LTS: Sau 30 Tháng
Tư, trong những thời gian đầu, Cộng Sản Việt Nam vẫn c̣n giữ lại
cái ảo ảnh gọi là “Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt
Nam” như ra vẻ họ là một thực thể độc lập không bị Cộng Sản Hà
Nội giựt dây. Một trong những người - có thể gọi là ngây thơ -
sống mù ḷa trong ảo ảnh đó là ông Trương Như Tảng, một luật sư.
Bài hồi kư dưới đây của Luật Sư Đoàn Thanh Liêm, một nhà tranh
đấu cho dân chủ từng bị tù nhiều năm nay sống ở Hoa Kỳ, kể về
buổi họp cuối cùng với ông “Bộ trưởng Bộ Tư Pháp Chánh Phủ Cách
Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam.” Xin giới thiệu với quư độc giả.
Đầu năm 1976, tôi tham gia cộng
tác với Trung Tâm Nghiên Cứu Luật Pháp thuộc Bộ Tư Pháp trong
Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền
Nam. Bộ trưởng là ông Trương Như Tảng.
Người trực tiếp điều hành bộ môn Tư Pháp của trung tâm này là
Luật Sư Nguyễn Long. Nhóm chúng tôi trong bộ môn này hầu hết là
các luật sư và một vài thẩm phán đă từng hành nghề tại miền Nam, mà không phải đi học tập cải tạo.
Tất cả chừng 30 người, trong đó có hai cựu thủ lănh Luật Sư Đoàn
Ṭa Thượng Thẩm Saigon là Luật Sư Hồ Tri Châu, và Luật Sư Nguyễn
Ngọc San, có khoa trưởng Đại Học Luật Khoa Huế là Luật Sư Nguyễn
Sỹ Hải, cựu bộ trưởng lao động là Nguyễn Lê Giang v.v...
đó là những vị niên trưởng trong giới
luật gia miền Nam chúng tôi từ hồi trước 1975.
Chỉ có duy nhất 2 người từ ngoài
Bắc trở về miền Nam cùng tham gia với nhóm chúng tôi, đó là ông
Phạm Ngọc Thuần và bà vợ là Bùi Thị Cẩm. Ông Thuần đă có thời
làm đại sứ tại Đông Đức và là bào huynh của ông Phạm Ngọc Thảo,
người được coi là một thứ “t́nh báo chiến lược” do ông Lê Duẩn
cài lại trong miền Nam.
Chúng tôi làm việc theo tinh thần
tự nguyện, chứ không hề được hưởng một quy chế nào, và dĩ nhiên
là chẳng được lănh lương hay trợ cấp ǵ hết. Bởi lẽ chính Chánh
Phủ Cách Mạng Lâm Thời lúc đó cũng chẳng có quyền hành ǵ, v́
mọi quyết định quan trọng th́ đều do giới lănh đạo ở Hà Nội phụ
trách trông coi hết. Biết rơ cái tư thế chênh vênh như vậy, mà
chúng tôi vẫn phải chui đầu vào cơ sở này, v́ dẫu sao có được
một chỗ hội họp gặp gỡ, bàn thảo với nhau, th́ vẫn hơn là lêu
bêu đi phất phơ ngoài đường phố, ngày này qua tháng khác. Đó là
chưa kể c̣n bị nḥm ngó theo dơi, với nghi kỵ khó khăn từ lớp
cán bộ tại cơ sở phường khóm, nơi địa phương cư ngụ của ḿnh.
Tuy ở cái thế tạm bợ như vậy,
chúng tôi vẫn cố gắng cùng nhau t́m hiểu, nghiên cứu theo những
đề tài do trưởng bộ môn là Luật Sư Nguyễn Long truyền đạt. Đại
khái như t́m kiếm tài liệu về vấn đề biên giới; góp phần soạn
thảo cuốn “Tự điển danh từ luật pháp-kinh tế-tài chánh”; góp
phần vào việc soạn thảo bản dự thảo Hiến Pháp mới cho nước Việt
Nam thống nhất v.v... Vào cái thời gian đầy xáo trộn, căng thẳng
ngột ngạt với sự nghi kỵ kềm sát của ngành an ninh bao trùm lên
cả xă hội miền Nam hồi đó, chúng tôi phải hết sức cảnh giác,
phải giữ kẽ trong mọi cử chỉ, lời nói của ḿnh. Trong hoàn cảnh
oái oăm như vậy, công việc nghiên cứu trao đổi chuyên môn về
luật pháp chung với các đồng nghiệp vốn đă quen biết nhau từ lâu,
quả là một lối thoát tương đối an toàn cho giới luật gia miền Nam chúng tôi.
