Hồ Chí Minh nhận định tổng hợp — Chương 52

Lời cuối sách

Minh Vơ
 



Hết thẩy các tác giả viết về Hồ Chí Minh được đề cập trong những chương trên dù thuộc xu hướng nào đều đồng ư về hai điểm.

– Thứ nhất, Hồ Chí Minh là một tín đồ Cộng Sản và là một tín đồ thuần thành, tin tưởng tuyệt đối ở mục tiêu xây dựng của lư tưởng Cộng Sản cũng như hiệu năng của phương pháp đấu tranh do Lenin ấn định trong các nguyên tắc chiến lược sách lược được khai triển bởi Stalin.

Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lenin là ánh sáng chân lư, là mặt trời đưa lại nguồn vui, v́ ngay từ 1923, Hồ Chí Minh đă khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa Cộng Sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc nguồn gốc, sự tự do, b́nh đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và v́ mọi người, niềm vui, ḥa b́nh, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng ḥa thế giới chân chính, xóa bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa chỉ là vách tường dày ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau”

– Thứ hai, từ sau khi tham gia nhóm sáng lập Đảng Cộng Sản Pháp cho tới cuối đời, Hồ Chí Minh luôn là cán bộ Cộng Sản Quốc Tế thuộc thành phần lănh đạo với nhiều nhiệm vụ cụ thể tại Trung Hoa và Đông Nam Á. Liên tục nhiều năm kể từ 1924, Hồ Chí Minh được Quốc Tế Cộng Sản trả lương và tài trợ mọi phí khoản để hoàn thành các công tác do ban lănh đạo Cục Đông Phương của Quốc Tế Cộng Sản trao phó.

Hồ Chí Minh đă hoàn thành và hoàn thành xuất sắc mọi công tác, nhất là các nhiệm vụ trên bán đảo Đông Dương, do đó, đă nhận được lời tán tụng nồng nhiệt của lănh tụ Liên Xô Krutschev: “Hồ Chí Minh là tông đồ nhiệt thành của tôn giáo Cộng Sản, là vị thánh của chủ nghĩa Cộng Sản, người nhiệt thành xả thân v́ đại nghĩa …Các bạn phải tôn kính người này, hăy quỳ gối trước ông ấy để tỏ ḷng biết ơn về những đóng góp vô vị lợi của ông ấy cho chính nghĩa Cộng Sản, đă dành cho nó tất cả sức lực và khả năng của ḿnh.”

Ngoài hai điểm trên, nhận định về Hồ Chí Minh luôn đưa ra những h́nh tượng khác biệt, thậm chí hoàn toàn đối nghịch.

Với tác giả này, Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc vĩ đại nhất của Việt Nam th́ với tác giả khác, Hồ Chí Minh là kẻ gieo rắc đại họa chưa từng có trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Với tác giả này, Hồ Chí Minh là người luôn chủ trương ôn ḥa, giàu ḷng nhân ái nhưng bị thủ hạ lấn áp, khống chế nên phải bó tay trước các chủ trương gây ra nhiều thảm họa từ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh qua chính sách cải cách ruộng đất, đàn áp văn nghệ sĩ, trí thức, đối lập tới các chiến thuật biển người tại vùng Việt Bắc, Điện Biên Phủ trước 1954 và chiếu cố miền Nam bằng binh lực, ra lệnh Tổng Công Kích Tết Mậu Thân 1968 … th́ với tác giả khác hết thẩy những việc trên đều do chính Hồ Chí Minh quyết định.

Với tác giả này, Hồ Chí Minh là người ngay thẳng, trung thực, một ḷng v́ dân v́ nước nên được toàn dân ngưỡng mộ suy tôn là Cha Già Dân Tộc th́ với tác giả khác, Hồ Chí Minh là hiện thân của xảo quyệt, tàn ác, theo đuổi tham vọng cá nhân bằng mọi giá nên bị dân chúng căm thù từng đặt ra nhiều giai thoại để rủa xả, thậm chí gọi là Cáo già, là Quỷ Vương, là Hồ ly tinh…

Cũng thế, có tác giả cho rằng nếu không có Hồ Chí Minh, Việt Nam đă tránh được thảm họa chiến tranh và trở thành một quốc gia độc lập thống nhất phát triển từ lâu, nhưng lại có tác giả phát biểu Hồ Chí Minh là người lập công đầu trong việc giành độc lập và thống nhất cho đất nước v́ đă lănh đạo thành công cuộc kháng chiến chống âm mưu xâm lược của các đế quốc thực dân Pháp – Mỹ…

Bỏ qua các động cơ do phe phái hoặc do mưu tính cá nhân với một dụng ư nào đó, sự khác biệt trong các nhận định xuất phát trước hết từ nhận thức về bối cảnh lịch sử Việt Nam trong thế kỷ qua.

Với một số tác giả, mục tiêu mà mọi phong trào, mọi lực lượng đấu tranh tại Việt Nam theo đuổi là chống lại các thế lực ngoại bang để giành độc lập, thống nhất quốc gia. Quá tŕnh đấu tranh tuy gồm nhiều giai đoạn đặc thù từ đầu thế kỷ nhưng toàn bộ cuộc đấu tranh chỉ thể hiện ư nghĩa duy nhất là tranh thủ và bảo vệ quyền sống tự do tự chủ cho dân tộc.

Trong quá tŕnh đấu tranh này, lực lượng do Hồ Chí Minh lănh đạo hoạt động hữu hiệu hơn hết và cuối cùng đă đem lại thành quả đúng với mong muốn của toàn dân.

Với số tác giả khác, Việt Nam đă giành lại chủ quyền và thống nhất lănh thổ sau biến cố Nhật đảo chính Pháp ngày 9.3.1945, v́ ngay từ ngày 11.3.1945, Bảo Đại đă tuyên bố hủy bỏ hiệp ước 1884 và sau đó, ngày 14.8.1945 hủy bỏ tất cả các hiệp ước bất b́nh đẳng 1862, 1874 do triều đ́nh Huế kư với Pháp. Ngoài ra, ngày 27.4.1945, Bảo Đại đă kư dụ số 11 cử Phan Kế Toại làm Khâm Sai Bắc Kỳ và ngày 14.8.1945 kư dụ số 108, cử Nguyễn Văn Sâm làm Khâm Sai Nam Kỳ, thu hồi lănh thổ về một mối.

Do Hồ Chí Minh muốn biến Việt Nam thành chư hầu của Liên Xô để mở rộng ảnh hưởng Cộng Sản tại Đông Nam Á nên năm 1945 Pháp phải can thiệp với mục đích ngăn chặn và dẫn đến sự có mặt của Mỹ sau 1954.

Không thể phủ nhận nền tảng thực tế của hết thẩy các sự việc nêu trên, nhưng không thể nh́n toàn bộ diễn biến t́nh h́nh Việt Nam trong thế kỷ 20 chỉ qua một số sự việc được lọc lựa theo chủ quan.

Thực ra, t́nh h́nh Việt Nam là sự đan xen hết sức phức tạp của các sự việc đă được nhắc tới trong bối cảnh quốc tế cũng không kém phần phức tạp từ sau sự h́nh thành khối Cộng Sản Quốc Tế, nhất là sau khi chấm dứt đệ nhị thế chiến.

Ảnh hưởng mở rộng của Liên Xô tại Đông Âu nói riêng và trên thế giới nói chung đă h́nh thành rơ rệt thế lưỡng cực đối đầu quốc tế đặt dưới sự lănh đạo của Liên Xô ở một phía và Mỹ-Anh-Pháp ở phía kia.

Giữa bối cảnh này, sự bừng tỉnh của ư thức dân tộc tự quyết cũng trở thành động cơ thúc đẩy h́nh thành phong trào đấu tranh tại nhiều quốc gia trên thế giới chống lại mọi chủ trương thực dân đế quốc, đặc biệt là tại các quốc gia đang bị mất chủ quyền hoặc đang bị khống chế dưới một h́nh thức nào đó bởi các cường quốc Tây Phương, cụ thể là các quốc gia nhược tiểu Á Phi và Nam Mỹ trong đó bao gồm cả Việt Nam.

Chính khối các quốc gia nhược tiểu này là mục tiêu chinh phục trước mắt của Liên Xô và v́ thế trở thành mục tiêu phải bảo vệ của Mỹ-Anh-Pháp.

Cả hai khối cực quyền đều thấy rơ t́nh thế đối đầu một mất một c̣n nhưng không nhắm thẳng vào nhau mà tiến hành tranh chấp ở mức độ hạn chế theo quan điểm chiến lược riêng tại lănh thổ các quốc gia nhược tiểu.

Liên Xô tuy theo đuổi mục tiêu xóa bỏ toàn bộ khối Tư Bản để thiết lập nền chuyên chính vô sản trên toàn thế giới như chủ nghĩa Cộng Sản đă ấn định, nhưng không thể rời xa nguyên tắc đấu tranh của Lenin là phải tùy giai đoạn, uốn theo những khúc quanh để đi dần lên đỉnh núi. Một khúc quanh trong chiến lược Lenin là khai thác các phần tử dân tộc yêu nước để từng bước tiêu hao sức mạnh của kẻ thù tư bản như đă được đề ra trong đại hội 5 Quốc Tế Cộng Sản vào tháng 6-1924.

Áp dụng nguyên tắc chiến lược này, Liên Xô đă duy tŕ t́nh trạng chiến tranh thường trực, liên tục tấn công Tây Phương theo đúng chủ trương đấu tranh giai cấp, nhưng luôn ẩn ḿnh sau chiêu bài giải phóng dân tộc vận dụng các lực lượng ngoại vi, thay v́ công khai lộ diện trên trận tuyến.

Do đó t́nh trạng chiến tranh giữa hai khối cực quyền sau đệ nhị thế chiến đă được gọi là chiến tranh gián chỉ hoặc chiến tranh lạnh v́ không có sự đối đầu trực tiếp bằng bom đạn giữa các phe đối địch mà chỉ diễn ra thông qua các lực lượng trung gian dưới nhiều h́nh thức tại các quốc gia nhược tiểu.

Mục tiêu trước mắt của Liên Xô là thúc đẩy khối nhược tiểu thù hận Tây Phương để thu hẹp phạm vi thế lực đối phương trong lúc bành trướng thế lực bản thân hầu tiến dần tới thế cô lập đối phương trước khi bước vào trận đánh cuối cùng.

Tất nhiên phản ứng của Tây Phương là ngăn chống mưu đồ tràn lấn này. Nhưng khi ngăn chống, Tây Phương luôn phải lộ diện công khai trên trận tuyến trong lúc quần chúng ở khắp nơi, ngay cả tại nội bộ các quốc gia Tây Phương, vẫn chưa hoàn toàn nhận thức rơ về mối hiểm họa Cộng Sản thường được nêu ra như lư do chủ yếu đ̣i hỏi phải hành động.

Thêm vào đó là sự tiếp tục hiện diện nhiều phần tử c̣n tiếc nuối chính sách thực dân trong chính giới Tây Phương bên cạnh những phần tử tiến bộ chủ trương tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc.

