Xin mời đọc thêm:
Hoàng Sa ...
Tháng Giêng, Nhớ Hải Chiến Hoàng Sa (1-1974), VNCH-CSTQ
Mường Giang

- Riêng tặng Lê Tiện Diện, Nguyễn Văn Sáng, Ung văn Của và
Nguyễn Văn Tạo, Cùng Anh Chi Trần Minh Tâm (Đẹp -Houston) --
Không kể thời Bắc thuộc, trong ḍng sử VN ta thấy có một vài
vua chúa v́ muốn giữ chiếc ngai vàng cho riêng ḿnh, nên năm
1405 Hồ Quư Ly dâng cho giặc Minh đất Cổ Lâu (Lạng Sơn), Mạc
Đăng Dung nhượng vùng La Phù vào năm 1540 và các chúa Trịnh
cho giặc Bắc nhiều hang động của nước Nam, dọc theo biên
giới Hoa Việt. Thời cận sử, từ năm 1930 cho tới ngày nay,
cọng đảng đệ tam quốc tế và Hồ Chí Minh dám công khai nhượng
bán hết đất biên giới, tới biển đảo cho giặc Tàu, mà nay
người nào cũng đều biết. Vậy mà lúc nào, cũng nói Trần Thiểm
B́nh, Hồ Quư Ly, Lê Chiêu Thống.. .cơng rắn cắn gà nhà, rước
voi về dày mă tổ. Chỉ riêng thành tích bán nước cho giặc Tàu,
th́ Hồ Chí Minh và đảng VC, c̣n tệ mạt gấp ngàn vạn lần,
những nhân vật bị đời bêu rếu. Tóm lại, ai nói hay nghĩ thế
nào cũng được nhưng chắc chắc với một chánh quyền tham tàn,
bạo ngược, hại dân và nhất là công khai bán nước và quốc thể
cho ngoại bang, nên dù VC có được Trung Cộng hay Hoa Kỳ
chống lưng, bảo vệ..th́ sự sụp đổ của chế độ thối nát trên,
nay đang sơn son thiếp vàng để bịp người, cũng chỉ là một
lâu đài trên cát, chờ giờ sụp đổ như bao thiên đàng xă nghĩa
đă tan tành, để bọn chóp bu sâu bọ đội lớp người đang uống
máu dân đen khổ đau nhục hận, bị đồng bào trong và ngoài
nước, lôi ra trước quốc dân và Ṭa Án lịch sử đền tội. Mới
đây báo chí Trung Cộng đăng tin giặc Tàu đă chiếm vùng núi
Lao Sơn tại biên giới Hoa Việt, trong cuộc chiến giữa hai
nước từ 1979-1985. Chuyện này cũng chẳng có ǵ lạ, v́ mấy
năm qua, dư luận báo chí trong và ngoài nước đă không ngớt
tố cáo Việt Cộng v́ quyền lợi đảng và cá nhân của chóp bu,
nên đă đem rất nhiều đất biên giới, đảo, biển và vùng đánh
cá để dâng hiến cho chủ. Tóm lại đó chỉ là lấy vải the che
mắt thánh, ḥng chạy tội với quốc dân đồng bào mà thôi.
Tháng 7-1954, ngay khi chữ kư trên văn bản ngưng bắn tại
Genève, chưa ráo mực, th́ Hồ Chí Minh đă nghĩ ngay tới
chuyện chiếm miền Nam, để trọn gói vơ vét và toàn quyền trên
ngai vàng máu lệ. Do ư đồ trên, Hồ đă gài lại một số lớn cán
binh bộ đội nằm vùng khắp lănh thổ VNCH, khi có lệnh tập kết.
Để chuyển quân cũng như tiếp tế, Hồ mở con đường chiến lược
Trường Sơn trên bộ, xuyên qua lănh thổ Lào và Kampuchia. Về
mặt biển, Hồ thành lập đường 559B giao cho Đồng văn Cống chỉ
huy, và dĩ nhiên, muốn an toàn, đầu tiên là phải nhổ tuyệt
hai tiền đồn của QLVNCH trấn đóng trên quần đảo Hoàng Sa-Trường
Sa, đất đai thuộc lănh thổ từ lâu đời của dân tộc Đại Việt,
đă được tổ tiên bảo toàn từ thời Hậu Lê, Nhà Nguyễn.. nằm
trong Đông Hải.
Theo bản tin của UPI-AFB ngày 23-9-1958, được báo chí của
Trung Cộng lẫn Việt Cộng đăng tải. Những tài liệu này, hiện
vẫn được lưu trữ tại các thư viện quốc tế như Luân Đôn,
Paris, Hoa Thịnh Đón, Bắc Kinh...kể cả Hà Nội. Nhờ đó, ta
mới biết được, vào ngày 14-9-1958, Phạm Văn Đồng lúc đó là
thủ tướng,theo lệnh của chủ tịch nước và đảng VC là Hồ Chí
Minh, đả cam kết với Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Cộng, bằng
văn kiện xác quyết như sau 'Chính phủ VNDCCH, tôn trọng
quyết định, lănh hải 12 hải lư cũng như hai quần đảo Hoàng
Sa-Trường Sa, là Tây Sa-Nam Sa, của Trung Cộng'. Ngày
22-9-1958, Đại sứ VC tại Bắc Kinh là Nguyễn Khang, dâng văn
kiện xác nhận điều trên, do Phạm Văn Đồng kư, lên Thiên
Triều. Ngay cả khi đă cướp chiếm được hoàn toàn miền Nam VN,
vào tháng 5-1976, trên tờ Sài G̣n Giải Phóng của VC nằm vùng
Ngô Công Đức, Lư Quư Chung..vẫn c̣n đăng lời xác nhận của
đảng VC, là Hoàng Sa-Trường Sa là của Trung Cộng. Khôi hài
hơn, VC nói, v́ ta và Tàu sông liền sông, núi dính núi, nên
Hoàng Sa-Trường Sa, của ai cũng thế thôi, nên VC muốn lấy
lại đảo, lúc nào Trung Cộng vẫn sẵn sàng giao trả '. Luận
điệu trên, rơ ràng VC đă xác nhận VN là thuộc địa của Tàu
Cộng. Dù ngày 14-3-1988, VC và Trung Cộng đă giao tranh đẫm
máu tại Trường Sa. ngay sau đó, trên tờ Nhân Dân, số ra ngày
26-4-1988, VC vẫn xác nhận sự kiện Hồ Chí Minh bán hai đảo
cho Tàu năm 1958 là đúng. Bởi có vậy, Trung Cộng mới viện
trợ súng đạn, gạo tiền và cả triệu quân, để VC đánh chiếm
VNCH từ 1955-1975.
1-QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VN:
Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo chính sử cũng
như những tài liệu của ngoại quốc như Đại Nam thực lục, Đại
Nam nhất thống chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn, Hoàng Việt
địa dư chí thời vua Minh Mạng, Quảng Ngăi tỉnh trí của các
Tuần Vũ Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Đ́nh Chi, Quảng Ngăi nhất
thống chí của Lê Ngại đều đề cập tới và xác nhận đó lănh thổ
lâu đời của Đại Việt. Với các tác phẩm ngoại quốc, có nhiều
thiên kư sự của các giáo sĩ Thiên Chúa trên tàu Amphitrite,
viết năm 1701, của Đô Đốc Pháp tên là D'Estaing viết năm
1768 rằng: 'Sự giao thông giữa đất liền và các đảo Paracel (Hoàng
Sa) rất nguy hiểm, khó khăn nhưng Người Đại Việt chỉ dùng
các thuyền nhỏ, lại có thể đi lại dễ dàng. 'Nhưng quan trọng
nhất, là tác phẩm viết về Hoàng Sa của Đổ Bá tự Công Đạo,
viết năm Chính Ḥa thứ 7 (1686), trong đó có bản đồ Băi Cát
Vàng: 'Đảo phỏng chừng 600 dặm chiều dài và 20 dặm bề ngang.