Tôi vẫn c̣n nhớ lúc nhóm chúng tôi
phụ trách mục “Quyền lợi và nghĩa vụ của người công dân” là một
phần quan trọng trong bản dự thảo Hiến Pháp, th́ phải tham khảo
các bản Hiến Pháp của các nước xă hội chủ nghĩa khác. Chúng tôi
phải chia nhau đi ra thư viện để chép các bản văn Hiến Pháp đó
vốn đă được xuất bản ở ngoài Bắc hồi các năm 1958-59. Phần lớn
các bản Hiến Pháp này được ban hành vào đầu thập niên 1950 ở
Đông Âu, nên tương đối c̣n thông thoáng, cởi mở khiến chúng tôi
có thể dễ dàng trưng dẫn để làm cơ sở tham khảo cho lập trường
tương đối tiến bộ của ḿnh. Công việc đang tiến hành, th́ văn
pḥng Quốc Hội từ ngoài Bắc lại gửi vào cho chúng tôi một lô
những bản Hiến Pháp mới ban hành ở Đông Âu vào đầu thập niên
1970. Tra cứu các bản văn mới này chỉ được phổ biến dưới dạng in
roneo, chúng tôi thấy rơ là so với các bản Hiến Pháp cũ hồi đầu
thập niên 50, th́ các điều khoản trong các bản Hiến Pháp mới nói
về quyền lợi và nghĩa vụ người công dân lại có phần ngặt nghèo,
hạn chế o ép hơn rất nhiều. Do vậy mà chúng tôi lại vẫn dựa vào
tinh thần cởi mở tiến bộ của các Hiến Pháp cũ hơn là vào các
Hiến Pháp mới đó. Sự đồng thuận này chứng tỏ rằng giới luật gia
miền Nam chúng tôi vẫn c̣n giữ được tinh thần dân chủ đă được
phổ cập tại nhiều quốc gia trên thế giới kể từ sau Thế Chiến Thứ
Hai kết thúc và nhiều nước đă thoát được chế độ thực dân nô lệ
và tái lập được chủ quyền quốc gia của riêng ḿnh.
Vào giữa năm 1976, sau cuộc bàu cử
Quốc Hội trên toàn quốc, th́ đảng cộng sản cho tiến hành việc
thành lập chính phủ thống nhất chung cho cả hai miền Nam Bắc. Và
trước khi phái đoàn Chánh Phủ Cách Mạng Miền Nam ra Ha Nội, để
cùng với chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa ở miền Bắc hoàn
thành tiến tŕnh thống nhất này, th́ Bộ Trưởng Trương Như Tảng
yêu cầu chúng tôi soạn thảo bản văn về “Nguyện vọng tâm tư của
giới luật gia miền Nam” để bộ trưởng có thêm tài liệu tŕnh bày
với chính phủ mới. Và chúng tôi đă hoàn thành tài liệu này rồi
đệ tŕnh cho văn pḥng bộ trưởng. Sau khi đă đọc bản nguyện vọng
này, th́ bộ trưởng đă tới họp với chúng tôi tại trụ sở của Trung
Tâm Nghiên Cứu Luật Pháp hồi đó tọa lạc tại góc đường Phan Đ́nh
Phùng và Pasteur, đó là cơ sở cũ của Tham Chính Viện thời Việt
Nam Cộng Ḥa.
Sau khi nghe ư kiến của mấy vị
niên trưởng của nhóm luật gia chúng tôi, th́ bộ trưởng đă trấn
an anh chị em chúng tôi đại để như sau:
“Các anh chị em
luật gia hiện cộng tác với chúng tôi trong Bộ Tư Pháp này đều là
‘vốn quư của đất nước’, do vậy mà nhà nước cách mạng sẽ t́m cách
sử dụng đúng mức cái nguồn vốn này. Tôi xin đoan chắc với quư
anh chị em là bây giờ ta có ḥa b́nh rồi, th́ trong chánh phủ
mới sẽ có Bộ Tư Pháp để phụ trách quản lư toàn bộ khối công tác
thuộc lănh vực pháp lư, chứ không như trong thời kỳ chiến tranh,
th́ bộ máy nhà nước đă bị giản lược đi rất nhiều, để dành ưu
tiên cho nhu cầu của chiến trường. Như vậy là giới luật gia
chúng ta sẽ có chỗ đứng, có vị trí xứng đáng trong guồng máy nhà
nước. Anh chị em có thể chọn phục vụ trong ngành thẩm phán hay
làm luật sư tùy theo sở thích của mỗi người v.v...”