T́nh thế chen lấn vàng, thau và nhận thức c̣n nhiều nghiêng ngả về các đường lối chính trị, kể cả nhận thức về mục tiêu đích thực của Cộng Sản, đă dẫn tới những chọn lựa vội vă về thế đứng càng khiến cho thực tế trở thành phức tạp hơn. Tuy cục diện thế giới phân định rơ ràng thành hai khối cực quyền không thể cùng tồn tại do chủ trương tiêu diệt mọi ư hệ dị biệt của Cộng Sản, nhưng trên thực tế, hàng ngũ các lực lượng đấu tranh không kết thành trận tuyến rơ ràng theo phân định đó.

Cộng Sản luôn ẩn ḿnh trong các lực lượng dân tộc yêu nước trong khi hàng ngũ Thế Giới Tự Do luôn có sự trà trộn của những phần tử không coi trọng việc ngăn chống Cộng Sản bằng các đường lối chính trị trục lợi.

Nói chung, thế đối đầu giữa hai khối Cộng Sản - Tự Do với danh xưng cuộc xung đột giữa hai khối Đông - Tây đă thực sự xảy ra ngay sau đệ nhị thế chiến, nhưng không hiện h́nh rơ rệt. Trong diễn tiến thực tế, t́nh trạng đối đầu chỉ là những cuộc chiến giành quyền lănh đạo tại các quốc gia nhược tiểu được gọi là các cuộc chiến cục bộ hoặc như chính Hồ Chí Minh từng diễn tả: “Chúng ta làm cách mạng đánh đế quốc thực dân tức là đánh tư bản chủ nghĩa. Cuộc cách mạng đó có qui mô thế giới mà cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam là một bộ phận”.

Cộng Sản là một khối đồng nhất trong mọi hành động nên toàn thể các cuộc chiến cục bộ ở mọi nơi đều là những mặt trận liên kết thuộc một trận đánh mang tính quy mô thế giới dưới sự chỉ đạo của Liên Xô nhắm tấn công kẻ thù tư bản.

Trong khi đó, Tây Phương chỉ là một nhóm quốc gia với những chủ trương khác biệt nên nhiệm vụ ngăn chống Cộng Sản thường được coi là công việc riêng của từng quốc gia tùy theo khu vực bùng nổ các cuộc chiến cục bộ. Sự yểm trợ quốc tế gần như chỉ bó hẹp giữa vài quốc gia đồng minh và giới hạn ở một số lănh vực nào đó theo những thỏa thuận có điều kiện. Cuộc chiến Việt Nam 1945-1954 đă diễn ra trong khung cảnh này.

Quan niệm Đông Dương vốn là phần đất thuộc Pháp khiến người Anh chuyển giao vai tṛ giải giới quân Nhật ở phía Nam vĩ tuyến 16 gần như với ư nghĩa trả về cho Pháp việc ngăn chống Cộng Sản tại vùng đất này. Trong khi đó, trong chính giới Pháp vẫn hiện diện nhiều phần tử chưa thể dứt khoát từ bỏ toan tính tái lập quyền bảo hộ tại đây mặc dù đă thấy rơ bàn tay Liên Xô ở phía sau lực lượng do Hồ Chí Minh lănh đạo. Ít nhất từ tháng 9-1945 tới hết năm 1947, Pháp tuy đă tự đặt cho ḿnh nhiệm vụ ngăn chống Cộng Sản nhưng nhiệm vụ này vẫn bị chi phối bởi các âm mưu khai thác như một chiêu bài nhắm thuyết phục Mỹ hỗ trợ việc tái lập chủ quyền ở Đông Dương là điều mà Mỹ quyết liệt phản đối.

Riêng Mỹ tuy biết chắc Hồ Chí Minh là cán bộ Quốc Tế Cộng Sản nhưng không tin tưởng hoàn toàn đường lối chính trị của Pháp nên đă chọn thế đứng trung lập sau khi cảnh giác Pháp về hiểm họa Cộng Sản có thể lan tràn khắp Đông Dương. Chính v́ thế, vào những ngày mở đầu, cuộc chiến Việt Nam đă thể hiện gần như hiển nhiên ư nghĩa kháng chiến chống xâm lăng mặc dù phía người Pháp vẫn nhắc đến mục tiêu ngăn chống Cộng Sản.

Khi những khó khăn từ nội t́nh chính quốc khiến hy vọng thắng trận tại Đông Dương trở nên mờ mịt, nhất là trước viễn tượng Trung Cộng thành công tại Hoa Lục, Pháp mới khởi sự t́m liên kết với lực lượng dân tộc yêu nước Việt Nam.

Nhưng sự đổi thay này không dễ xóa nḥa ấn tượng dân tộc kháng chiến trong những ngày đầu của cuộc chiến. V́ thế ngộ nhận tiếp tục kéo dài với cả dư luận quốc tế lẫn quần chúng quốc nội, nhất là Cộng Sản dù nắm trọn quyền lănh đạo vẫn luôn giấu kín h́nh tích, trong khi không thể phủ nhận sự hiện diện nhiều phần tử dân tộc yêu nước nơi hàng ngũ kháng chiến.

Song song với thực tế này là những khó khăn tất yếu tồn tại trong quá tŕnh thực hiện liên kết giữa Pháp và lực lượng dân tộc yêu nước Việt Nam ở trận tuyến bên kia.
H́nh ảnh các quan thuộc địa kéo dài từ ngót một thế kỷ không thể tan biến ngay, trong khi sự đối đầu giữa một đội quân viễn chinh với một lực lượng bản xứ luôn tạo ấn tượng về sự hiện diện giữa phe xâm lược ở phía này và phe yêu nước ở phía khác. Thành ra, dù Việt Nam thực sự trở thành cuộc chiến cục bộ trong bối cảnh chiến tranh ư thức hệ Cộng Sản - Tự Do ngay từ 1948, nhưng tính chất này tiếp tục bị vùi lấp.

Vai tṛ chủ động của lực lượng dân tộc yêu nước Việt Nam bên cạnh người Pháp trong trận tuyến ngăn chống Cộng Sản không được nhận ra, thậm chí c̣n bị xuyên tạc là một thứ bù nh́n cho thực dân.

Sau 1954, khi đất nước bị chia đôi và cuộc chiến đă chuyển sang một giai đoạn khác, lối nh́n này tiếp tục tồn tại với nhiều người bất chấp mọi thực tế lịch sử để đặt ngay người Mỹ vào vị thế cũ của người Pháp.

Nhưng thực tế phức tạp chỉ là một phần nguyên do dẫn đến cái nh́n thiếu chính xác về tính chất cuộc chiến Việt Nam, nhất là cuộc chiến sau 1954.

Nguyên do chủ yếu dẫn tới t́nh trạng ngộ nhận thuộc về trận tuyến tuyên truyền mà Cộng Sản liên tục nắm quyền chủ động.
Với quan niệm chiến tranh liên tục, trường kỳ và toàn diện, Cộng Sản không giới hạn sự đối đầu với kẻ địch trong một phương diện nào mà luôn tạo thế hỗ tương giữa nhiều trận tuyến, trong đó tuyên truyền là trận tuyến được đặc biệt chú trọng.

Trước hết, trận tuyến tuyên truyền không cần bom đạn vẫn đem lại thành quả lớn gấp bội lần so với những trận đánh sử dụng bom đạn.

Trong quan niệm đấu tranh Cộng Sản, tuyên truyền vận dụng mọi khả năng nên tiến hành dễ dàng ở mọi nơi, mọi lúc và gần như luôn tạo ra sức mạnh quyết định kết quả của mọi trận đánh. Tuyên truyền vừa tiêu hao lực lượng kẻ địch vừa biến đổi, chi phối kẻ địch theo ư đồ sai sử, v́ tác dụng chủ yếu của tuyên truyền là thuyết phục, dẫn dắt tâm lư, tư tưởng đối tượng để xoay chuyển về một định hướng trù liệu.

Suốt hai giai đoạn chiến tranh Việt Nam từ 1945 tới 1975, trận tuyến tuyên truyền Cộng Sản không ngừng nỗ lực xoay chuyển tâm lư, tư tưởng mọi đối tượng theo hướng kết buộc các cường quốc Tây Phương, cụ thể là Pháp rồi Mỹ, đă nối nhau theo đuổi tham vọng thực dân đế quốc.

Mục tiêu của nỗ lực này không chỉ nhằm thuyết phục riêng quần chúng Việt Nam tham gia lực lượng do Cộng Sản Việt Nam lănh đạo mà nhằm gieo rắc thái độ bất b́nh, thù hận Tây Phương ở khắp nơi trên thế giới trong khuôn khổ cuộc chiến ư thức hệ toàn cầu do Cộng Sản Quốc Tế phát động.

Đạt tới cái nh́n về tính chất cuộc chiến Việt Nam theo định hướng này là một mục tiêu chiến lược trong tiến tŕnh đấu tranh giai cấp để thực hiện liên minh mở rộng lực lượng chống tư bản trên khắp thế giới. Tất nhiên, tầm vóc này của mục tiêu khiến trận tuyến tuyên truyền về cuộc chiến Việt Nam đă có sự tham gia tích cực của toàn thể các quốc gia Cộng Sản cùng mọi tổ chức ngoại vi chịu sự chi phối của Cộng Sản ở mọi nơi .

Từng ngày, từng giờ, người dân khắp thế giới không ngừng được nghe, được đọc, được nhắc nhở những tin tức, những sự việc do các bộ máy tuyên truyền Cộng Sản chọn lọc, tô chuốt và cuối cùng khó tránh khỏi dấy lên các ấn tượng thuận lợi cho Cộng Sản, thậm chí trở thành những công cụ tự nguyện. Đây là trường hợp của những nhà báo như Wilfred Burchett của Úc, Madeleine Riffaud của Pháp, Don Luce của Mỹ hoặc những nhân vật nổi danh như Jane Fonda, Cora Weiss, Diane Johnstone … và ngay cả đức Giáo Hoàng cũng bị cuốn vào ṿng khai thác để chinh phục dư luận trong thời gian diễn ra cuộc ḥa đàm về Việt Nam tại Paris.

Biến không thành có, đổi một thành mười, chuyển mười thành trăm, ngàn… vốn là nghệ thuật siêu đẳng trong tuyên truyền Cộng Sản sau quá tŕnh thực hành kéo dài gần trọn thế kỷ.

Có thể nói không sợ lầm lẫn rằng sự bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản trong thế kỷ 20 đă dựa phần lớn vào thành quả của trận tuyến tuyên truyền, một trận tuyến gần như luôn bỏ ngỏ với khối các quốc gia tự do.

Do đó, cái nh́n thiếu chính xác của nhiều người về tính chất cuộc chiến Việt Nam không phải là điều đáng ngạc nhiên.

Kể từ khi mở đầu cuộc chiến năm 1945, trận tuyến tuyên truyền gần như sân khấu độc diễn của Cộng Sản.

Trong tác phẩm Vietnam, le dossier noir du Communisme, Michel Tauriac đă nhắc lại hai tấm h́nh và vụ một đơn vị Mỹ sát hại 500 người dân ấp Mỹ Lai khiến dư luận khắp thế giới không những vùi lấp chính nghĩa của những người Việt Nam yêu nước mà c̣n thù hận những người này đồng thời cũng khinh ghét quân đội Mỹ.