Vị trí nằm giữa cửa Đại Chiêm và Quyết Mông. Hằng năm vào
cuối mùa đông, các chúa Nguyễn Đàng Trong, cho Hải Đội Hoàng
Sa gồm 18 chiến thuyền đến nơi tuần trú. 'Năm 1776, trong
tác phẩm 'Phủ Biên tạp lục', Lê Quư Đôn đă viết một cách rơ
ràng: 'Trước đây, các Chúa Nguyễn đă đặt Đội Hoàng Sa 70
suất, tuyển lính tại Xă An Vĩnh, cắt phiên mỗi năm vào tháng
2 ra đi, mang theo lương thực 6 tháng. Dùng loại thuyền câu
nhỏ, gồm 5 chiếc, mất 3 ngày 3 đêm, từ đất liền tới đảo.'
Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lănh thổ của VN ngay khi người
Việt từ đàng ngoài tới định cư tại Phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng
Ngăi vào khoảng thế kỷ thứ XV sau tây lịch. Hai qua72n đảo
trên nằm ngoài khơi Đông Hải: Hoàng Sa ở phía bắc và Trường
Sa nằm về cực nam gần Côn Đảo.
* QUẦN ĐẢO HOÀNG SA:
Nằm giữa hai kinh tuyến đông 111-112 độ và vĩ tuyến bắc 15
độ 45 - 17 độ 05. Đây là một chuổi đảo gồm 120 ḥn lớn nhỏ
nhưng qui tụ thành bốn nhóm chính. Muốn tới đảo, nếu khởi
hành từ Đà Nẳng, bằng tau của Hải quân phải mất 10 giờ (chừng
170 hải lư), theo hướng 083. Bốn nhóm đảo chính là:
- NHÓM NGUYỆT THIỀM (CROISSANT) : gồm các đảo Cam Tuyền hay
Hửu Nhật (Robert), h́nh tṛn, diện tích om2032, là đảo san
hô nên có nhiều phốt phát. Toàn đảo chỉ có chim hải âu trú
ngụ, tuyệt nhiên không có bóng người. Đảo Quang Ḥa Đông
(Duncan), diện tích 0 km2 48, phía đông đảo là rừng cây phốt
phát và nhàn nhàn, phía tây toàn san hô là mơi trú ngụ của
chim hải âu. Đảo Quang Ḥa Tây (Palon Island), h́nh tṛn,
diện tích 0km241, trên đảo toàn cây nhàn nhàn và phốt phát,
đảo toàn san hô chỉ có chim ở. Đảo Dung Mộng (Drummond) h́nh
bầu dục, diện tích 0km241, toàn đảo chỉ có nhàn nhàn và phốt
phát. Giữa đảo có một vùng đất rộng, thời Đệ 1 Cộng Ḥa
trước tháng 11-1963, Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến trấn
đóng tại đây để bảo vệ lănh thổ. Hiện trên đảo vẫn c̣ hai
ngôi mộ lính VNCH và 3 ngôi mộ cổ khác với mộ bia viết bằng
chữ Hán.
Trong số này quan trong nhất vẫn là đảo Hoàng Sa (Pattle) có
h́nh chữ nhật, chu vi 2100m, diện tích 0km230. Đảo nay đă
được khai phá từ lâu đời, nên có nhiều công tŕnh kiến trúc
như Đồn quân trú pḥng, Sở khí tượng, Hải đăng và cầu tàu để
các chiếm hạm Hải quân/VNCH cập bến. Trên đảo có một ngôi
miếu cổ thờ Bà Chúa Đảo và do một Trung đội Địa Phương Quân
thuộc Tiểu Khu Quảng Nam trấn đóng.
Đảo Vĩnh Lạc hay Quang Ảnh (Money) nằm biệt lập không thuộc
nhóm đảo Nguyệt Thiềm, h́nh bầu dục, diện tích 0, 50 km2.
Trên đảo toàn nhàn nhàn, phốt phát và một loại cây cao trên
5m, có trái như mít. Toàn đảo không có người ở.
Đảo Linh Côn (Lincoln) cũng năm biệt lập và đă bị Đài Loan
cưởng chiếm vào tháng 12-1946 khi Trung Hoa Dân Quốc, được
lệnh LHQ tới đảo giải giới quân Nhật đang trú đóng trên đảo.
- NHÓM TUYÊN ĐỨC (AMPHITRITE): cũng bị Đài Loan chiếm năm
1946, nằm về phía bắc đảo Hoàng Sa, gồm 16 đảo nhỏ , trong
số này quan trong nhất có đảo Phú Lâm (Woody Island), dài
3700m, rộng 2800m. Trên đảo có nhiều cây ăn trái như dừa,
được Nhật Bổn khai thác phốt phát từ thời Pháp thuộc. Năm
1950, Trung Cộng đánh đuổi Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Đài
Loan, chiếm lục địa và luôn các hải đảo của VN, xây phi
trường, làm đường xá, lập căn cứ quân sự. Đây là nơi giặc
Tàu phát xuất, tấn công chiếm các đảo của VN sau này.
* QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA: gồm chín đảo lớn nhỏ, nằm giữa hải
phận của các nước VN, Phi Luật Tân, Srawak. Trong số này đảo
lớn nhất là Trường Sa (Sparley) , dài 700m, ngang 200m, nằm
ở kinh tuyến 114 độ 25 và vĩ tuyến 19 độ 10 bắc. Đảo cấu tạo
bởi san hô, có nhiều hải âu trú ngụ, đẻ trứng rất to. Trên
đó có nhiều loại cây ăn trái vùng nhiệt đới như dừa, bàng,
mù u, nhàn nhàn, rau sam
* ĐỘI HOÀNG SA
Theo sử liệu cũng như nhân chứng, th́ buổi trước, Đội Hoàng
Sa tập trung tại Vươn Đồn, để luyện tập cũng như sửa chữa
thuyền bè và nhận lệnh thượng cấp. Trước khi xuất quân, Đội
đến Miếu Hoàng Sa tế lễ. Đây là một ngôi nhà gồm 3 gian, làm
bằng gỗ tốt, lợp tranh dầy, mặt Miếu quay ra cửa Sa Kỳ,
trước có 2 cây gạo cổ thụ. Trong Miếu thờ Một Bộ Xương Cá
Ông rất lớn. Theo người địa phương, hơn 300 năm về trước,
Ông lụy tại Hoàng Sa, nhưng đă được Hải Đội d́u về đất liền.
Sau ba năm chôn cất, những người lính, thỉnh cốt vào thờ
trong Miếu. Từ đó về sau, hằng năm vào tháng 6, khi những
người lính, măn phiên từ Hoàng Sa trở về, dân làng tổ chức
cúng lễ tại Miếu, gọi là 'Đánh Trống Tựu Xôi'.
