hoạch chiến lược 2 năm (1975, 1976)
đă được Đại Hội Bộ Chính Trị
long trọng đề ra lại có thêm một câu tḥng :
Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 th́ lập tức giải phóng
miền Nam trong năm 1975.
Sự thật thời cơ đă đến với CSBV từ đầu hoặc giữa năm 1974 khi VNCH
thiếu thốn về tiếp liệu do cắt giảm quân viện nhưng sở t́nh báo
chiến lược CSBV đă quá “gà chết” khiến Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng
phải bị mất mặt, chẳng thế mà họ không bao giờ nói đến t́nh trạng
hết đạn của VNCH.
Hai anh “gà mờ” gặp nhau trong trận đọ sức cuối cùng, anh này tưởng
anh kia yếu, anh kia lại tưởng anh này mạnh, thế rồi cũng có kẻ
thắng người thua, kẻ thắng nhờ yếu tố “Hên”, yếu tố “Trời cho”,
chẳng khác nào “bất chiến tự nhiên thành”.
Trọng Đạt
Tài Liệu Tham Khảo.
- Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập,
1963-1975, Làng Văn 2001.
- Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt
Nam, 1963-1975, Đại Nam, 2000.
- Trận Đông Phong: Việt Nam Cộng Hoà, 10 Ngày Cuối Cùng, Nam Việt
2006.
- Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, Cali
1988.
- Phạm Huấn: Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, Cali 1987.
- Trần Văn Nhựt: Cuộc Chiến Dang Dở, nhà xuất bản An Lộc 2003.
- Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh xuất bản,
2005.
- Văn Tiến Dũng: Đại Thắng Mùa Xuân, nhà xuất bản Quân đội Nhân dân,
Hà Nội 2005.
- Đinh Văn Thiên: Một Số Trận Đánh Trước Cửa Ngơ Sài G̣n, nhà xuất
bản Quân Đôïi Nhân Dân, Hà Nội 2005.
- Dương Đ́nh Lập, Trần Minh Cao: Cuộc Tổng Tiến Công và Nổi Dậy Mùa
Xuân 1975, nhà xuất bản tổng hợp TPHCM 2005.
- Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề
Nhắc Tới Texas 1991.
- Lâm Quang Thi: Autopsy The Death Of South Vietnam, Sphinx
publishing 1986.
- The World Almanac Of The VietNam War: John S.Bowman, General
editor, A Bison book.
- Stanley Karnov: Vietnam - A History, Penguin books 1991.
- Marilyn B Young, John J. Fitzgerald, A.Tom Grunfeld: The Vietnam
War, A History In Documents, Oxford University press 2002.
- Melvin R Laird Nói Ǵ Về Cuộc Chiền Tranh Ở Việt Nam, điện báo
Talawas tháng 3-2006.
- Bill Laurie: Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Giai Đoạn 1968-1975,
Nguyễn Tiến Việt dịch, Người Việt Dallas 10-10-2007.
- Phạm Bá Hoa: Cuộc Rút Quân Trên Đường Số 7, Người Việt Dallas,
19-3-2004.
- Phỏng Vấn Phụ Tá Đặc Biệt Của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Ông
Nguyễn Văn Ngân Phụ Tá Đặc Biệt TT Nguyễn Văn Thiệu Lên Tiếng Trong
Cuộc Phỏng Vấn Dành Riêng Cho Trần Phong Vũ. Người Việt Dallas
18-10-2006
- Việt Nguyên: 32 Năm Lật Trang Sử Cũ, Người Việt Dallas 25-4-2007.
- Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam, Người Việt Dallas 21-6-2006.
- Lewis Sorley: Lịch Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Trần Đỗ Cung
dịch, Người Việt Dallas 22-11-2006.
- Nguyễn Định: Ban Mê Thụôt Ngày Đầu Cuộc Chiến, bút kư, trang web.
|