Tauriac viết: “Hai h́nh ảnh đă làm mất đi chính nghĩa của Sài G̣n trên toàn thế giới. Một tấm cho thấy tướng Loan, chỉ huy trưởng Cảnh Sát miền Nam ngay trước các nhiếp ảnh viên đă bắn hạ ngoài đường phố bằng một phát súng lục một kẻ chỉ vài phút trước đó đă giết người hàng loạt… Và tấm khác, chụp cô bé gái 9 tuổi chạy ngoài đường, hoàn toàn lơa lồ, sau lưng là các tia nổ tung của bom napalm nháng lửa… Hai tấm h́nh khủng khiếp dán vào trán nước Mỹ như hai vết phỏng… Nước Mỹ đă bị hỏng cả mặt.”

Trước nỗi bất b́nh cực điểm của dư luận thế giới về hai tấm h́nh cùng sự việc được nêu, Tauriac nhớ lại nhiều h́nh ảnh và sự việc khác: “Không xa Mỹ Lai bao nhiêu là một ngôi làng nhỏ Quảng Ngăi, có hai bệnh viện… Trong đêm Tết 1968, quân Cộng Sản xông vào một bệnh viện. Y tá, bác sĩ, bệnh nhân nằm trên giường đều bị giết chết, súng cứ nhả đạn thả dàn. Khi những người Cộng Sản ra đi, thần chết đă mang theo hết mọi người…”

Và tấm h́nh thành phố Huế sau ngày 24 tháng Hai 1968 khi quân đội Cộng Sản bị đánh bật khỏi đây: “Khi rút lui về rừng, nhóm tấn công mang theo nhiều gia đ́nh để làm bia đỡ đạn. Các tù nhân này không sống sót trên đời được lâu. Một số bị bắn, bị bóp cổ, bị đâm bằng dao… Một số khác phải tự đào lấy mồ trước khi bị chôn sống, bị trói dính thành xâu từng khoảng mười đến mười lăm người … Khoảng năm mươi hố chôn tập thể được khám phá trong thành phố và các vùng lân cận. Ba ngàn thi hài làm nghẹt các hào rănh của thành phố đổ nát.”

Một h́nh ảnh khác không xa Huế là đoạn đường phía Nam thị xă Quảng Trị. “Năm 1972, mười mấy ngàn xác chết nằm ngổn ngang trên đó, xác của những người dân sống trong vùng đất trận mạc này, khi quân đội Bắc Việt tấn công, đă bỏ trốn do nh́n thấy số phận mà người dân Huế được Cộng Sản dành cho vào bốn năm trước. Trên suốt mười cây số, chỉ là những đống thịt đầy máu me trộn lẫn với những hành trang rải rác…”
Một sự việc cũng ch́m vào im lặng dù không thể phai nḥa trong kư ức kinh hoàng của nhiều người Pháp từng sống tại Sài G̣n: “Ngày 25.9.1945, Trần Văn Giàu đă tự tay và thúc giục đồng bọn tàn sát 450 phụ nữ cùng trẻ em Pháp và lai Âu tại phố Heyraud giữa trung tâm Sài G̣n… Vợ và con người Việt của các người Pháp cũng không được tha. Khắp nơi hàng ngàn vụ tàn sát diễn ra… Khắp nơi các hố chôn tập thể được khám phá…”

Tauriac tự hỏi tại sao cho tới nay, báo chí tả khuynh Pháp không thốt lên tiếng kêu khiếp hăi nào về tất cả những sự việc đó mà chỉ nói tới vụ Mỹ Lai và hai tấm h́nh kia?

Làm sao báo chí tả khuynh có thể làm khác, khi trận tuyến tuyên truyền Cộng Sản đă định hướng là phải biến phe địch thành những tập đoàn tội ác, những kẻ thù của nhân loại và tô điểm bức chân dung bản thân bằng những màu sắc thiết tha v́ dân v́ nước!

Điểm quan trọng hơn sự im lặng của báo chí tả khuynh là chính báo chí không tả khuynh đă bị lôi cuốn, kích động và trở thành những trợ thủ đắc lực cho Cộng Sản trên trận tuyến tuyên truyền.

Do đó, tội ác thực sự khủng khiếp đă bị vùi lấp trong khi những h́nh ảnh b́nh thường trong chiến tranh được biến thành tội ác và phóng đại thành những tội ác chưa từng có trong lịch sử. Đây cũng là phương thức áp dụng để diễn tả thực chất cuộc chiến Việt Nam theo định hướng tuyên truyền Cộng Sản.
Trong tuyên truyền Cộng Sản, cuộc chiến Việt Nam được vận dụng như một nguồn chứng cớ tố giác t́nh trạng phạm tội của toàn bộ phe tự do, đồng thời xác định chính nghĩa v́ dân v́ nước của phe Cộng Sản.

Thành quả mà trận tuyến tuyên truyền Cộng Sản đạt được là thực tế của một giai đoạn lịch sử đă bị lật ngược để đổi đen thành trắng, ít nhất cũng với một số khá đông người trên thế giới.

Nói cách khác, ngoài tính vàng thau lẫn lộn của một thực trạng phức tạp, h́nh ảnh cuộc chiến Việt Nam đối với khá đông người trên thế giới chỉ là sản phẩm của tuyên truyền. Trên căn bản này, bức chân dung Hồ Chí Minh với tư cách nhân vật tiêu biểu cho chính nghĩa của phe Cộng Sản trong chiến cuộc Việt Nam cũng không thể mang tính cách nào ngoài tính cách sản phẩm của tuyên truyền.

Điều này chính là lời giải đáp cho câu hỏi do đâu nhân vật Hồ Chí Minh đă được lưu ư ở nhiều nơi trên thế giới và do đâu chính Hồ Chí Minh đă phải đích thân ngồi viết một cuốn sách tự phong cho ḿnh danh vị Cha Già Dân Tộc Việt Nam.
Hồ Chí Minh được nhắc tới ở nhiều nơi v́ cuộc chiến Việt Nam sau 1945 chính là điểm nóng trong cuộc chiến ư thức hệ đang diễn ra.

Đối với khối Tây Phương, cuộc chiến Việt Nam là mũi dùi tấn công trực diện vào chế độ thực dân vẫn được Cộng Sản gán chung cho mọi quốc gia Tây Phương.

Đối với các quốc gia nhược tiểu, cuộc chiến Việt Nam là yếu tố thúc đẩy sự nổi dậy chống lại ảnh hưởng Tây Phương đồng thời là sức hút sự hướng về chủ nghĩa Cộng Sản.

Hồ Chí Minh với tư cách tiêu biểu cho cuộc chiến Việt Nam đă trở thành công cụ trong cuộc đấu tranh giai cấp chống chủ nghĩa tư bản của toàn khối Cộng Sản. Cho nên nhắc nhở theo hướng đề cao Hồ Chí Minh trở thành việc làm cần thiết của toàn khối Cộng Sản cho mục tiêu bành trướng ảnh hưởng để thúc đẩy sự bùng nổ thêm các cuộc chiến cục bộ mới.

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh đă nhận thức rơ tầm mức quan trọng trong việc định hướng cho cách nh́n của dư luận về cuộc chiến Việt Nam và về bản thân ḿnh thuộc trận tuyến tuyên truyền Cộng Sản. Được thụ huấn về chủ thuyết Cộng Sản và các phương pháp đấu tranh tại Mạc Tư Khoa nên Hồ Chí Minh không coi nhẹ trận tuyến tuyên truyền.

Trên thực tế, khi c̣n hoạt động bí mật, Hồ Chí Minh đă được chỉ thị phải nỗ lực thành lập một trường tuyên truyền tại Thái Lan và những thành tựu bước đầu của Hồ Chí Minh tại Hoa Nam cuối năm 1924 hoàn toàn nhờ hoạt động tuyên truyền.

Với Hồ Chí Minh, tuyên truyền không chỉ là phương thế phát triển ảnh hưởng mà c̣n là hoạt động gắn liền với hơi thở của lực lượng đấu tranh nên công tác tuyên truyền luôn được đặc biệt lưu ư.

Cuối năm 1944, Hồ Chí Minh đă đặt tên cho đơn vị vơ trang đầu tiên của Mặt Trận Việt Minh là “đội vũ trang tuyên truyền” để nhắc nhở đồng chí về công tác trọng tâm luôn là công tác tuyên truyền.

Sau đó, trong chính phủ đầu tiên thành lập cuối tháng 8-1945, Hồ Chí Minh đă đặt Bộ Tuyên Truyền trên cả Bộ Quốc Pḥng. Đánh giá tuyên truyền ở tầm mức đó nên việc Hồ Chí Minh ngay cuối năm 1947 đă ngồi viết sách tô vẽ cho bản thân ḿnh là điều dễ hiểu.

Thời điểm trên là thời điểm mà Mặt Trận Việt Minh đối diện với những khó khăn chồng chất, mặc dù đă thành công trong việc triệt hạ các lực lượng đối lập để nắm trọn quyền lănh đạo.

Trước hết, Việt Minh chưa thể bám rễ sâu trong quần chúng v́ các phần tử quốc gia yêu nước vẫn duy tŕ ảnh hưởng ở nhiều nơi và đang có những vận động kết hợp thành một trận tuyến chống lại Cộng Sản.

Dấu hiệu nguy hiểm là người Pháp bắt đầu t́m thế chuyển hướng cho sự hiện diện tại Đông Dương qua vai tṛ đồng minh liên kết với các lực lượng quốc gia Việt Nam.

Dấu hiệu không kém nguy hiểm khác là Hồ Chí Minh không c̣n giấu kín nổi h́nh tích Cộng Sản như thời kỳ hoạt động bí mật trong khi sự nghi ngại trong quần chúng về Cộng Sản vẫn là một thực tế.

Dù đă tuyên bố giải tán Đảng Cộng Sản, Hồ Chí Minh vẫn chưa thu phục trọn vẹn ḷng tin của nhiều người đấu tranh yêu nước và phía Pháp đă tuyên bố không chấp nhận thương lượng với Việt Minh do Hồ Chí Minh là cán bộ Cộng Sản Quốc Tế chịu sự chi phối của Liên Xô.

Nói gọn lại, tính chất Cộng Sản của Hồ Chí Minh đang đe dọa chiêu bài dân tộc yêu nước của Việt Minh đồng thời đẩy Cộng Sản Việt Nam vào cảnh có thể bị chống đối từ quốc nội tới quốc tế.

Tạo ra h́nh ảnh một Hồ Chí Minh tuy từng có tương quan với Cộng Sản nhưng một ḷng v́ dân v́ nước, được toàn thể dân chúng kính yêu chính là một nỗ lực trên trận tuyến tuyên truyền để giải tỏa các áp lực chống đối.