Từ thị xă Quảng Ngăi, qua cầu Trà Khúc, bỏ quốc lộ 1, rẻ vào
quốc lộ 24B, ngang qua Làng Sơn Mỹ dưới chân Núi Thiên Ấn,
chừng 5 km, th́ rẽ vào một con đường đất đỏ, chạy giữa sông
Kinh và rừng dương sát biển. Đó là xă Tịnh Kỳ, thuộc Huyện
Sơn Tịnh, nơi khai sinh Hải Đội Hoàng Sa, khoảng mấy trăm về
trước, thời các Chúa Nguyễn, Nam Hà, thuộc Đại Việt. Theo
Quảng Ngăi địa dư chí, vùng đất này, trước năm 1898 thuộc
trấn B́nh Sơn. Năm Thành Thái thứ 10, tách ra thành 2 Huyện
B́nh Sơn và Sơn Tịnh.. Sau tháng 8-1945, khu Tịnh Kỳ được
hoàn thành bởi ba xă An Kỳ-An Vịnh và Kỳ Xuyên. Xưa vùng này
là một cù lao, nằm cách đất liền, phải dùng ghe vào các bến
Mỹ Khê, Chợ Mới, Sa Kỳ hay xa hơn là Thị Xă Quảng Ngăi và
các Thị Trấn Ba Gia, Đồng Ké, Sông Vê, Ba Tơ. Từ năm 1993,
qua việc xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất nên hải cảng Sa
Kỳ đă được mở rộng, đồng thời với con đường, chạy từ cầu Khê
Kỳ, qua Cửa Lở tới Kỳ Xuyên. Có lẽ do địa thế sông nước bao
quanh, nên từ mấy trăm năm về trước, Các Vị Chúa Nguyễn đă
chọn An Vĩnh làm căn cứ, đặt Hải Đội Hoàng Sa, với nhiệm vụ
bảo vệ hải đảo, cũng như khai thác các tài nguyên ngoài Đông
Hải. Đ́nh làng An Vĩnh trước đây rất đồ xộ, là nơi Xuân thu
nhị kỳ cúng tế những người lính Hoàng Sa, nay đả đổ nát, chỉ
c̣n lại Chiếc Cổng Tam Quan. Điều này đủ để minh chứng với
thế giới, việc Quần Đảo Hoàng Sa-Trường Sa là lănh thổ lâu
đời của Đại Việt. Người Tàu chỉ ỷ vào sức mạnh và tờ văn khế
bán nước của Phạm Văn Đồng năm 1958, để cướp chiếm nước ta,
như sau này chúng đă làm tại biên giới Việt Trung và Lănh
Hải trong Vịnh Bắc Việt.
Ở đây, hiện c̣n nhà thờ Cai Đôi Phạm Quang Ánh, là người
được Vua Gia Long cử ra Hoàng Sa năm 1815, đo đạc, khảo sát
lộ tŕnh và tổ chức Hải Đội. Ông được nhà Nguyễn phong chức
Thượng Đẳng Thần khi mất. Tóm lại, từ thời các Chúa Nguyễn
(1558-1783), nhà Tây Sơn (1788-1802), Nhà Nguyễn
(1802-1945), đă có Hải Đội Hoàng Sa. Đặc biệt, năm 1836,
Minh Mạng thứ 17, quần đảo Paracel hay băi cát vàng, được
Công Bộ, đặt tên là 'Bản Quốc Hải Cương Hoàng Sa Xứ, Tối thị
Hiểm Yếu'.
Từ năm 1954, Hoàng Sa là một đơn vị hành chánh thuộc tỉnh
Quảng Nam-VNCH, được Tiểu Đoàn 1/TQLC bảo vệ. Từ năm 1959
tới 1974, Đảo do các Đơn Vị DPQ/Quảng Nam trú đóng. Giống
như Quần Đảo Trường Sa ở phía Nam, cũng là một đơn vị hành
chánh, của tỉnh Phước Tuy và do DPQ của tỉnh này bảo vệ, cho
tới ngày
30-4-1975.
* TRUNG CỘNG CƯỚP CHIẾM HOÀNG SA *
Thật sự người Tàu chỉ chú ư tới hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa của VN từ đầu thế kỷ XX v́ dầu hỏa, khí đốt và vị
trí chiến lược của hai đảo trên. Sự tranh dành cướp chiếm
bắt đầu từ thời VN bị thực dân Pháp đô hộ, v́ mất chủ quyền
nên không ṿm binh lực để bảo vệ lănh thổ riêng của ḿnh.
- 1907 Tổng đốc Quảng Châu đ̣i chủ quyền trên đảo Hoàng Sa.
- 1909 Hải quân Nhà Thanh tới Hoàng Sa hai lần, cắm cờ trên
đảo và bắn 21 phát đạn đại bác để thị oai.
-Ngày 30-4-1921 chính quyền Quảng Đông, kư văn thư số 831 tự
động sáp nhập quần đảo Hoàng Sa của VN vào đảo Hải Nam nhưng
đă bị Triều đ́nh Huế phản đối dữ dội vào năm 1923.
- Năm 1933 , Pháp v́ bị báo chí trong nước phản đối dữ dội,
nên đă đem hải quân ra đánh đuổi quân Tàu, chiếm lại quần
đảo Hoàng Sa, lập đồn binh, cầu tàu, đài khí tượng trên hai
đảo chính Hoàng Sa, Trường Sa.
- Tháng 12/1946 Đài Loan lợi dụng việc giải giới Nhật, đă
chiếm đảo Phú Lâm trong nhóm Tuyên Đức trong quần đảo Hoàng
Sa. Đảo này lại lọt vào Trung Cộng khi Mao Trạch Đông chiếm
lục địa Trung Hoa.
- Ngày
4/12/1950
Chu Ân Lai lớn tiếng đ̣i hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
của VN.
- Năm 1956 Trung Cộng lén lút chiếm thêm đảo Linh Côn trong
quần đảo Hoàng Sa, đang thuộc chủ quyền VNCH.
- Ngày 21/12/1959 Hải quân VNCH với sự trợ chiến của Tiểu
đoàn 1 Thủy Chiến Lục Chiến, đă đánh Tàu Cộng, chiếm lại các
đảo Cam Tuyền, Duy Mộng, Quang Ḥa trong nhóm Nguyệt Thiềm,
bắt giữ 84 tù binh và 5 thuyền binh nguy trang tàu đánh cá.
Ngày 27/2/1959 Trung Cộng sau khi thua trận, đă ra thông cáo
mạt sát Chính phủ VNCH xâm phạm chủ quyền của Tàu, v́ chính
Hô Chí Minh cũng như Pham văn Đồng đă chính thức xác nhận
bằng văn kiện, là hai quần đảo trên qua tên Tây Sa, Nam Sa
là lănh thổ của Trung Hoa. Tuy nhiên để giữ ḥa khí giữa hai
nước, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă thả hết số tù binh trên về
nước.
Từ ngày
4-9-1958,
Trung Cộng vẽ bản đồ mới và tuyên bố lănh hải của ḿnh là 12
hải lư. Bản tuyên cáo này chỉ có Bắc Hàn công nhận đầu tiên.
Tại Bắc Việt, Hồ Chí Minh họp đảng để nhất trí và ban lệnh
cho Phạm Văn Đồng, kư nghị định công nhận ngày 14-9-1958.
