Hồ Chí Minh Và Các Vị Đại Anh Hùng Ai Quốc (phần 1)

Minh Vơ

 

Không một ai thắc mắc khi nghe nhắc Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… là những đại anh hùng cứu quốc hoặc Trần B́nh Trọng, Lê Lai hay Phan Đ́nh Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học… là những anh hùng dân tộc và Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… là những nhà cách mạng yêu nước.

 

Cũng không một ai thắc mắc khi các danh xưng trên không được dành cho nhiều nhân vật lịch sử lừng danh như Trần Thủ Độ, Hồ Quư Ly, Mạc Đăng Dung, Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Ánh …

 

Vấn đề không phản ảnh thái độ gán ghép chủ quan mà thể hiện sự đáp ứng trọn vẹn các tiêu chuẩn trong hàm nghĩa của ngôn từ. Hành vi và quyền lực của Trần Thủ Độ chưa dễ có người sánh nổi hoặc vượt qua, nhưng Trần Thủ Độ vẫn măi măi chỉ là Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ là nhân vật trung tâm gây dựng một triều đại lẫy lừng nhưng lịch sử đă ghi nhận xu hướng mưu đồ cho một ḍng họ và thủ đoạn tranh đoạt quyền hành bá đạo. Trần Thủ Độ đă thành công, đă chứng tỏ tầm vóc phi thường nhưng không phải anh hùng, cũng không phải người yêu nước.

 

Lịch sử không nghiệt ngă, thiên kiến nhưng công bằng.

 

Bởi danh hiệu anh hùng, yêu nước luôn bác bỏ việc đặt quyền lợi cá nhân hoặc phe phái cao hơn cuộc sống toàn dân và bác bỏ mọi hành vi đi ngược nhân tính. Ở các trường hợp trên, mọi tiêu chuẩn trong hàm nghĩa của ngôn từ đều được thực tế đáp ứng nên danh chính khiến ngôn thuận, và v́ thế, không c̣n thắc mắc.

 

Trong trường hợp Hồ Chí Minh, việc phù hợp với danh hiệu nào không đơn giản. Tuy đều dựa vào nền tảng thực tế, mọi danh hiệu luôn có vẻ thiếu chính danh và tiếp tục khơi gợi những thắc mắc.

 

Người xưng tụng Hồ Chí Minh là anh hùng, yêu nước cũng như người kết tội Hồ Chí Minh là phản dân, hại nước đều có thể nêu chứng cớ và đều gặp chống đối.

 

Người xưng tụng dựa trước hết vào mục tiêu đoàn kết dân tộc chống xâm lăng, giải phóng đất nước của các tổ chức đấu tranh mà Hồ Chí Minh tham dự qua nhiều thời kỳ.

 

Kế tiếp, là ḷng yêu nước và bản tính nhân hậu bẩm sinh được tô bồi từ thuở thơ ấu bởi cả hoàn cảnh gia đ́nh lẫn xă hội đă sớm đặt Hồ Chí Minh vào sự chọn lựa ư hướng tự nguyện hy sinh, sống trọn đời gian khổ v́ dân, v́ nước.

 

Cuối cùng là thái độ sùng kính mà toàn dân dành cho Hồ Chí Minh thể hiện qua sự triệt để hưởng ứng mọi hành động của Hồ Chí Minh, qua danh hiệu Cha già dân tộc và qua tiếng gọi Bác thân thiết…

 

Những người khác phủ nhận mọi viện dẫn trên cho rằng tất cả chỉ là tṛ tŕnh diễn lường gạt nhắm lôi cuốn quần chúng để khai thác cho tham vọng cá nhân và mục tiêu truyền bá ảnh hưởng Liên Xô tại vùng Đông Á là nhiệm vụ mà Hồ Chí Minh được Đệ Tam Quốc Tế giao phó.

 

Bởi, từ thập niên 1920, Hồ Chí Minh đă thực sự trở thành tín đồ Cộng Sản, (1) đă dứt khoát chọn con đường cách mạng vô sản thế giới và chưa bao giờ tỏ một dấu hiệu nào cho thấy chỉ dựa vào Liên Xô như một phương tiện khai thác cho cuộc đấu tranh giải phóng đất nước.

 

Cho nên, Hồ Chí Minh từng bị dân chúng gọi là Cáo Hồ, là Quỷ Vương, Mặt Trận Việt Minh từng bị coi là tiêu biểu của dối trá qua tiếng Vẹm (2) phổ biến từ 1945…

 

Sự khác biệt như ngày với đêm, như nước với lửa bắt nguồn từ thực tế phức tạp của một giai đoạn lịch sử mà mỗi sự việc, mỗi biến cố, mỗi hành vi của các nhân vật đều có thể hiểu theo nhiều cách, tùy thế đứng, tùy tŕnh độ và tùy cả cảm quan cá nhân. Nói một cách khác, thực tế đă trải nhiều uốn nắn cho phù hợp với những phát biểu mang nặng tính chủ quan thay v́ được giới thiệu chính xác để tự phát biểu.