V́ thế, cái tên Hồ Chí Minh chỉ mới xuất hiện lần đầu trước công chúng vỏn vẹn 24 tháng trước và c̣n là mối nghi ngại đối với nhiều người vẫn được chính Hồ Chí Minh diễn tả như một cái tên thân thiết với hết thẩy mọi tầng lớp quần chúng và gán cho quần chúng sự sùng kính tột cùng đối với ḿnh qua những ḍng chữ trơ tráo: “Không có ǵ so sánh được với ḷng dân Việt Nam kính mến tin tưởng lănh tụ Hồ Chí Minh... Nhiều nhà báo và người ngoại quốc rất ngạc nhiên trước ḷng kính yêu của nhân dân Việt Nam đối với vị Cha già Hồ Chí Minh... Hồ Chủ Tịch được nhân dân yêu mến là do ḷng yêu nước, yêu nhân dân ... Hồ Chủ Tịch được nhân dân yêu mến là do ḷng hy sinh và ḷng nhân từ của Người... Chủ tịch không bao giờ nghĩ đến ḿnh. Người chỉ nghĩ đến người khác, nghĩ đến nhân dân... Mọi người kính mến Hồ chủ tịch, nhất là thanh niên và nhi đồng. Ở ngoài mặt trận khi xung phong các chiến sĩ hô lớn: V́ tổ quốc, v́ Bác Hồ tiến lên! V́ Bác Hồ mà những người lao động trong nhà máy và trên đồng ruộng tăng thêm năng suất. Đối với nhi đồng tên bác Hồ như là một người mẹ hiền. Chỉ nhắc đến tên Bác là các em trở nên ngoan ngoăn... Nhân dân gọi chủ tịch là Cha Già của dân tộc, v́ Hồ chủ tịch là người con trung thành nhất của Tổ Quốc Việt Nam”.

Kiều Phong bảo Hồ Chí Minh lố bịch rẻ tiền, Vũ Thư Hiên coi đây là chuyện ngớ ngẩn trong khi Bùi Tín cho rằng Hồ Chí Minh đă diễn một tấn tṛ nực cười…
Những phê phán theo hướng này đă bỏ qua khung cảnh thực tế căng thẳng của Mặt Trận Việt Minh lúc đó và không xét việc làm của Hồ Chí Minh trong tính cách một nỗ lực đấu tranh trên trận tuyến tuyên truyền.

Vào lúc ngồi nặn óc viết ra những điều giả dối trơ trẽn trên, Hồ Chí Minh không bị thúc đẩy chỉ bởi riêng ḷng ham muốn sùng bái cá nhân mà đang chiến đấu cho sự tồn tại trên chính trường của bản thân và phe phái. Cho nên cuốn sách được viết giữa không khí sôi động khốc liệt của chiến trường và vừa viết xong đă gửi cấp tốc qua Ngưỡng Quang để dịch sang ngoại ngữ phổ biến đi khắp nơi.

Chính cuốn sách giả dối trơ trẽn này đă đóng góp lớn lao vào trận tuyến tuyên truyền về cuộc chiến Việt Nam do khối Cộng Sản mở ra trên khắp thế giới những ngày sau đó. Những huyền thoại mà Hồ Chí Minh tạo ra cho ḿnh như con người nhân từ, một ḷng hy sinh v́ nước, được toàn dân yêu mến tôn xưng là Cha Già Dân Tộc… gần như được lập lại ở hầu hết các tác phẩm nói về cuộc chiến Việt Nam theo định hướng kết buộc Pháp - Mỹ đă theo đuổi ư đồ xâm lược và lực lượng dân tộc yêu nước Việt Nam chỉ là một nhóm bù nh́n cho ngoại bang.

Dư luận này đă khiến dấy lên những làn sóng chống đối ở nhiều nơi ngăn trở nỗ lực chiến đấu của phía thế giới tự do và lực lượng yêu nước Việt Nam trong khi hỗ trợ tối đa cho hành động của Cộng Sản.

Tới nay, khối Cộng Sản chỉ c̣n là một dấu tích của thế kỷ 20, nhưng tiếng nói chính xác của thực tế lịch sử Việt Nam cũng như chân dung thực sự của Hồ Chí Minh vẫn chưa thoát cảnh bị vùi lấp dưới ảnh hưởng của trận tuyến tuyên truyền Cộng Sản.

Vẫn c̣n không ít người diễn tả Hồ Chí Minh như một nhà cách mạng ái quốc của Việt Nam, một người có công đầu giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị ngoại bang dù trên thực tế, hết thẩy đều đồng ư rằng Hồ Chí Minh là tín đồ thuần thành của chủ nghĩa Cộng Sản và trong lư thuyết Cộng Sản không có điểm nào dung nạp tinh thần dân tộc.

Những người không thể chối bỏ thực tế hiển nhiên của thảm trạng đời sống Việt Nam suốt già nửa thế kỷ qua th́ biện giải rằng mọi việc đều nằm ngoài ư định của Hồ Chí Minh.

Những cách diễn tả hoặc biện giải này đều đă có lời đáp từ nhiều phía được ghi lại rải rác trong các chương sách trước nên xin được bỏ qua.

Ư nghĩ của chúng tôi chỉ trở lại với một điều từng được tŕnh bày trong cuốn sách viết trước đây là nếu không đặt Hồ Chí Minh cùng cuộc chiến mà ông chủ trương và lănh đạo trong bối cảnh chiến tranh ư thức hệ toàn cầu do Cộng Sản chủ trương th́ chẳng khác những nhà khoa học trước và đương thời với Copernic và Gallilée, cứ nhất định bảo mặt trời xoay quanh trái đất. Mọi người đă rơ số phận của Gallilée lúc ấy nhưng ngày nay chỉ người điên mới nói mặt trời xoay quanh trái đất. Không sớm ắt muộn, thực tế sẽ dơng dạc cất lên tiếng nói chính xác không ǵ có thể rời đổi nổi.

Chúng tôi không dám đem ḿnh sánh với Gallilée để diễn tấn tuồng đom đóm sánh với mặt trời mà chỉ hy vọng những trang sách đă được viết sẽ gợi nhắc phần nào hướng nh́n gần gũi nhất về con người thực của nhân vật Hồ Chí Minh để từ đó có thể khơi lên những tia sáng sẽ làm tỏ lộ dần tính chất thực của những biến cố lịch sử nhuốm đầy tóc tang và đau đớn mà dân tộc Việt Nam phải gánh chịu suốt già nửa thế kỷ qua.

Hy vọng này không chỉ do thúc đẩy của khát khao phát hiện những thực trạng từng bị vùi lấp và c̣n đang bị vùi lấp mà chủ yếu khởi phát từ mong mỏi những tiếng nói hàm chứa trong thực trạng của giai đọan vừa qua sẽ mở ra một lối thoát thực sự cho tương lai đất nước để không bao giờ c̣n lâm cảnh tốn hao xương máu nhiều thế hệ cho thành quả cuối cùng là dấn bước vào một ngơ cụt tối tăm.

Xin được ghi lại như dấu chấm cuối cùng về bức chân dung Hồ Chí Minh, lời trối trước khi giă từ cuộc sống của một người đă dành trọn đời tham gia hàng ngũ đấu tranh do Hồ Chí Minh lănh đạo: “Đất nước ḿnh bất hạnh cùng cực v́ đă có một lănh tụ là ông Hồ!”.


Phụ Lục


01 * ỦY BAN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG
bầu trong “Quốc Dân Đại Hội” Tân Trào 8-7-1945

* Chủ Tịch: HỒ CHÍ MINH

* Phó Chủ Tịch: TRẦN HUY LIỆU, VƠ NGUYÊN GIÁP, PHẠM VĂN ĐỒNG, CHU VĂN TẤN.

* Các ủy viên: NGUYỄN LƯƠNG BẰNG, VŨ Đ̀NH H̉E, DƯƠNG ĐỨC HIỀN, CÙ HUY CẬN, NGUYỄNVĂN XUYẾN, NGUYỄN HỮU ĐANG, NGUYỄN CHÍ THANH, PHẠM VĂN THẠCH, PHẠM NGỌC THẠCH, NGUYỄN Đ̀NH THI.

Gọi là đại hội, nhưng thực ra chỉ có chừng ấy người tham dự.


02 * CHÍNH PHỦ ĐẦU TIÊN (Lâm Thời) thành lập ngày 29- 8-1945

– Chủ Tịch kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao: HỒ CHÍ MINH
– Bộ Trưởng Nội Vụ: VƠ NGUYÊN GIÁP
– Bộ Trưởng Tuyên Truyền: TRẦN HUY LIỆU
– Bộ Trưởng Quốc Pḥng: CHU VĂN TẤN
– Bộ Trưởng Tài Chính: PHẠM VĂN ĐỒNG
– Bộ Trưởng Kinh Tế: NGUYỄN MẠNH HÀ
– Bộ Trưởng Lao Động: LÊ VĂN HIẾN
– Bộ Trưởng Thanh Niên: DƯƠNG ĐỨC HIỀN
– Bộ Trưởng Giáo Dục: VŨ Đ̀NH H̉E
– Bộ Trưởng Tư Pháp: VŨ TRỌNG KHÁNH
– Bộ Trưởng Giao Thông Công Chánh: ĐÀO TRỌNG KIM
– Bộ Trưởng Y Tế, Vệ Sinh: PHẠM NGỌC THẠCH

5 Bộ quan trọng Ngoại Giao, Nội Vụ, Tuyên Truyền, Quốc Pḥng, Tài Chính đều do cán bộ cao cấp cộng sản giữ. Bộ Tuyên Truyền đối với Cộng Sản c̣n quan trọng hơn cả Bộ Quốc Pḥng. Trần Huy Liệu chỉ đứng sau Hồ Chí Minh và Vơ Nguyên Giáp

03 * CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP (Lâm Thời) ngày 01 tháng 01 năm 1946

– Chủ Tịch: HỒ CHÍ MINH
– Phó Chủ Tịch: NGUYỄN HẢI THẦN
Việt Quốc và Việt Cách giữ 2 Bộ Kinh Tế và Vệ Sinh.
C̣n lại là Việt Minh.


04 * CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP (Thứ Nhất) ngày 02 tháng 03 năm 1946

– Chủ Tịch: HỒ CHÍ MINH (VM)
– Phó Chủ Tịch: NGUYỄN HẢI THẦN (Việt Cách)

– Bộ Trưởng Tư Pháp: VŨ Đ̀NH H̉E (VM)
– Bộ Trưởng Giáo Dục: ĐẶNG THÁI MAI (VM)
– Bộ Trưởng Tài Chính: LÊ VĂN HIẾN (VM)
– Bộ Trưởng Công Chánh: TRẦN ĐĂNG KHOA (VM)
– Bộ Trưởng Ngoại giao: NGUYỄN TƯỜNG TAM (VNQDĐ)
– Bộ Trưởng Kinh tế: CHU BÁ PHƯỢNG (VNQDĐ)
– Bộ Trưởng Y tế: TRƯƠNG Đ̀NH TRI (Việt Cách)
– Bộ Trưởng Canh Nông: BỒ XUÂN LUẬT (Việt Cách)
– Bộ Trưởng Nội vụ: HUỲNH THÚC KHÁNG (Không đảng phái)
– Bộ Trưởng Quốc Pḥng: PHAN ANH (Không đảng phái)


* Chú thích 1: Theo Vơ Nguyên Giáp trong Những năm tháng không thể nào quên, 2 ghế đáng lẽ dành cho Nam Bộ, được dành cho các đảng đối lập, 2 Bộ Nội Vụ và Quốc Pḥng dành cho trung lập. Việt Minh và Dân Chủ giữ 4 Bộ Tài Chính, Giáo Dục, Tư Pháp, Giao Thông. Việt Quốc và Việt Cách giữ 4 Bộ Ngoại Giao, Kinh Tế, Xă Hội, Canh Nông. Phó chủ tịch: Nguyễn Hải Thần (vắng mặt). Chính phủ thành lập trong nửa giờ, ngay tại Quốc Hội mà chủ tịch là Ngô Tử Hạ, một nhân sĩ Công Giáo.