Ngày 9-1-1974, Kissinger tới Bắc Kinh mật đàm với Mao Trạch
Đông, được cho coi văn kiện mà Phạm Văn Đồng đă kư xác nhận,
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VNCH, chính là hai
đảo Tây Sa-Nam Sa của Tàu. Theo văn kiện và tuyên cáo lănh
hải 12 hải lư, th́ chính VNCH đă chiếm đất của Trung Cộng,
từ năm 1958, do VC làm chứng và xác nhận. Được cơ hội vàng
ṛng, tên cáo già Kissinger tương kế tựu kế, nhân danh
Nixon, bật đèn xanh, cho Mao đánh VNCH, để thu hồi lănh thổ.
Tính đến năm 1974, khi xảy ra trận hải chiến Hoàng Sa, Hải
quân VNCH rất hùng hậu với quân số trên 40.000 người (sĩ
quan, hạ sĩ quan, binh sĩ), phân thành 5 vùng duyên hải và 2
vùng sông ng̣i. Hải quân có một hạm đội gồm 83 chiến hạm đủ
loại. Để bảo vệ các sông ng̣i, kênh rạch ở Nam phần, Hải
quân đă thành lập 4 Lực lượng dặc nhiệm hành quân lưu động,
gồm LL tuần thám 212, LL thủy bộ 211, LL trung ương 214 và
LL đặc nhiệm 99. Ngoài ra c̣n Lực lượng Duyên pḥng 213,
Liên đoàn Tuần giang, 28 Duyên đoàn, 20 Giang đoàn xung
phong, 3 Trung tâm Huấn Luyện Hải quân và nhiều căn cứ yểm
trợ khắp nơi. Khi xảy ra cuộc hải chiến, Đề đốc Trần Văn
Chơn là tư lệnh Hải quân. Tóm lại Hải quân VNCH rất hùng
mạnh trong vùng Đông Nam Á.
Ngay từ thời thượng cổ, người Tàu luôn kính nể dân Việt v́ 'họ
tuy ở núi mà rất thạo thủy tánh, lấy thuyền làm xe, lấy chèo
làm ngựa. Đến th́ như gió thoảng, đi th́ khó đuổi theo. Tính
t́nh khinh bạc, hiếu chiến, không bao giờ sợ chết và luôn
luôn quật khởi với kẻ thù'. Bởi vậy suốt ḍng lịch sử, Hải
quân Việt đă ba lần oanh liệt chiến thắng quân Tàu trên Bạch
Đằng Giang và sông Như Nguyệt. Sau năm 1975, nhiều tài liệu
mật nhất là của Mỹ được bạch hóa, trong đó có tương quan lực
lượng hải quân giữa Trung Cộng vùng đảo Hải Nam so với Hải
quân của VNCH th́ thua xa và rất yếu. T́nh trạng này tới năm
1979 t́nh trạng quân sự của Trung Cộng vẫn c̣n lạc hậu, cho
nên khi Đặng Tiểu B́nh muốn dạy VC một bài học về quân sự,
lại bị thằng đàn em phản bội đá gị lái. Nhưng dù bị Mỹ dùng
viện trợ ngăn cản, đâm sau lưng, Hải quân VNCH trong suốt
hai mươi năm (1955-1975), đă anh dũng giữ vững lănh hải của
đất nước một cách gần như trọn vẹn, trước sự ḍm ngó tranh
dành hải đảo của các nước Trung Cộng, Đài Loan, Phi Luật Tân,
Mă Lai Á, Nam Dương và Kampuchia..
Sau khi đạt được thắng lợi ngoại giao với Hoa Kỳ qua cặp
Nixon-Kissinger, đồng thời với sự đồng lơa của Việt Cộng,
nên giặc Tàu quyết tâm chiếm cho bằng được hai quần đảo
ngoài Đông Hải của VNCH. Dă tâm càng lớn từ năm 1973, sau
khi được tin các hảng dầu thăm ḍ cho biết vùng này có trữ
lượng rất lớn về dầu khí. Lúc đó VNCH cũng đă bắt đầu kư
nhiều hợp đồng, cho phép các hảng dầu tới hai vùng đảo trên
khai thác. Thế là ngày 11-1-1974, Trung Cộng lại tuyên bố
chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa. Ngày
19-1-1974, bất thần Trung Công tấn công Hoàng Sa, gây nên
trận hải chiến, tuy ngắn ngủi nhưng đẫm máu. Trung Cộng dù
chiếm được đảo nhưng thiệt hại gấp 3 lần VNCH.
Quần đảo Hoàng Sa thời Đệ I Cộng Ḥa (1955-1963) thuộc tỉnh
Quảng Nam. Cũng trong thời kỳ này, chính phủ đă ban hành sắc
lệnh số 134/NV ban hành năm 1956, sáp nhập quần đảo Trường
Sa, vào tỉnh Phước Tuy. Nghị định số 241/BNV ban hành ngày
14-12-1960,
do chính Tổng thống Diệm bổ nhiệm Nguyễn Bá Thước làm Phái
viên hành chánh Hoàng Sa. Lại phối trí Tiểu đoàn 1 TQLC trú
đóng khắp các đảo, để bảo vệ lănh thổ VNCH.
Như thường lệ, vào ngày 18-1-1974 gần tới Tết Âm Lịch Nhâm
Dần. Lúc đó Tuần Dương Hạm HQ.16 Lư Thường Kiệt, khởi hành
từ Đà Nẵng với công tác chuyển vận Đơn vị Địa Phương Quân
của Tiểu khu Quảng Nam, ra Hoàng Sa hoán đổi định kỳ. Trong
chuyến công tác trên, c̣n có một Phái đoàn khảo sát điạ chất,
gồm 7 sĩ quan công binh và hải quân. Ngoài ra c̣n có một
người Mỹ tên Gerald Kosh, là nhân viên tùng sự tại Ṭa Lănh
sự Hoa Kỳ Vùng I Chiến thuật. Trước khi vào đảo đổi quân,
tàu HQ.16 đă ṿng các đảo để kiểm soát, nên đă phát hiện
được nhiều tàu chiến của Trung Cộng sơn màu xanh ô liu, ngụy
trang như các tàu đánh cá, trang bị toàn vũ khí nặng. Trong
lúc đó c̣n có nhiều tàu chiến khác đang di chuyển từ đảo Phú
Lâm, tiến về các đảo Quang Ḥa, Duy Mộng và Hoàng Sa. Do
t́nh h́nh quá khẩn cấp, nên HQ.16 đă báo về Bộ Tư Lệnh Hải
Quân Vùng 1 Chiến thuật, nên được tăng cường thêm các Chiến
hạm như Khu trục hạm Trần Khánh Dư, Tuần dương hạm Trần B́nh
Trọng và Hộ tống hạm Nhật Tảo. Tuy nhiên tất cả đă được lệnh
Trung ương, chỉ pḥng thủ, không được tấn công trước khi
địch chưa khai hỏa.