 

Sau ngót 7 năm xuôi ngược mưu sinh, cuối năm 1917, Hồ Chí Minh định cư tại Pháp và bắt đầu tham gia đấu tranh qua tổ chức Những Người Việt Nam Yêu Nước của Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường. Nhưng toàn bộ hoạt động của Hồ Chí Minh cho tới cuối năm 1920 hoàn toàn không đáng kể, ngoại trừ sự gia nhập Đảng Xă Hội Pháp theo thúc đẩy của Phan Văn Trường là người lúc đó có nhiều tương quan với tổ chức này.

 

Cuối tháng 12-1920, Hồ Chí Minh ngả theo nhóm đảng viên Xă Hội ly khai để một năm sau, cuối tháng 12-1921, có mặt trong số những người thành lập Đảng Cộng Sản Pháp rồi được cử sang Nga vào năm 1923.

 

Từ đây, Hồ Chí Minh mới thực sự bước vào đấu tranh với một quá tŕnh hoạt động có thể phân thành 3 thời kỳ chủ yếu:

- Thời kỳ hoạt động giải phóng dân tộc 1924-1945. 

- Thời kỳ cầm đầu lực lượng kháng chiến 1945-1954.

- Thời kỳ “chiếu cố miền Nam” từ 1954 tới cuối đời.

– Thời kỳ hoạt động giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh khởi sự cuối năm 1924 tại Hoa Nam là vùng đất quy tụ người Việt Nam lưu vong đấu tranh chống thực dân Pháp.

 

Từ đầu thập niên 1920, diễn biến chính trị tại Á Đông không thể rũ bỏ ảnh hưởng của cuộc chính biến tháng 11-1917 tại Nga. Trong khung cảnh này, việc Lenin và đảng Cộng Sản Nga đoạt được quyền lănh đạo đất nước có tác động hết sức lớn đối với hết thẩy người Việt Nam đang đấu tranh giành lại chủ quyền độc lập.

 

Câu hỏi đến với mọi người lúc đó không phải chủ nghĩa Cộng Sản ra sao mà chỉ đơn giản là người Nga có bí quyết ǵ để lật đổ nổi chế độ Nga hoàng?

 

Nguyện vọng đánh đuổi thực dân Pháp thúc đẩy tâm trạng nôn nóng muốn nắm ngay bí quyết này. Cho nên, năm 1920, Phan Bội Châu đă t́m gặp các viên chức Nga tại Bắc Kinh ngỏ ư nhờ giúp đỡ huấn luyện về kỹ thuật đấu tranh.

 

Phan Bội Châu không đạt ư muốn v́ bị đặt trước đ̣i hỏi phải chấp nhận sự ràng buộc của Liên Xô.

 

Ảnh hưởng chính biến tại Nga cũng gây chấn động với giới lănh đạo cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911 của Trung Hoa khiến lănh tụ Tôn Dật Tiên đă chấp nhận dung nạp Cộng Sản Trung Quốc để liên kết với Nga qua việc ban bố chính sách Liên Nga Dung Cộng. Việc liên kết Liên Xô – Trung Hoa Dân Quốc dẫn tới sự xuất hiện phái bộ cố vấn Borodin tại Quảng Châu là lư do Hồ Chí Minh có mặt tại đây từ cuối tháng 11-1924 với cái tên Lư Thụy (3).

 

Sự có mặt của Hồ Chí Minh khiến Hoa Nam không c̣n là địa bàn hoạt động riêng của những người Việt Nam đấu tranh thuần túy cho mục tiêu giải phóng dân tộc mà bắt đầu có sự chen chân của Cộng Sản Quốc Tế với mục tiêu vận động giai cấp đấu tranh tiến tới chuyên chính vô sản thế giới.

 

V́ tuy là người Việt Nam, Hồ Chí Minh đă có mặt với tư cách một cán bộ Đệ Tam Quốc Tế để thực hiện các nhiệm vụ ghi rơ trong quyết định ngày 25-9-1924 dưới sự chỉ huy trực tiếp của các cán bộ thuộc Bộ Phương Đông Đệ Tam Quốc Tế như Hilaire Noulens, Serge Lefrank… và theo lời lẽ của Hồ Chí Minh qua bản báo cáo ngày 18-12-1924 khi bắt đầu có mặt tại đây: “Trong lúc này, tôi là một người Trung Quốc chứ không phải là một người Việt Nam và tên tôi là Lư Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc”.