* Chú thích 2: Theo Án Tích Cộng Sản Việt Nam của Trần Gia Phụng, tr. 78, thêm Dương Đức Hiền giữ Bộ Thanh Niên, Nguyễn Văn Tạo giữ Bộ Lao Động, Nghiêm Kế Tổ giữ chức Thứ Trưởng Ngoại Giao, Cù Huy Cận giữ chức Thứ Trưởng Canh Nông.


05 * CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP (Thứ Hai ) ngày 13 tháng 11 năm 1946

Cố Vấn Tối Cao: VĨNH THỤY (đă bỏ qua HK)
Chủ Tịch kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao: HỒ CHÍ MINH
– Bộ Trưởng Nội Vụ: HUỲNH THÚC KHÁNG
– Bộ Trưởng Quốc Pḥng: VƠ NGUYÊN GIÁP
– Bộ Trưởng Tư Pháp: VŨ Đ̀NH H̉E
– Bộ Trưởng Tài Chính: LÊ VĂN HIẾN
– Bộ Trưởng Giáo Dục: NGUYỄN VĂN HUYÊN
– Bộ Trưởng Canh Nông: NGÔ TẤN NHƠN
– Bộ Trưởng Giao Thông Công Chánh: TRẦN ĐĂNG KHOA
– Bộ Trưởng Lao Động: NGUYỄN VĂN TẠO
– Bộ Trưởng Y Tế: HOÀNG TÍCH TRI
– Bộ Trưởng Xă Hội: CHU BÁ PHƯỢNG
– Thứ Trưởng Ngoại Giao: HOÀNG MINH GIÁM
– Thứ Trưởng Nội Vụ: HOÀNG HỮU NAM, tức PHAN BÔI
– Thứ Trưởng Quốc Pḥng: TẠ QUANG BỬU
– Thứ Trưởng Tư Pháp: TRẦN CÔNG TƯỜNG
– Thứ Trưởng Kinh Tế: PHẠM VĂN ĐỒNG
– Thứ Trưởng Tài Chính: TRỊNH VĂN BÍNH
– Thứ Trưởng Giáo Dục: NGUYỄN KHÁNH TOÀN
– Thứ Trưởng Canh Nông: CÙ HUY CẬN
– Thứ Trưởng Giao Thông Công Chánh: ĐẶNG PHÚC THÔNG
– Quốc Vụ Khanh (Bộ Trưởng Không Bộ): NGUYỄN VĂN TỐ, BỒ XUÂN LUẬT.


06 * THÀNH PHẦN DB QUỐC HỘI ĐẦU TIÊN tháng 01-1946

– Mác xít: 10 đại biểu – Việt Cách: 22 đại biểu
– Xă hội: 27 đại biểu – Việt Quốc: 26 đại biểu
– Dân chủ: 15 đại biểu – Việt Minh: 82 đại biểu
– Độc lập: 90 đại biểu.

(các con số chính thức lúc ấy)

07 * CHÍNH PHỦ LÂM THỜI CHMNVN thành lập ngày 8-6-1969

Thủ Tướng: HUỲNH TẤN PHÁT
Phó Thủ Tướng: PHÙNG VĂN CUNG

– Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng: TRẦN BỬU KIẾM
– Bộ Trưởng Quốc Pḥng: TRẦN NAM TRUNG
– Bộ Trưởng Ngoại Giao: NGUYỄN THỊ B̀NH
– Bộ Trưởng Nội Vụ: PHÙNG VĂN CUNG
– Bộ Trưởng Kinh Tài: CAO VĂN BỐN
– Bộ Trưởng Thông Tin Văn Hóa: LƯU HỮU PHƯỚC
– Bộ Trưởng Tư Pháp: TRƯƠNG NHƯ TẢNG
– Bộ Trưởng Y Tế: DƯƠNG QUỲNH HOA
– Bộ Trưởng Giáo Dục: NGUYỄN VĂN KIẾT


08 * NỘI CÁC CUỐI CÙNG của triều Nguyễn với vua Bảo Đại

Thượng Thư Bộ Lại (Nội Vụ, tương đương Thủ Tướng):
PHẠM QUỲNH
– Thượng Thư Bộ Hộ (Tài Chánh): HỒ ĐẮC KHẢI
– Thượng Thư Bộ Lễ: ƯNG ỦY
– Thượng Thư Bộ H́nh (Tư Pháp): BÙI BẰNG ĐOÀN
– Thượng Thư Bộ Học: TRẦN THANH ĐẠT
– Thượng Thư Bộ Kinh (Tế): TRƯƠNG NHƯ ĐỊNH


09 * CHÍNH PHỦ TRẨN TRỌNG KIM (sau Nhật đảo chính Pháp)

Thủ Tướng:
TRẦN TRỌNG KIM

– Bộ Trưởng Nội Vụ: TRẦN Đ̀NH NAM
– Bộ Trưởng Ngoại Giao: TRẦN VĂN CHƯƠNG
– Bộ Trưởng Tài Chính: VŨ VĂN HIỀN
– Bộ Trưởng Kinh Tế: HỒ BÁ KHANH
– Bộ Trưởng Tiếp Tế: NGUYỄN HỮU THI
– Bộ Trưởng Giáo Dục và Mỹ Thuật: HOÀNG XUÂN HĂN
– Bộ Trưởng Tư Pháp: TRỊNH Đ̀NH THẢO
– Bộ Trưởng Giao Thông Công Chánh: LƯU VĂN LANG
– Bộ Trưởng Y tế và Cứu Tế: VŨ NGỌC ANH
– Bộ Trưởng Thanh Niên: PHAN ANH.


10 * VÀI BÚT HIỆU và BÍ DANH của HỒ CHÍ MINH
được nhắc tới trong sách

– NGUYỄN SINH CUNG
– NGUYỄN TẤT THÀNH
– BA
– PAUL
– NGUYỄN ÁI QUỐC, QUỐC, QUẤC hay NGUYỄN.
– LƯ THỤY, LY, LEE (phụ tá và thông ngôn của Borodin),
– VƯƠNG, VƯƠNG SƠN NHỊ,
– TRƯƠNG NHƯỢC TRỪNG
– TỐNG VĂN SƠ
– HỒ QUANG
– NILOPSKI (1925-1927 ở Hoa Nam)
– LIN, LINOV (khi ở LX)
– LU, LOU (phóng viên báo Rosta ở Hoa Nam)
– TRẦN DÂN TIÊN, TRẦN ZÂN TIÊN (bút hiệu )
– T. LAN (như trên)
– XYZ (bút hiệu)
– TRẦN LỰC (bút hiệu)
– LUCIUS (bí danh để liên lạc với OSS của Mỹ)

11 * NHỮNG NĂM SINH của HỒ CHÍ MINH

– 1890: (ngày 19 tháng 5) được chính thức công nhận.
Nhưng không có ǵ bảo đảm là đúng,
nhất là về ngày sinh.
– 1891: được anh ông Hồ là Nguyễn Tất Đạt, cũng gọi là
Nguyễn Sinh Khiêm khai.
Sơn Tùng (CS) và Cao Thế Dung khẳng định là đúng.
– 1892: được chính Hồ Chí Minh ghi trong đơn xin nhập học
trường thuộc địa.
– 1893: theo bà Nguyễn Thị Thanh, chị ông Hồ khai
– 1894: ghi tại hồ sơ cảnh sát Pháp và sổ hộ làng Kim Liên
– 1895: Nguyễn Ái Quốc khai tại ṭa đại sứ Liên Xô ở Đức.


12 * CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ CỘNG SẢN

– QUỐC TẾ 1 hay ĐỆ NHẤT QUỐC TẾ:
tức Hội Quốc Tế Công Nhân do Marx và Engels
lập ngày 28-9-1864 tại London, Anh Quốc.
Giải tán năm 1876
tại Philadelphia, Hoa Kỳ.

– QUỐC TẾ 2 hay ĐỆ NHỊ QUỐC TẾ:
tức Liên Minh Quốc Tế Các Đảng Xă Hội
thành lập tại Paris năm1889.

– QUỐC TẾ 3 hay ĐỆ TAM QUỐC TẾ
tức Comintern hay Quốc Tế Cộng Sản do Lênin
lập năm 1919 tại Moscow.
Giải tán theo lệnh của Stalin năm 1943.

– QUỐC TẾ 4 hay ĐỆ TỨ QUỐC TẾ
do Trotsky lập năm 1938 ở Pháp
trong t́nh trạng bị trục xuất khỏi Liên Xô.

13 * CÁC ĐẠI HỘI QUỐC TẾ 3 từ đại hội 1 đến đại hội 7

– Đại Hội 1: từ 2 đến 6-3-1919
– Đại Hội 2: 1920 tại Petrograd (các đại hội khác họp tại Moscow)
– Đại Hội 3: từ tháng 6 đến tháng 7-1921
– Đại Hội 4: tháng 11 và 12-1922.
– Đại Hội 5: 17-6 đến 8-7-1924 có 504 đại biểu của 49 đảng Cộng
Sản, 10 tổ chức quốc tế. Hồ Chí Minh là đại biểu
đầu tiên và duy nhất của Đông Dương
– Đại Hội 6: ngày 8-9-1928, Hồ Chí Minh không dự, tả khuynh.
Chống thỏa hiệp, liên hệ với tư sản và các phong trào
dân chủ. Lănh tụ Cộng Sản Ấn M. N. Roy bị khai
trừ v́ chống đường lối của đại hội này.
(theo Hồng Hà)
– Đại Hội 7: ngày 25-7-1935 cũng là đại hội chót của Quốc Tế 3.
Trong số 513 đại biểu của 76 đảng đại diện 3 triệu
140,000 đảng viên, có 3 người Việt Nam là Lê Hồng
Phong, Tú Hưu và Nguyễn Thị Minh Khai.
Theo Hồng Hà,“Anh Nguyễn chỉ được mời với tư cách là đại biểu tư vấn”. Đề tài chính trong đại hội này là “chống chủ nghĩa phát-xít.”