Theo sử liệu, trong trận hải chiến này, lực lượng hải quân
của Trung Cộng rất hùng hậu v́ đă chuẩn bị trước. Thành phần
tham chiến gồm : Hộ tống hạm 271 Kronstadt, Đại Tá Vương Kỳ
Uy là hạm trưởng, tử thương. Hộ tống hạm 274 Kronstadt, Hạm
trưởng là Đại Tá Quan Đức. Đây cũng là Soái hạm, chỉ huy
trận chiến, gồm Tư lệnh là Đô Đốc Phương Quang Kính, cũng là
Phó tư lệnh của Hạm Đội Nam Hải. Sau trận đánh, toàn bộ chỉ
huy của Trung Cộng trên Soái Hạm này, gồm 2 Đề Đốc, 4 Đại Tá,
6 Trung Tá, 2 Thiếu tá và 7 Sĩ Quan Cấp uư, đều bị trúng đạn
đại bác tử thương. Trục lôi hạm 389, hạm trưởng là Trung Tá
Triệu Quát tử thương. Trục lôi hạm 396, Hạm trưởng là Đại Tá
Diệp Mạnh Hải, tử thương. Phi Tiễn Đỉnh 133 Komar, có hỏa
tiễn địa điạ
Styx,
Hạm trưởng là Thiếu tá Tôn Quân Anh. Phi tiễn đỉnh 137 Komar,
có hỏa tiễn địa địa
Styx,
Hạm trưởng là Thiếu Tá Mạc Quang Đại. Phi tiễn đỉnh 139
Komar có hỏa tiên, Hạm trưởng là Thiếu tá Phạm Quy. Phi tiễn
đỉnh 145 Komar có hỏa tiễn, Hạm trưởng là Thiếu Ta Ngụy Như
và 6 Hải Vận Hạm chở quân chiến đấu. Ngoài ra c̣n một lực
lượng trừ bị gồm 2 Tuần Dương Hạm, 4 Pháo Hạm, 4 Khu trục
Hạm , trang bị hỏa tiễn Kiangjiang, 2 Phi đội Mig 19 và 2
phi đội Mig 21, do tư lệnh Hạm Đội Nam Hải, tổng chỉ huy.
Bên VNCH, lực lượng tham chiến gồm Khu Trục Hạm HQ4 Trần
Khánh Dư, Hạm Trưởng Trung Tá HQ.Vũ Hữu San. Tuần Dương Hạm
HQ5 Trần B́nh Trọng, Hạm trưởng Trung Ta HQ Phạm Trọng Quỳnh.
Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10, Hạm Trưởng Thiếu Tá HQ.Ngụy Văn
Thà. Trong khi giao chiến, HQ10 bị trúng đạn, toàn thể thủy
thủ xuống xuồng nhỏ, th́ Hạm Trưởng ở lại tuấn quốc với
chiến hạm. Tuần Dương Hạm HQ16, Hạm Trưởng là HQ.Trung Tá Lê
Văn Thư. Về lực lượng trừ bị,, có Tuần Dương Hạm HQ6 Trần
Quốc Toản, Hộ Tống Hạm HQ11 Chí Linh và Phi Đoàn F5-A37,
nhưng v́ ở cách xa chiến trường, nên khi chưa tới nơi, th́
chiến cuộc đă tàn. Riêng Sư Đoàn 1 Không Quân, không can
thiệp.. Kết quả, phía VNCH, các chiến hạm 4, 5 và 16 bị hư
hại nặng nhưng chạy được về Đà Nẳng sửa chữa và tiếp tục
hoạt động sau đó. Chỉ có Chiến Hạm HQ10 bị ch́m, Hạm trưởng
Ngụy Văn Thà, bị thương nhưng quyết ở lại chết với tàu. Về
phía Trung Cộng, Tư Lệnh Mặt Trận, Bộ Tham Mưu và 4 Hạm
Trưởng tử thương. Hộ Tống Hạm 274 bị ch́m, Hộ Tống Hạm 271
và 2 Trục lôi hạm 389-396 bị hư nặng và phá hủy cùng với 4
ngư thuyền bị bắn ch́m.
Có một điều bi thảm mà hiện nay ai cũng biết, là hầu hết các
Chiến hạm mà Hoa Kỳ đă viện trợ cho Hải Quân VNCH, đều được
hạ thủy năm 1940, loại phế thải được tân trạng. Bốn Chiến
hạm tham chiến năm 1974, được coi là tối tân nhất, v́ HQ4 hạ
thủy năm 1943, HQ5 hạ thủy năm 1944, HQ10 hạ thủy năm 1942
và HQ16 hạ thủy năm 1942. Riêng các vũ khí trên tàu, các
loại súng liên thanh đều được gở bỏ, khi cho VNCH. Nhưng dù
quân lực Miền
Nam
ít, chiến hạm vừa cũ kỹ lại nhỏ, vũ khí trang bị, chỉ có đại
bác nhưng v́ Các Sĩ Quan Hải Quân VNCH đều được huấn luyện
như Âu Mỹ, rất thiện chiến và tài giỏi. Cho nên đă tác xạ
rất chính xác, làm nhiều tàu giặc cũng như Hạm trưởng tử
thương. Tệ nhất là người Mỹ, lúc đó vẫn c̣n là đồng minh của
QLVNCH, vẫn đang có hiệp ước hỗ tương chiến đấu và bảo vệ
cho nhau. Vậy mà khi cuộc chiến xảy ra, Hạm Đội 7 Hoa Kỳ
đang tuần hành gần đó, chẳng những đă không lên tiếng, không
can thiệp mà ngay thủy thủ VNCH bị ch́m tàu,, cũng không
thèm cứu vét, theo đúng luật hàng hải quốc tế.
Theo các nhân chứng đă tham dự cuộc hải chiến kể lại, th́
lúc đó các chiến hạm của Hải quân/VNCH, đă chống trả với
giặc rất dũng mănh, nên chỉ trong mấy phút đầu, đă có nhiều
tàu chiến của Trung Cộng đă bị bắn ch́m. Về phía VNCH, Tuần
dương hạm Lư Thường Kiệt HO.16, bị bắn trúng bánh lái và
sườn tàu, được HQ.11 d́u về Đà Nẵng. Trên chiến trường lửa
máu, chỉ c̣n HQ.10 và Hộ tống hạm Nhật Tảo, vùng vẩy chiến
đấu với hằng chục chiến hạm của Trung Cộng, được Không quân
từ các căn cứ trên đảo Hải Nam tới yểm trợ.
Cuối cùng Hộ tống hạm Nhật Tảo đă bị bắn cháy và ch́m giữa
biển Đông. Hạm trưởng chiến hạm này là Trung Tá HQ. Ngụy Văn
Thà, tốt nghiệp khóa 12 sĩ quan hải quan Nha Trang, sinh năm
1943 tại Trảng Bàng, Tây Ninh. Khi tàu lâm nạn, với tư cách
là chỉ huy trưởng, Trung Tá Thà đă ra lệnh cho Hạm Phó là
Thiếu Tá HQ. Nguyễn Thành Trí, sinh năm 1941 tại Sa Đéc, tốt
nghiệp khóa 17 sĩ quan hải quân/Nha Trang, hướng dẫn số quân
nhân c̣n sống sót, trong tổng số 80 người trên tàu, dùng bè
cao su về đất liền. Riêng Ông ở lại chết với tàu.