Nghe bộ trưởng trấn an như vậy,
hầu hết chúng tôi đều thở phào nhẹ nhơm, với sự tin tưởng là
trong tương lai sắp đến, giới luật gia miền Nam sẽ có công việc làm tương xứng
với khả năng chuyên môn của ḿnh. Cuộc sống như vậy sẽ lần hồi
đi vào giai đoạn ổn định, gia đ́nh con cái bớt được nỗi hoang
mang xáo trộn, như đă bắt đầu nảy sinh từ khi chế độ miền Nam
sụp đổ vào ngày 30 Tháng Tư 1975.
Và rồi ông bộ trưởng cùng với phái
đoàn Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam ra họp ở Hà Nội. Khoảng một tuần
lễ sau, th́ chúng tôi theo dơi sự tiến triển của t́nh h́nh thành
lập chính phủ thống nhất bằng cách nghe đài phát thanh và rồi
đọc báo hằng ngày. Và cuối cùng chúng tôi thật kinh ngạc khi
được thấy rơ ràng là “Trong thành phần
nội các của chính phủ thống nhất vẫn không hề có Bộ Tư Pháp, như
ông bộ trưởng đă hứa với anh chị em chúng tôi mới cách nay có
mấy bữa. Mà chúng tôi cũng không hề thấy ông bộ trưởng được trao
phó một nhiệm vụ nào trong thành phần chánh phủ mới nữa.”
Có những tin đồn là nhiều nhân vật trong chánh phủ miền Nam như
ông bộ trưởng đă bị coi là “thất sủng”, bị gạt ra ŕa, không c̣n
giữ được một địa vị nào trong cơ cấu mới của guồng máy nhà nước
nữa rồi v.v...
Kết cục là sau đó, không bao giờ
chúng tôi được gặp lại ông Bộ Trưởng Trương Như Tảng nữa.
Mà chúng tôi cũng chẳng hề được thông
báo chính thức về các diễn biến trong nôi bộ của bản thân Bộ Tư
Pháp, cũng như của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt
Nam ǵ cả. Và cuối cùng vài
tháng sau đó, Trung Tâm Nghiên Cứu Luật Pháp của Bộ Tư Pháp cũng
không kèn, không trống mà tự động giải thể, lặng lẽ tan hàng.
Điều này xét cho kỹ, th́ cũng không có ǵ lạ, bởi lẽ cả Chánh
Phủ Cách Mạng Lâm Thời, lẫn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt
Nam, hồi mấy năm trước đă được “tưng bừng khai trương” cho cả
quốc tế biết đến, th́ vào cuối năm 1976 này, tất cả đều đă được
“âm thầm dẹp tiệm” theo đúng kiểu “vắt chanh bỏ vỏ”, “qua
sông bỏ đ̣”; đó là những chuyện ta thường thấy trong lịch sử
con người từ xưa đến nay mà thôi.
Mấy năm sau, th́ chính bản thân Bộ
Trưởng Trương Như Tảng cũng đă phải vượt biên, như bao nhiêu
“thuyền nhân” khác từ miền Nam trốn thoát khỏi chế độ hà khắc
cộng sản. Và có thể nói là “Bộ Trưởng Trương Như Tảng là một
nhân vật cao cấp nhất trong hàng ngũ lănh đạo cộng sản đă phải
liều ḿnh xuống ghe vượt thoát khỏi Việt Nam”. Bạn đọc muốn biết thêm về
chuyện này, th́ có thể t́m đọc ngay cuốn hồi kư của ông viết
bằng tiếng Pháp với nhan đề “Memoires d'un Vietcong”.
Sách có cả bản dịch ra tiếng Anh nữa.
Little Saigon,
Tháng Mười Hai , 2007
Đoàn Thanh Liêm