14 – CÁC ĐẠI HỘI Đảng Cộng Sản Việt Nam

– Đại Hội 1: 1935, tại Macao. Số đảng viên chỉ mấy trăm, sau tháng 8-1945 lên 5,000 đảng viên. Ngày 11-11-1945, Đảng Cộng Sản tự giải tán, rút vào bí mật trở thành Hội Nghiên Cứu Mác Xít.
– Đại Hội 2: 1951, Hội Nghiên Cứu Mác Xít biến thành đảng Lao Động tại Tuyên Quang số đảng viên khi giải tán chỉ có khoảng 5000, sau 6 năm lên 760,000.
– Đại Hội 3: 1960, tại Hànội (tất cả các đại hội từ nay đều ở Hànội). Lê Duẩn được cử làm bí thư thứ nhất.(danh
xưng theo LX lúc ấy Khrutshchev cũng tự xưng bí
thư thứ nhất. Thực chất không khác tổng bí thư).
– Đại Hội 4: 1976, Đảng Cộng Sản tái lập sau khi chiếm miền Nam. Số đảng viên là 1,553,500 (trong số 49.6 triệu dân, bằng 3,22% dân số toàn quốc). Lê Duẩn chủ tŕ.
– Đại Hội 5: 1982, 5 người bị loại khỏi Bộ Chính Trị: Vơ Nguyên Giáp, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh, Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Văn Linh.
– Đại Hội 6: 1986, quyết định “Đổi Mới”, bầu Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí Thư.
– Đại Hội 7: 1991, Đỗ Mười làm Tổng Bí Thư.
– Đại Hội 8: 1996, Đỗ Mười và Lê Khả Phiêu
– Đại Hội 9: 2001, Nông Đức Mạnh.


15 - DANH SÁCH 20 ĐẢNG VIÊN CSVN được đào tạo tại trường Lao Động Đông Phương tại Mạc Tư Khoa (Trường Stalin)

01- Bùi Công Trừng (1905-1977)
02- Bùi Lâm, tức Nguyễn Văn Xích (1896- ?)
03- Dương Bạch Mai (1905-1964)
04- Hà Huy Tập (1902-1941)
05- Hồ Tùng Mậu (1896-1951)
06- Hoàng Văn Nọn (Tú Hưu)
07- Lê Hồng Phong tự Litvinov (1902-1942)
08- Ngô Đức Tŕ (1902-?), con Ngô Đức Kế
09- Nguyễn Hữu Cần
10- Nguyễn Khánh Toàn bí danh Robert (1905-1993)
11- Nguyễn Thế Rục (1905-1937)
12- Nguyễn Thế Vinh (1904-1945)
13- Nguyễn Thị Minh Khai hay cô Duy (1910-1941)
14- Nguyễn Văn Dựt
15- Nguyễn Văn Trấn bí danh Prigorny (1914-1998)
16- Phùng Chí Kiên (1901-1941)
17- Trần Ngọc Danh, em Trần Phú, (1908 -1950)
18- Trần Phú (1904-1931)
19- Trần Văn Giàu (1911)
20- Trần Văn Kiệt

Chú thích: Trừ Trần Văn Giàu c̣n sống, Nguyễn Khánh Toàn và Nguyễn Văn Trấn tương đối thọ, hầu hết đều chết trẻ. Điểm đáng lưu ư là cả 20 người được đào tạo tại ḷ Stalin này, không ai có chân trong các chính phủ đầu tiên của Hồ Chí Minh. Ngay cả trong ủy ban giải phóng tiền cách mạng tháng tám cũng không. Như vậy chỉ có một ḿnh Hồ Chí Minh do Liên xô trực tiếp đào tạo, rèn đúc, đại diện duy nhất của Quốc Tế 3, toàn quyền xử trí mọi việc.


16 – NHỮNG BÀ VỢ và NGƯỜI T̀NH của Hồ Chí Minh

– Cô Bourdon và cô Brière ở Pháp
– Một cô người Nga
– Tăng Tuyết Minh, y tá Trung Hoa theo đạo Ki Tô
– Nguyễn Thị Minh Khai, vợ của Lê Hồng Phong, tổng bí thư đảng
– Đỗ Thị Lạc
– Nông Thị Xuân v.v…


17– MỘT SỐ NIÊN HIỆU LIÊN QUAN đến cuộc đời của Hồ Chí Minh

– 19-05-1890: Ra đời với tên Nguyễn Sinh Cung sau đổi là Nguyễn
Tất Thành. (Theo tư liệu chính thức của CSVN)
– 05-06-1911: Nguyễn Tất Thành xuống tầu Latouche-Tréville làm
phụ bếp để xuất dương (lấy tên Ba).
– 15-09-1911: Paul Tất Thành nộp đơn xin học trường Thuộc Địa.
– 10-10-1911: Cách mạng Tân Hợi thành công tại Trung Quốc
– 1915: Nguyễn Tất Thành đến Mỹ, rồi sang Anh
– 1917: Định cư tại Pháp
– Th. 3-1919: Lênin lập Quốc Tế 3 tức QTCS (Komintern)
– 1919: Nguyễn Ái Quốc đưa thỉnh nguyện thư 8 điểm cho
hội nghị Versailles về Ḥa B́nh (Nguyễn Ái Quốc
lúc ấy là tên chung của nhóm yêu nước VN tại Pháp)
– 1920: Dự hội nghị Tours của đảng Xă Hội Pháp. Bỏ phiếu
tán thành QT 3, trở thành đảng viên sáng lập đảng
CS Pháp.
– 1921: Đảng Cộng Sản Trung Quốc thành lập
– 1922: Thành lập Liên Xô (Liên Bang Cộng Ḥa Xă Hội
Chủ Nghĩa Xô Viết)
– 1923: Nguyễn Ái Quốc (HCM) rời Pháp đi Nga, qua ngả
Đức. Tham dự đại hội Quốc Tế Nông Dân (tháng 3).
– 1924: Hiến Pháp đầu tiên của Liên Xô
– 1924: NAQ tham dự đại hội kỳ 5 QT3 (từ 17-6 đến 8-7).
– 1924: NAQ được cử vào Ủy Ban Tuyên Truyền Quốc Tế,
được thành lập liền sau đại hội V của QTCS.
– 11-11-1924: NAQ đến Quảng Châu, Hoa Nam làm phụ tá kiêm
thông dịch cho Borodin, trưởng đoàn trong phái bộ của LX bên cạnh chính phủ TH của Tôn Dật Tiên.

– Th.6-1925: Thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng
Chí Hội từ Tâm Tâm Xă (không cộng sản). Hội này
là hạt nhân của đảng CS Việt Nam 4 năm sau.
– 1927: Cùng Borodin chạy trốn khỏi Trung Quốc, về Nga,
sau khi sự hợp tác Quốc Cộng Trung Hoa tan vỡ.
– 1928: Tới Thái Lan qua ngả Pháp, Ư, Tân Gia Ba. Nhiệm
vụ: Tổ chức các chi bộ cộng sản đầu tiên ở Xiêm,
Mă Lai, Nam Dương, Miến Điện.
– 27-10-1929: Thư của QTCS chỉ thị hợp nhất 3 đảng CS ở ĐD
– 03-02-1930: NAQ thay mặt QT3 thống nhất 3 đảng CS, và được
coi là sáng lập viên ĐCSVN (ít tháng sau đổi thành
Đảng CS ĐD theo chỉ thị của QT 3).

– 01-05-1930: Mở đầu phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Bắt đầu biểu
t́nh bạo động trên khắp nước.
– Th.10-1930: Ban hành luận cương chính trị của đảng do Trần Phú
soạn thảo, sau khi ở Liên Xô về nước. Trần Phú
được bầu Tổng Bí Thư đầu tiên của đảng

– 19-04-1931: Trần Phú, Tổng Bí Thư CSVN đầu tiên bị bắt.
– 06-06-1931: NAQ bị Cảnh sát Anh bắt tại Hồng Kông. QT3 vận
động, nhờ luật sư Loseby can thiệp, giúp Quốc ra
khỏi tù.
– 1933: Sống ở Nga hơn 4 năm, học trường QT 3 năm.
– 1935 (27 đến 31-03): Đại Hội I của CSVN tại Macao.
– 1935 (25-7 đến 20-8): Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội 7, QT3
với tư cách đại biểu tư vấn. Lê Hồng Phong tham dự
với tư cách đại biểu chính thức của ĐCSVN.
– 01-09-1939: Thế chiến II bùng nổ.
– Th.11-1939: Hội nghị Trung Ương đảng CS ĐD kỳ 6
– Th.11-1940: Hội nghị Trung Ương đảng CSĐD kỳ 7

– 1941: Cướp danh nghĩa VM của ông Hồ Học Lăm (tức
Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội thành lập năm
1935), gạt người quốc gia phi Cộng Sản ra.

– 19.05.1941: thành lập mặt trận Việt Minh ở Pac Bo (phỏng theo
tổ chức Việt Minh của Hồ Học Lăm: bỏ chữ hội ở
cuối và thêm 2 chữ mặt trận vào đầu)
– 1942: lấy tên Hồ Chí Minh.
– 28.08.1942: Bị chính quyền THDQ bắt giam ở Quảng Tây
– 1944: Nhờ sự can thiệp của Nghiêm Kế Tổ, HCM được thả
cùng với Nguyễn Tường Tam, nhận lời với tướng
Trương Phát Khuê cung cấp tin t́nh báo về quân
Nhật tại Đông Dương.
– 19-12-1944: Thành lập đội vũ trang tuyên truyền giải phóng quân
giao cho Vơ Nguyên Giáp chỉ huy.
– 09-03-1945: Nhật đảo chính Pháp tai Động Dương.
– 11-03-1945: Hoàng Đế Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập.
– 06-08-1945: LX tuyên chiến với Nhật vào giờ chót.
– 15-08-1945: Nhật đầu hàng.
– 16-08-1945: Đại Hội Quốc Dân tại Tân Trào, thành lập ủy ban
giải phóng quốc gia, HCM được bầu làm chủ tịch.

– 17-08-1945: Việt Minh giật micro, cướp diễn đàn trưng biểu ngữ
và cờ VM, biến cuộc mít tinh của hội công chức ủng hộ nội các Trần Trọng Kim thành mít tinh ủng hộ Việt Minh.
– 19-08-1945: VM cướp chính quyền tại Hà Nội (Cách Mạng Th.8)
– 02-09-1945: Tuyên ngôn Độc Lập.
– 11-11-1945: Hồ giải tán đảng CSVN.
– 06-01-1946: Bầu cử quốc hội đầu tiên. Hồ tặng các đảng đối lập
70 trong số 360 ghế.
– 17-01-1946: Hồ cho lệnh thống nhất các lực lượng vũ trang.
– 28-02-1946: Thỏa ước Pháp-Hoa. Pháp trả TH một số nhượng địa
đổi lại Trung Hoa để quân Pháp vào Bắc Việt thay
thế quân TH.
– 02-03-1946: Quốc hội họp khẩn cấp một ngày trước dự định, lập
chính phủ liên hiệp trong một giờ (theo Bernard Fall
th́ trong nửa giờ)
– 06-03-1946: Kư với Sainteny hiệp ướcsơ bộ (Convention Prélimi-
naire) 6/3, bên cạnh có chữ kư của Vũ Hồng Khanh.