Trên biển, Thiếu tá Trí v́ bị thương nặng nên đă chết trên
bè, trước khi các quân nhân c̣n lại, được thương thuyền
Skopionella của Ḥa Lan, trên đường từ Hồng Kông đi Tân Gia
Ba, cứu sống vào đúng đêm giao thừa Tết âm lịch Nhâm Dần
(1974). Sau đó 22 quân nhân này được một chiến hạm cũa Hải
Đội 1 Duyên Pḥng, đón về đất liền. C̣n 16 Biệt Hải của Tuần
Dương Hạm Lư Thường Kiệt, có lệnh giữ đảo Vĩnh Lạc, sau khi
Ḥang Sa thất thủ, đă dùng bè cao su vượt biển về đất liền.
Lênh đênh nhiều ngày trên sóng nước, nắng mưa gió lạnh, cuối
cùng cũng được một Tàu đánh cá cứu thoát đưa về điều trị tại
Quân Y Viện Qui Nhơn, 2 người chết v́ đói lạnh, số c̣n lại
may mắn thoát được tử thần.
Cuộc hải chiến chấm dứt, các chiến hạm của VNCH đều rút lui,
v́ Hoàng Sa đă thất thủ. Bấy giờ giặc Tàu mới bắt đầu thu
dọn chiến trường và xua quân chiếm đóng tất cả các đảo. Về
phía VNCH c̣n kẹt lại trên đảo, gồm Trung đội DQP.Quảng Nam,
các quân nhân Hải quân, 7 Sĩ quan công binh trong toán khảo
sát địa chất, 4 nhân viên sở khí tượng và 1 người Mỹ làm
việc ở Ṭa lănh sự Hoa Kỳ thuộc Quân đoàn 1. Tổng cộng là 42
người, đều bị giặc bắt làm tù binh, giải về thành phố Quảng
Châu và giam trong một trại tù, cạnh ḍng sông Sa Giang. Đây
cũng chính là nơi mà hơn mấy chục năm về trước, liệt sĩ Phạm
Hồng Thái đă gieo ḿnh tự vẫn, để không bị sa vào tay giặc
Pháp, sau khi ném bom ám sát hụt Merlin, toàn quyền Đông
Dương đang có mặt tại Hồng Kông.
Lúc đó đúng 8 giờ sáng ngày mồng một tết nguyên đán, thời
gian hạnh phúc nhất của các dân tộc Á Đông vui xuân theo âm
lịch, trong đó có VNCH. Riêng 42 tù binh VN liên tục bị bọn
an ninh Trung Cộng, tra vấn, bắt buộc phải nhận tội là đă
chiếm đóng bất hợp pháp lănh thổ của Tàu. Nhưng rồi không
biết v́ sao, Đặng Tiểu B́nh ra lệnh phóng thích tất cả, đưa
tới Hồng Kông để mọi người hồi hương.
Lịch sử lại tái diễn, ngày 14-3-1988, Trung Cộng lại nổ súng
vào Hải quân Việt Cộng, tại quần đảo Trường Sa. Trong cuộc
hải chiến ngắn ngủi này, v́ VC chỉ phản ứng có lệ, nên tài
liệu cho biết phía Trung Cộng, không có ai bị tử thương cũng
như tàu ch́m. Ngược lại, bên VC có nhiều tàu chiến bị ch́m,
gồm: Chiến Hạm Thượng Hải của Tàu viện trợ, 1 Tuần Dương Hạm
cũ của VNCH để lại, 1 Hải Vận Hạm của Nga Sô viện trợ và
trên 300 lính Hải quân bị thương vong.
2-VC BÁN ĐẤT, BÁN BIỂN CHO GIẶC TÀU:
Từ sau ngày 30-4-1975 chiếm được cả nước VN, đảng VC lúc nào
cũng rêu rao khoác lác về độc lập tự do, vẹn toàn lănh thổ.
Thế nhưng mọi sự đă lộ nguyên h́nh, khi thành tích bán nước
cho Tàu, phản bội quê hương bị toàn dân trong và ngoài nước
phanh phui nguyền rủa. Nhờ đó, mà những cái loa Việt Gian bợ
đít VC, từ bấy lâu nay tại hải ngoại, mới chịu khép miệng,
v́ không c̣n biết đâu mà ṃ.
Theo đó, ta biết trong năm 1999 và 2000, bọn chóp bu đảng
gồm Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương,
Phan Văn Khải, Nguyễn Mạnh Cầm và toàn lũ trong Chính trị Bộ,
đă lén lút , kư kết 2 Hiệp Ước bất b́nh thường, vô lư, phản
bội dân tộc, trong sự Bán Đất Biên giới và Bán Vịnh Bắc Phần,
cho giặc Tàu. Cũng may, thành tích trên sớm bị bật mí, c̣n
không hậu quả biết đâu mà lường, v́ VC chuyện ǵ cũng dám
làm, miễn là bảo vệ được chiếc ngai vàng đẫm máu, để c̣n dịp
vơ vét tài sản của đất nước và đồng bào.
Từ năm 1884, Pháp coi như chính thức đô hộ VN. Từ đó thực
dân độc quyền kư kết , các hiệp ước song phương và những
công ước quốc tế, về luật biển, hải đảo cũng như biên giới
giữa các nước. Năm 1885, Pháp kư với Măn Thanh hiệp ước
Thiên Tân, hủy bỏ sự liên hệ giữa Nhà Nguyễn VN và Trung Hoa,
hủy bỏ ấn phong vương, phân định lại đường ranh giới bằng
cọc cắm và bản đồ. Năm 1887, Pháp và Trung Hoa lại kư Hiệp
Ước Brévié, phân ranh vùng V́nh Bắc Phần, từ Trà Cổ (Móng
Cáy), dọc theo kinh tuyến Đông 108. Theo đó, phía tây đảo
Bạch Long Vĩ là lănh hải của VN, phía đông là của Trung Hoa.
Về sự tranh chấp hai quần đảo Hoàng SaTrường Sa, cũng được
quốc tế giải quyết năm 1882, theo công ước luật biển. Tháng
11-1993, công ước trên được LHQ phê chuẩn và thi hành vào
năm 1994, với 170 quốc gia công nhận, trong đó có Trung Cộng
và VC. Tóm lại đảng VC đă dối trá quốc dân VN, lén lút họp
kín với Giặc Tàu trong 20 phiên họp kín. Rồi cũng tự động bí
mật kư kết, c̣n quốc hội VC th́ cũng lén lút thông qua.
Tóm lại, tất cả những kư kết điều hoàn toàn sai trái về pháp
lư quốc tế và đạo lư dân tộc, đi ngược lại truyền thống ḥa
b́nh, tự chủ, không lấy thịt đè người của bản tuyên ngôn
nhân quyền. Tất cả đều là những âm mưu xâm lăng, hay nói
đúng hơn chính Hồ Chí Minh và đảng VC đă rước voi Tàu về dầy
mă Việt, ngay từ khi bắt đầu nhận viện trợ của Trung Cộng
năm 1950 cho tới cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1960-1975)
chấm dứt. Trung Cộng lợi dụng quân viện và nhất là trong
cuộc chiến biên giới năm 1979 giữa Việt-Trung, đă xua hàng
triệu dân Tàu gốc thiểu số tại các tỉnh biên giới, lấn đất
dành dân, sâu trong nội địa VN. Theo báo chí ngoại quốc, VC
đă bán cho Trung Cộng tại biên giới Việt Hoa, hơn 15.600 km2
và 20.000 km2 lănh hải trong vịnh Bắc Phần.. Như vậy tại
Miền Bắc, ngày nay VN đă mất hẳn những địa danh hồn thiêng
sông núi như Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, và Đồng Đăng với
Phố Kỳ Lừa
* ẢI NAM QUAN: Ở ngay biên giới Việt-Trung, đường sang Long
Châu, tỉnh Quảng Tây, cách Hà Nội 176 km.. Từ thị xă Lạng
Sơn, lên Nam Quan xa 17 km, qua chợ Kỳ Lừa, phía tây là Động
Tam Thanh, phía trước là núi Vọng Phu, có nàng Tô Thị bồng
con đợi chồng. Đồng Đăng cách biên giới 5 km, có Ải Nam Quan
hay Cửa Hữu Nghị.