– 17-04-1946: Hội nghị Đà Lạt. Trưởng đoàn: Nguyễn Tường Tam.
– 01-08-1946: Hội nghị Đà Lạt ngưng họp vĩnh viễn.
– 27-05-1946: Thành lập Mặt trận Liên Việt với mục đích quy tụ
mọi xu hướng đảng phái c̣n ở ngoài VM. Ai không vào coi như Việt gian, chống lại đường lối cứu nước của VM. Thực ra Liên Việt chỉ là cái vỏ. Cái cốt lơi vẫn là VM, và cốt lơi của VM vẫn là đảng cộng sản, dù đă giả vờ giải tán.
– 30-05-1946: Cao ủy d’Argenlieu nhân danh chính phủ Pháp nh́n
nhận Cộng Ḥa Nam Kỳ tự trị. Nguyễn Văn Thinh thủ tướng, Nguyển Văn Xuân bộ trưởng Quốc Pḥng

– Th.07-1946: Hồ Chí Minh đi Pháp dự hội nghị Fontainebleau.
– 06-07-1946: Khai mạc hội nghị Fontainebleau.
– 14-09-1946: Kư tạm ước Modus Vivendi với Marius Moutet, Bộ
trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại tại pḥng ngủ của Moutet lúc nửa đêm. (Thủ tướng Pháp lúc ấy là George Bidault)
– 09-11-1946: Ban hành hiến pháp đầu tiên của Việt Nam DCCH

– Th.11-1946: Quốc hội tuyên bố chính thức công nhận Mặt Trận
Liên Việt (trung ương gồm 12 đảng viên Lao Động,
6 Việt Minh và 9 các thành phần khác).
– 19-12-1946: Tuyên bố toàn quốc kháng chiến
– 21-01-1947: Paul Ramadier thay Léon Blum (cùng đảng Xă hội)
làm thủ tướng Pháp.
– Th. 09.1947: Stalin cho thành lập Cominform.(Pḥng TTCS)
– Th. 06-1948: Ti Tô bị khai trừ khỏi Cominform.
– 1948: Tuyên Bố Vịnh Hạ Long, Pháp đồng ư cho VN (dưới
quyền quốc trưởng Bảo Đại) được tự trị trong LHP.
– 08-03-1949: Hiệp ước Élysée tổng thống Pháp Vincent Auriol kư
với Bảo Đại nh́n nhận Việt Nam độc lập trong LHP.
– 01-10-1949: Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc (CS) ra đời.
–1950: CHND Trung Quốc rồi LX thừa nhận VNDCCH.


– 02-02-1950: Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp Ước Élysée
– 21-01-1950: Hội nghị Trung Ương họp tại Tân Trào, Tuyên
Quang, bàn kế hoạch phản công Pháp ở vùng Việt Bắc với viện trợ của Bắc Kinh.
– 11 đến 19-2-1951: Họp đại hội Đảng kỳ 2 tại Chiêm Hóa, Tuyên
Quang, quyết định cho tái sinh đảng cộng sản dưới cái tên “đảng Lao Động Việt Nam”
– 03-03-1951: Ra mắt đảng Lao Động VN.
– 05-03-1953: Stalin chết.
– 1953: Bắt đầu kế hoạch Giảm Tô và CCRĐ đợt I.

– Th.04-1954: Khai mạc hội nghị Geneve về Triều Tiên và ĐD
– 07-07-1954: Nhờ Trung Cộng quân viện và đặc biệt cử 2 tướng
Trần Canh, Vi Quốc Thanh sang đích thân chỉ huy, quân Bắc Việt thắng trận Điện Biên Phủ.
– Th. 07-1954: Hội nghị kỳ 6 TƯ quyết định điều đ́nh với Pháp
– 08-07-1954: Hội nghị Genève bắt đầu bàn về đ́nh chiến ở VN.
– 20-07-1954: Kư hiệp định Genève chia đôi Việt Nam.
– 24-11-1955: Bắc Việt ra lệnh thiết lập chế độ hợp tác xă mua bán
ở nông thôn và HTX tiêu thụ ở thành thị.
– 1956: Cải Cách Ruộng Đất đợt 2 với các ṭa án nhân dân
và đấu tố “long trời lở đất”
– Th.02-1956: Giai Phẩm (mùa Xuân) ra mắt ở Hà Nội.
– 14 đến 25-02-1956: Đại Hội 20 của đảng CSLX. Khrutshchev hạ
bệ Stalin.
– 1956: Giải tán Cominform
– 26-10-1956: (Đệ nhất) Cộng Ḥa Việt Nam ra đời tại miền Nam.
– 1959: Mao Trạch Đông bắt đầu kế hoạch “Đại nhảy vọt” .
– 13-05-1959: Hội nghị trung ương đảng ra nghị quyết “củng cố
miền Bắc, chiếu cố miền Nam”

– 01-01-1960: Ban hành Hiến Pháp thứ 2, gọi là Hiến Pháp 1959.
– 05 đến 10-09-1960: Đại hội 3 đảng Lao Động. (tiếp tục củng cố
miền Bắc, chiếu cố miền Nam)
– 1960: Đặt Lê Duẩn làm Bí Thư Thứ Nhất. Tham dự đại hội 81 đảng CS thế giới.
– 20-12-1960: Cho lập Mặt trận DTGP Miền Nam (20-12-1960)
– 17-10-1961: Đại hội XXII Liên Xô khai mạc, quyết định đưa thi
hài Stalin ra khỏi công trường đỏ.
– 01-01-1962: Thành lập Đảng Nhân Dân Cách Mạng (chi nhánh
đảng CS Việt Nam) tại miền Nam.
– 01-11-1963: Đảo chính lật đổ đệ nhất Cộng Ḥa Việt Nam.
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bị giết ngày hôm sau.
– Th.12-1963: Trung ương đảng CS Việt Nam ra Nghị quyết 9 (bí
mật) chủ trương tiến đánh miền Nam.
– 08-08-1967: Nghị định số 121/CP của Bắc Việt thay đổi âm lịch,
đẩy nhanh lên một ngày.
– 10-11-1967: HCM ban hành luật chống gián điệp, phá hoại, phản
cách mạng ... nhằm mục đích bắt giam những phần tử nghi là trong nhóm xét lại chống đảng.
– 04-02-1968 (mồng 2 Tết Mậu Thân): “Tổng công kích, tổng nổi
dậy”,
vi phạm thỏa hiệp hưu chiến 2 ngày Tết . Thảm sát tại Huế.
– 10-05-1968: Hội nghị bốn bên tại Paris khai mạc.
– 1968 : Lại cho lệnh tổng nổi dậy, tổng công kích vào ngày
sinh thứ 78, 19.05.1968.
– 25-01-1969: Hội nghị (bốn bên) Paris khai mạc phiên họp chính
thức đầu tiên.
– 02-09-1969: HCM qua đời, để lại di chúc nói đi gặp Mác Lê.
– 27-01-1973: Kư Hiệp định đ́nh chiến Paris.
– 30-04-1975: VC vi phạm hiệp định Ba Lê tiến chiếm miền Nam.
– 02-07-1976: Đổi tên nước thành CHXHCN VIỆT NAM (thay cho
ba thực thể VNDCCH + VNCH + CHLTMNVN)
– 17-02-1979 : Quân Trung Cộng tiến đánh biên giới Việt Bắc.



Thư mục

* A - TÁC GIẢ VIỆT NAM

BẢO ĐẠI
• Con Rồng Việt Nam, Nguyễn Phước Tộc, Cali 1990.
Nguyên tác “Le Dragon D’Annam”, Ed. Plon, Paris 1980

BÙI NGỌC TẤN
• Chuyện kể năm 2000, Tuổi Xanh, Cali 2000
(bị Hà Nội tịch thu)

BÙI TÍN
• Hoa xuyên tuyết, Nhân Quyền, Paris 1991
• Mây mù thế kỷ, Đa Nguyên Paris 1998
• 1945- 1999 Vietnam, la face cachée du régime,
Éditions Kergour, Paris 1999 (traduction de l’original
Following HCM, the memoir of a North Vietnamese
Colonel, publié à Londre en 1995 par Hurst & Company)

BÙI XUÂN QUANG
• HCM, sự thật về thân thế và sự nghiệp, Nam Á Paris 1990
• Những điều trông thấy trong cuộc đời HCM, -nt-

CAO THẾ DUNG
• Ba mươi năm máu lửa. Alfa, Falls Church, VA. 1991
• Làm thế nào để giết một tổng thống?
Ḥa B́nh, Sài G̣n 1970.
• Chân tướng HCM và Cộng Sản VN, Hưng Việt, USA 1988
• Việt Nam huyết lệ sử, Đồng Hướng, USA 1996

CHÍNH ĐẠO
• Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại,
Văn Hóa, USA 1991

CƯỜNG ĐỂ
• Cuộc đời cách mạng,
Hồi kư, Sài G̣n 1968

DƯƠNG THU HƯƠNG
• Những thiên đường mù, Hà Nội 1990

DƯƠNG TRUNG QUỐC
•Việt Nam những sự kiện lịch sử 1919-1945
Nxb Giáo Dục, Hà Nội 2001

ĐẶNG H̉A
• Bác Hồ, những năm tháng ở nước ngoài
Trung Tâm UNESCO & Bảo tồn và phát triển
văn hóa dân tộcViệt Nam, Hà Nội 2001

ĐỖ MẠNH TRI
• Di sản Mác xít tại Việt Nam,
Tự Do, Nam Cali 2002

HOÀNG HỮU QUƯNH
• Tôi bỏ đảng, Paris 1989

HOÀNG NGỌC THÀNH
• Những ngày cuối cùng của TT Ngô Đ́nh Diệm,
Cali 1994.
• Why The Vietnam War? President Ngô Đ́nh Diệm and
the US. His overthrow and assassination.
Đại Nam Publishers, Cali 2001.

HOÀNG QUỐC KỲ
• Ma đầu Hồ Chí Minh, Mặt Trận Quốc Dân, Cali. 1995.

HOÀNG VĂN CHÍ
• From Colonialism to Communism,
Frederick A Praeger, New York 1964
• Trăm Hoa đua nở trên đất Bắc,
Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa, Sài G̣n 1959.
HOÀNG VĂN HOAN
• Giọt nước trong biển cả,
Nhóm t́m hiểu lịch sử, 1991

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
• Lịch sử đảng Cộng Sản Việt Nam,
Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội 1999

HỒ CHÍ MINH
 Toàn tập,
ă
Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1996

HỒ SĨ KHUÊ
• Hồ Chí Minh, Ngô Đ́nh Diệm và mặt trận Giải Phóng,
Văn Nghệ, Cali 1992.

HỒNG HÀ
• Bác Hồ trên đất nước Lênin,
Thanh Niên, Hà Nội 2000.

HUY PHONG và YẾN ANH
• Exploring The Hồ Myth – Thằng Mơ, USA 1989

KIỀU PHONG
• Chân Dung Bác Hồ – Bất Khuất, USA 1989.