Theo Nguyễn văn Siêu trong Dư Địa Chí, th́ Ải Nam Quan, từ
thời Hậu Lê trở về trước, được gọi là Cửa Pha Lũy hay Pha Dữ,
nằm về phía bắc Châu Văn Uyển, thuộc Trấn Lạng Sơn. Theo
Cương Mục, th́ Pha Lũy chính là Ải Nam Quan, ở Xả Đồng Đăng,
huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn. Từ thời nhà Lê Trung Hưng,
người Tàu gọi cửa Pha Lũy là Trấn Nam Quan, c̣n VN gọi là Ải
Nam Quan. Hai bên cửa Ải là núi cao ngất trời, liên tiếp có
rất nhiều ải nhỏ, nằm rải rác khắp các khu vực trọng yếu,
trên đường quan lộ dẫn về Thăng Long Thành. Cửa Ải Nam Quan
luôn luôn khóa kín, chỉ mở khi có thông sứ chính thức giữa
hai nước. Mọi sự hầu như đều dùng cửa Ải Du thôn, ở xă Bảo
Lâm, Châu Cao Lộc, Tỉnh Lạng Sơn. Ải này cách Nam Quan,
chừng 2 canh giờ đường núi.
Thời Pháp thuộc, Nam Quan được gọi là Porte de Chine. Sau
năm 1954, Mao Trạch Đông đổi thành Mục Nam Quan. Riêng VC
gọi là Cửa Hữu Nghị. Trong ḍng sông lịch sử, suốt mấy ngàn
năm qua, Nam Quan là nơi chứng kiến bao cuộc tang dâu máu lệ.
Ngày xưa, tại nơi này, Mạc Đăng Dung qú gối dâng đất cho
nhà Minh để được làm vua, y chang như bây giờ VC lén lút bán
biên giới và lănh hải, hải đảo cho giặc Tàu để vinh thân,
ph́ gia, bảo vệ đảng cọng sản. Đây cũng là nơi ghi lại những
chiến công hiển hách của Đại Việt, trong công cuộc giết giặc
Tàu giữ nước, ngay từ năm 40 đời Trưng Nữ Vương, rồi Lê Đại
Hành, Lư Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi.. cho tới thời
Đại Đế Quang Trung Nguyễn Hue, vào năm 1789, đánh đuổi quân
Thanh tại trận Đống Đa. Tôn Sĩ Nghị, cũng chạy qua đây để
trốn về Tàu.
Theo kư họa của Eug.Burnand năm 1887, cho thấy cửa Nam Quan
thời ấy, chỉ c̣n là một tường cao, giữa có cửa thông qua,
hai bên là núi non hiểm trở. Đầu thế kỷ XX, theo h́nh vẽ in
trong bưu thiếp của Collection de Union Commerciale
Indochinoise, thấy Cửa Nam Quan nằm dưới chân núi khá cao,
phía sau Ải có xây thêm một toà nhà lầu, đứng trên lưng
chừng núi. Nhưng rồi chiến tranh triền miên, nhưng công
tŕnh này cũng không c̣n. Sau năm 1949, Mao và Trung Cộng
làm chủ nước Tàu, nên đă xây lại Ải Nam Quan, là một toà nhà
lầu ba tầng. Cuối cùng là h́nh chụp của các nhân chứng tại
chỗ sau năm 2001, cho thấy cái Ải nhỏ của VN năm 1996, nằm
sát ngay trước Cửa Nam Quan, nay bị bứng sâu vào nội địa,
nên không thấy tăm dạng Ải Nam Quan như mấy ngàn năm lịch sử.
Việc Cọng sản Hà Nội tự chuyên lén lút bán nước cho Trung
Cộng, nay đă là một biển hận, trời hờn, làm cho người Việt,
bất cứ là ai, khi biết được cũng xấu hổ và căm thù bọn phản
bội dân tộc. VN mất Ải Nam Quan, coi như đă tự ḿnh hủy diệt
một niềm tin quyết thắng, v́ Nam Quan là hồn thiêng của sông
núi, mà bất cứ một người VN nào khi chào đời, cũng đều,
thuộc ḷng. Giặc Tàu bao đời nuôi mộng phanh thây chiếm nước
người Việt nhưng bao đời chúng đều bị người Việt, chận đứng
trước cửa Nam Quan, v́ đây chính mồ chôn quân xâm lăng
phương Bắc.
Từ năm 1930 tới nay, Hồ Chí Minh và đảng VC, chỉ v́ lợi lộc
cá nhân và đảng hệ, mà cơng voi về đầy xéo đất nước, làm cho
voi quen đường, chẳng những lấn đất dành biển, mà c̣n ngổ
ngáo sử dụng một ḿnh một chợ thượng nguồn các con sông
thiêng của VN, từ sông Hồng, sông Đà, Lô, Thái B́nh ở Bắc
Phần cho tới sông Cửu Long tại miền Nam, khiến cho nước ta,
từ hăm chin năm nay, chịu không biết bao nhiêu thiên tai bảo
lụt, thiệt hại mùa màng tật bệnh, v́ những hiện họa của Tàu
đổ xuống các ḍng sông, theo nước xuống tận đồng bằng sông
Cửu Long và ra biển. Rồi đây, VN sẽ lănh tất cả những chất
độc như Cyanide, arsenic, acid..từ các quặng mỏ trong tỉnh
Vân
Nam,
đổ xuống ḍng sông Mekong ra biển. Chưa hết, Trung Cộng
chẳng những đă xây các đập thủy điện khổng lồ tại Măn Loan,
Cảnh Hồg, Đại Chiến Sơn..và Hồ chứa nước Lạn Thương Giang,
trên sông Mêkong. Mà c̣n xúi các nước Thái, Miến, Lào cũng
góp phần làm hủy hoại tận tuyệt con sông thiêng, khiến cho
một ngày đó, phù sa sẽ không c̣n bồi đắp Mũi Cà Mâu và hủy
diệt toàn bộ thủy tộc trên biển đông, v́ hệ sinh thái cạn
kiệt.
Dân chúng VN bao đời sống nhờ biển cá, VC ngày nay đem biển
bán cho giặc Tàu, khiến cho nguồn lợi thủy sản bị hao hụt
trầm trọng, tài nguyên dưới đáy biển bao đời, nay thuộc về
ngoại bang.