LÂM THÀNH LIÊM
• Chính sách cải cách ruộng đất của HCM,
sai lầm hay tội ác?
Nam Á, Paris 1990

LÊ TÙNG MINH
• Vụ án thế kỷ đ• tṛng vào cổ đảng CSVN,
Tạp Chí Cách Mạng, số 31, tháng 12-2002

LỮ GIANG
• Những bí ẩn lịch sử đàng sau cuộc chiến Việt Nam,
Tác giả xb, USA 1998.
MINH VƠ
• Sách lược xâm lăng của cộng sản,
Tác giả xb, Saigon 1963–1970
• Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư,
Thông Vũ, Nam Cali 1999.
• Tâm Sự Nước Non, Ai Giết HCM?
Tiếng Quê Hương, Virginia 2002

NGHIÊM XUÂN HỒNG
• Lịch tŕnh diễn tiến phong trào quốc gia Việt Nam
Ngày Về, Denver 1985

NGUYỄN CHÍ THIỆN
• Hoa Địa Ngục,
tức Bản chúc thư của một người Việt Nam
Văn Nghệ Tiền Phong, tháng 10-1980.

NGUYỄN KHẮC HUYÊN
• Vision Accomplished? The Enigma of HCM,
Macmillan, New York 1971.

NGUYỄN LƯ TƯỞNG
• Thuyền ai đợi bến Văn Lâu,
Tác giả xb Hoa Kỳ 2001.

NGUYỄN MINH CẦN
•Đảng CSVN, qua những biến động
trong phong trào CS Quốc Tế,
Tuổi Xanh, 2001

NGUYỄN NGỌC HUY
•Vị trí Hồ Chí Minh trong diễn tiến
của t́nh trạng nhân quyền tại VN,
Nam Á, Paris 1990.

NGUYỄN PHƯƠNG MINH
• Hồ Chí Minh, tên phản quốc số một của thời đại.
Chưa xuất bản.
NGUYỄN QUANG NGỌC
• Tiến tŕnh lịch sử Việt Nam,
Nxb Giáo Dục, Hà Nội 2001

NGUYỄN THẾ ANH
• Hành tŕnh chính trị của Hồ Chí Minh,
Nam Á, Paris 1989

NGUYỄN THỊ B̀NH
• MTDTGP - CPLT tại hội nghị Paris về VN,
Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 2001

NGUYỄN THUYÊN
• Bộ mặt thật của Hồ Chí Minh,
Tiếng Chuông, Australia 1990.

NGUYỄN VĂN CANH
• Vietnam under Communism, 1975- 1982,
Hoover Institution, Stanford, University, USA 2002.

NGUYỄN VĂN TRẤN
• Viết gửi mẹ và quốc hội
(bị Hà Nội tịch thu, 1995).

NHƯỢNG TỐNG
• Hoa cành Nam
Khai Trí, Sài G̣n tái bản 1973

PHẠM MINH
• Việt Nam đất nước tôi,
Tổ chức Hưng Việt, Australia 2001

PHẠM VĂN SƠN
• Việt Sử Tân Biên – Đại Nam, Sài G̣n 1972

PHAN BỘI CHÂU
• Phan Bội Châu Niên Biểu,
Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử, Sài G̣n 1972
• Phan Bội Châu Toàn Tập,
Nxb Thuận Hóa, Huế 1990

PHÙNG THẾ TÀI
• Bác Hồ, những kỷ niệm không quên,
Nxb Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội 2002

SƠN TÙNG
• Tham luận về vai tṛ l•nh đạo của HCM,
Bài đọc tại trường quản lư cán bộ, Hà Nội ngày 11-4-2001.

T. LAN
• Vừa đi đường vừa kể chuyện – Nxb Trẻ, Sài G̣n 1999

TÔN THẤT THIỆN
• Cái đúng và cái giả dối về chuyện Hồ Chí Minh,
Nam Á, Paris 1989

TRẦN DÂN TIÊN
• Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch.
Văn Học, Hà Nội 2001

TRẦN Đ̀NH HUỲNH
• Danh Nhân Hồ Chí Minh,
Nxb Văn Học, Hà Nội 2001

TRẦN GIA PHỤNG
• Án tích cộng sản Việt Nam,
Non Nước, Toronto, Canada 2001.

TRẦN VĂN GIÀU
• Sự phát triển tư tưởng tại Việt Nam – Tập III: Thành
công của chủ nghĩa Mác-Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nxb TP. HCM, Sài G̣n 1993.

TRƯƠNG NHƯ TẢNG
• A Viet Cong Memoir.
Harcourt Brace Jovanovich, San Diego 1985
VĂN TIẾN DŨNG
• Về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
• Đi theo con đường của Bác,
Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội 1993.

VIỆT THƯỜNG
• Sự Tích Con Yêu Râu Xanh ở VN,
Quật Khởi, 2002
• Chuyện thâm cung dươí triều đại HCM,
Hưng Việt, USA 2000

VƠ NGUYÊN GIÁP
• Những năm tháng không thể nào quên,
Nxb QĐND Hà Nội in lần đầu 1970, lần thứ 5 năm 2001.

VŨ THƯ HIÊN
• Đêm Giữa Ban Ngày, Văn Nghệ,
Nam Cali 1997.


* B - TÁC GIẢ NGOẠI QUỐC

ANDRÉE VIOLLIS
• Indochine S.O.S
Gallimard, Paris 1955

BERNARD F. FALL
• Le Viet Minh, la république démocratique
du Việt Nam 1945-1960,
Sciences Politiques, Librairie Armand Colin, Paris 1960.
• The two Vietnams
Frederick A. Praeger, USA 1967
• Ho Chi Minh on Revolution
Frederick A. Praeger, USA 1967

BONNAFANT, L.
• Trente ans de Tonkin
Ed. Figuière, Paris 1924
DANIEL ELLSBERG
• Secret
Viking Penguin, New York 2002

DAVID HALBERSTAM
• HO
McGraw-Hill Inc. New York 1971

DENNIS J. DUNCANSON
• Government and revolution in Vietnam.
Oxford University Press, New York & London 1968

DENIS WARNER
• The Last Confucian
The Macmillan, New York 1963

DOUGLAS PIKE
• Viet Cong
MIT (Ma. Inst. of Tec.) MA 1966.

• History of VN Communism, 1925- 1976,
Hoover Institution Press, 1978

EDUARD BERNSTEIN
• Cromwell & Communism...,
Schocken Books, New York 1963

ELLEN HAMMER
• A Death In November: America in Vietnam, 1963.
E.P. Dutton, 1987.

• The Emergence of Vietnam,
Institute of foreign relations, New York 1947

• The Struggle for Indochina
Stanford Un. 1954.

HENRY KISSINGER
• Years of renewal
Simon & Schuster, New York 1999.
JEAN FRANCOIS RÉVEL
• Hồ Chí Minh, Ḷng yêu nước bị chuyển hướng.
Nam Á, Paris 1989.

JEAN LACOUTURE
• Ho Chi Minh, A political Biography,
(English version by Peter Wiles) Random House, NY 1968

JEAN SAINTENY
• Face à Hô Chí Minh, Éditions Seghers, Paris 1970
• Ho Chi Minh and his Vietnam, a personal memoir,
(English version), Cowles Book Co. Inc., Chicago 1972
• Histoire d’une paix manquée: Indochine 1945- 1947,
Fayard, Paris 1967.

JOSEPH BUTTINGER
• Vietnam, A Dragon Embattled, Political history of VN
1967
• Vietnam, the unforgettable tragedy,
Horizon Press New York 1977

JOSEPH STALIN
• Les principes du Léninisme
Selected writings, Greenwood Press, Westport, CT 1970

KARL MARX
• The Portable Karl Marx,Viking Press, New York 1983

KARL MARX & FREDERICK ENGELS
• The Communist Manifesto,
International Publishers, 1948.

KARL VON CLAUSEWITZ
• On War, Modern Library, Random House, New York 1943

LOUIS ROUBAUD
• Vietnam, la tragédie Indochinoise,
Valois, Paris 1931
LUCIEN BRODARD
• The Quicksand War, Prelude to VN,
(English version by Patrick O’Brian), New York 1963

MARILYN B. YOUNG
• The Vietnam wars: 1945-1990,
Harper Collins, 1991.

MICHEL TAURIAC
• Le dossier noir du Communisme, de 1945 à nos jours,
Plon, Paris 2001

MIECZYSLAW MANELI
• War of the vanquished.
(Bản dịch Anh ngữ của Maria De Gorgey). Harper & Row 1971

MILOVAN DJILAS
• The New Class
Praeger, New York 1957.
• Tito
Harcourt Brace, New York 1980.

NEIL SHEEHAN
• A Bright Shining Lie, Random, New York 1988

• After the war was over,
Random House, New York 1997

NIKITA KHRUTSHCHEV
• Khrutshchev Remembers,
Volume I, 1970; vol. III – Little Brown and Company Inc.1990.

NORA BELOFF
• Tito’s flawed legacy,
Westview Press, Bocelder Colorado 1985 .

OLIVIER TODD
• Cruel Avril, 1975 La chute de Saigon.
France Loisirs, Paris 1987
• Huyền Thoại Hồ Chí Minh,
Nam Á, Paris 1990

PIERRE BROCHEUX
• Ho Chi Minh
Presses de Sciences Po, Paris 2000

PHILLIP B. DAVIDSON
• Vietnam at war
Presidio Press, Novato, Cali1988.

PHILIPPE DEVILLERS
and JEAN LACOUTURE
• End of A War
(English Version from La Fin D’une Guerre
by Alexander Lieven & Adam Roberts),
Frederick A. Praeger Inc, New York 1970.

RALPH SMITH
• Thập Niên Cuối của cuộc đời Hồ Chí Minh,
Nam Á, Paris 1990

RICHARD H. CROSSMAN
• The God That Failed,
Harper & Row, New York 1963, 1965.

RICHARD M. NIXON
• No more Vietnam – Harbor House, New York 1985.

ROBERT SHAPLEN
• The Lost Revolution
Harper & Row, New York 1965
• The road from war
Harper & Row, New York 1970

ROBERT STRAUSZ-HUPÉ
• Protracted Conflict
Harper & Brothers, New York 1959
ROBERT TEMPLER
• Shadows and Wind, A view of modern Vietnam,
Pinguin books. New York 1999.

SOPHIE QUINN-JUDGE
• Ho Chi Minh, the missing years, 1919-1941,
Uni. of Cali. Berkeley, Los Angeles 2002.

STANLEY KARNOW
• Vietnam, a history
Pinguin group, New York 1991

STÉPHANE COURTOIS et 5 AUTRES AUTEURS
• Le livre noir du communisme:
Crimes, Terreur, Répression
(English Version by Jonathan Murphy & Mark Kramer,
Harvard 2000), Robert Laffon, Paris 1997.

STEPHEN R. GRAUBARD
• A mind’s Profile,
W.W. Norton and Company Inc. New York 1974

TƯỞNG VĨNH KÍNH
• Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, Đài Bắc, 1972
(Bản Việt ngữ của Thượng Huyền, xb tại Hoa kỳ 1999.)

VLADIMIR DEDIJER
• Biography of Tito,
Simon & Schuster, New York 1953.

VLADIMIR IL’ICH LENIN
• Colected works,
Foreign Language Pub. House, Moscow 1960

WILLIAM J. DUIKER
• Ho Chi Minh, a life.
Hiperion, New York 2000.