Tháng 1-2005, ngư dân tỉnh Thanh Hóa, như thường lệ hành
nghề trong lănh thổ của tổ tiễn tại Vịnh Bắc Việt nhưng đă
bị lực lượng quân sự của Trung Cộng bắn giết một cách tàn
nhẫn tận tuyệt, bất chấp ḷng nhân đạo và luật lệ của quốc
tế. Sự cố đau ḷng tủi nhục trên, khiến cho cả nước kể cả
hải ngoại, ai cũng rớt nước mắt v́ thường đồng bào ḿnh,
cũng như thân phận nhược tiểu VN và kiếp đời nô lệ dưới
thiên đường xă nghĩa. Th́ ta VC đă đồng thuận với Trung Cộng,
cố t́nh dàn ra một bẩy để ngư dân sụp và coi như chuyện đă
có không cần phải giải thích hay thông báo ǵ ǵ, cho tất cả
người trong nước biết, là từ nay cấm bất cứ ai, không được
bén mảng, tới nơi chốn, mà hai đảng đă mua bán xong xuôi,
nếu không bị Trung Cộng giết hay cướp bóc tài sản, th́ ráng
chịu. Rồi nay mai, Trung Cộng sẽ khai thac dầu hỏa trong
vịnh Bắc Phần, nạn tràn dầu, ô nhiễm chất phế thải sẽ khiến
cho đồng bào duyên hải gánh chịu. Đó là chưa nói tới, ngư
dân sẽ bị Tàu cấm hành nghề, v́ biển cũ đă bị đảng bán cho
giặc, vịnh Bắc Việt trở thành Vịnh Hải Nam của người Tàu.
Năm 1473, khi Thái bảo kiến dương bá Lê Duy Cảnh, được giao
nhiệm vụ trấn giữ Ải Nam Quan, Vua Lê Thánh Tông đă ân cần
nhắn gửi người ra đi: 'Một thước núi, một tấc sông của ta,
không được bỏ. Nếu ngươi làm mất, tội đó phải tru di'. Lư
Thường Kiệt khi đại chiến với quân Tống, dă viết 'Nam Quốc
Sơn Hà, Nam Đế Cư' xác quyết đất đai của người Việt muôn đời
là của Nước Việt, không có ai được quyền xâm lấn hay bán
nhượng. Trái lại VC th́ lúc nào cũng to miệng nhục mạ nhà
Nguyễn, vua Gia Long là cơng rắn cắn gà nhà, quy tội cho
người Việt không cọng sản là Việt gian, Mỹ Ngụy..Nhưng cuối
cùng, khi Pháp rời Đông Dương năm 1955, đă trả lại sông núi
cho người Việt, không thiếu một tất đất, kể cả những cơ sở,
đồn điền cũng giao hoàn. Suốt thời gian nội chiến 1955-1975,
VNCH không hề bán nhượng cho Hoa Kỳ một cọng cỏ v́ tới sáng
ngày 30-4-1975, Mỹ đă rút hết về nước. Trái lại VC trong
suốt bao năm, làm đủ chuyện phản tặc, từ công nhận Hoàng Sa-Trường
Sa là của Tàu, rồi tiếp tục bán nhượng đất đai, sông núi của
Tổ Quốc, đó là chưa nói tới, cái sự đem đất thế chấp làm vốn,
để đầu tư với Tư bản kiếm tiền bỏ túi.
Trước năm 1975, lúc nào cũng nói VNCH tham nhũng, độc tài,
Diệm-Nhu, Thiệu -Kỳ chạy theo Mỹ, nay rơ ràng hơn chính đảng
VC và Hồ Chí Minh, mới đích thực sự là đầy tớ, hết Nga tới
Tàu, nay sắp bỏ chân qua Mỹ-Nhật. C̣n Cán bộ đảng th́ tham
nhũng, hốt trọn tài sản của dân nước, chuyển hết ra nước
ngoài, rửa tiền , đầu tư, làm giàu và hưởng thụ, ai chết mặc
bây. Đó chính là thành tích lịch sử của Đảng VC trong ba
mươi năm quốc hận.
Mạnh được yếu thua là phương châm xử thế lâu đời của Trung
Hoa. Bởi thế qua suốt mấy ngàn năm lập quốc, v́ thái độ trên
đă làm cho nước Tàu loạn lạc triền miên hầu như thời nào
cũng có. Tóm lại người Hán dù là ai chăng nửa, chắc sẽ chẳng
bao giờ quên đuợc nổi hận nhục trong thời gian nước Tàu bị
liệt cường xâu xé từng mảnh. Người Anh đă chiếm Hồng Kông
làm thuộc địa, c̣n Thượng Hải là tô giới. Tại đâythực dân đă
lập bảng niêm yết nghiêm cấm, không cho người Hoa và Chó vào
vườn hoa hay những nơi công cộng, dành cho người ngoại quốc.
Trước cảnh đau hận của dân tộc Hán, một học giả Nhật đă cảm
khái viết:
'Á lục tiên hiền,
ưng nhất tiếu
Anh nhân diệt hoản, sở cầm tù
Tùng kim hoán cải, công viên bảng
bất cám Anh nhân, cập cẩu lai'.
Liên
Bang Sô Viết nay đă tan ră, chỉ c̣n lại đế quốc Trung Hoa là
một tập hợp của nhiều vùng đất của các dân tộc Măn, Mông,
Tạng, Hồi và Bách Việt, bị người Hán xâm lăng và cưởng chiếm
. Một đất nước mênh mông với hàng ngàn dân tộc dị chủng,
luôn mang thù hận và nghi kỵ, Trung Hoa không sớm th́ muộn
cũng sẽ bị tan ră như các đế quốc La Mă, Ai Cập, Thổ Nhỉ Kỳ,
Mông Cổ, Hung Nô và gần nhất là Ấn Độ, Nam Tư và Liên bang
Sô Viết.
Dân tộc Việt trong ḍng sông lịch sử, cũng đă chấp nhận luật
chơi 'mạnh được yếu thua', cho nên nay v́ bất hạnh bị đảng
VC hèn mạt cầm quyền, đă phải liên tục mất mát đất đai biển
đảo vào tay giặc Tàu. Nhưng lịch sử luôn là sự trùng hợp,
chắc chắc con cháu người Việt trong tương lai gần, se quật
khởi chiếm lại tất cả lănh thổ. kể cả hai quân đảo Hoàng Sa
và Trường Sa, bị VC dâng bán cho giặc khi cầm quyền. Thời
nhà Trần, quân Đại Việt dưới tài lănh đạo của các vua Trần
và Hưng Đạo Đại Vương, một ḷng tử chiến nên cuối cùng đă
chiến thắng quân Mông-Nguyên ba lần, khi chúng xâm lăng Đại
Việt. Nhờ vậy: ngày nay ta mới có:
'Nam quốc sơn hà,
Nam đế cư
tiệt nhiên định phận tại thiên thư
như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
nhữ đẳng hành khan thử bại hư '
Thương biết bao những anh hùng vị quốc, trong đó có những
chiến sĩ Hải quân năm nào, đă anh dũng chống giặc Tàu xâm
lăng, như tổ tiên ta đă bao đời banh thây đổ máu để có 'Nam
quốc sơn hà, nam đế cư ' -/-
TÀI LIỆU THAM
KHẢO :
-Bài viết của GS. Trần Đại Sỷ, Trần Gia Phụng, Chính Đạo.
-Nam Quốc Sơn Hà
-Lê Công Phụng giải thích về sự bán nước cho Tàu
-Pham Phong Dinh 'Chiến Sử VNCH'
-Hải Chiến Trường Sa của NS.Đoàn Kết..
Xóm Cồn
Trước thềm tết Bính Tuất
MƯỜNG GIANG