 

Công việc trước mắt của Hồ Chí Minh cũng được ghi rơ trong một văn thư của Quốc Tế Nông Hội thuộc Đệ Tam Quốc Tế: “Theo nghị quyết của đoàn chủ tịch ngày 31-7 (1925), đồng chí được phân công phụ trách không những phong trào của nông dân Trung Quốc mà c̣n của tất cả các thuộc địa mà đồng chí có thể liên hệ được từ Quảng Châu, nghĩa là của Đông Dương, Miến Điện, Xiêm, Đài Loan và Nam Dương. Đồng chí đặt ngay liên lạc với những thuộc địa trên và tiến tới lập những nông hội ở đấy”.

 

Thời gian này, Hồ Chí Minh thường xuyên báo cáo công tác của ḿnh và nguyên văn một đoạn báo cáo gửi về Mạc Tư Khoa mùa hè 1926 như sau:

 

“ Từ khi tới đây tôi đă làm những việc sau đây cho Đông Dương:

 

1. Lập một tổ chức bí mật.

2. Lập một hội nông dân (của những Việt Kiều sống ở Xiêm).

3. Lập một nhóm thiếu niên tiền phong Đông Dương, con cái công nông. Các cháu đang ở Quảng Châu do chúng tôi nuôi dậy.

4. Tổ chức một nhóm phụ nữ cách mạng (bắt đầu từ tháng tư, có khoảng 12 thành viên)

5. Lập một trường tuyên truyền...”

 

Bản báo cáo c̣n đề cập tới vấn đề tài chánh cung cấp bởi Đệ Tam Quốc Tế:

 

“Các chuyến đi dài ngày (khoảng 2 tuần) nguy hiểm và tốn kém nhiều mà phương tiện của chúng tôi lại ít ỏi (với tiền lương của tôi cộng với tiền lương của một trong số các đồng chí Liên Xô, công việc vẫn chưa chạy nhanh như mong muốn)... (4)

 

Không thể xóa bỏ nguồn cỗi Việt Nam, nhưng Hồ Chí Minh không c̣n coi ḿnh là người Việt Nam như lời tự xác nhận v́ đă chọn ư hướng phục vụ Đệ Tam Quốc Tế, được tổ chức này nuôi dưỡng và chỉ thị trong từng bước hành động.

 

Tuy nhiên để đạt hiệu quả trong thực tế, Hồ Chí Minh không thể công khai hóa tư cách Cộng Sản mà cần có bộ áo quốc gia che kín thân h́nh màu đỏ xẫm của ḿnh tức không thể tách rời khỏi hàng ngũ người Việt Nam yêu nước.

 

Theo đúng chiến lược Lenin “đường tới Paris phải qua Bắc Kinh”, Liên Xô đặc biệt chú trọng việc bành trướng ảnh hưởng về phương Đông mà hầu hết các quốc gia đều mất quyền tự chủ nên đang sôi sục nguyện vọng giải phóng dân tộc.

 

Lenin đă đề ra sách lược liên minh qua chính sách mặt trận dân tộc với lời nhắc nhở: “Thắng lợi của cách mạng thế giới sẽ không thể có, nếu không có liên minh cách mạng giữa vô sản tại các nước tiên tiến với các dân tộc bị áp bức tại các thuộc địa bị nô dịch.”

 

Liên minh để tăng sức mạnh cho giai cấp vô sản đồng thời phân rẽ kẻ thù tư sản thành từng cụm nhỏ cô lập.

 

Tại phương Đông, cụm kẻ thù đầu tiên là các chính quyền thực dân và liên minh là đoàn kết với các thành phần chống đối thực dân. Nhưng nghĩa chữ đoàn kết theo Cộng Sản đă được Bùi Tín nêu rơ như sau: “Với những người lănh đạo Cộng Sản, chữ đoàn kết có ư nghĩa khác với ư nghĩa thông thường...

 

Đoàn kết luôn có nghĩa và chỉ có một ư nghĩa là: Theo tôi! Đoàn kết trong Mặt Trận Việt Minh, trong Mặt Trận Liên Việt hay trong Mặt Trận Tổ Quốc có nghĩa là theo sự lănh đạo của Đảng Cộng Sản, chịu mọi sự áp đặt của Đảng Cộng Sản. Nói khác với Đảng, căi lại Đảng là vi phạm tinh thần đoàn kết, là phá vỡ khối đoàn kết, là có tội…

 

Ngay ở trong Đảng, vấn đề giữ đoàn kết của Đảng như con ngươi của mắt ḿnh, có nghĩa là luôn phải tuân theo ư kiến của lănh đạo, không được có ư kiến khác, nếu có ư kiến khác th́ liền bị kết tội bè phái, chia rẽ, phá vỡ sự đoàn kết, thậm chí là phản bội, phản động…

 

Trong phe xă hội chủ nghĩa, đoàn kết với Liên Xô luôn bao hàm ư tuân theo sự lănh đạo và chỉ huy của Liên Xô, những ư kiến của Liên Xô phải coi là chỉ thị để chấp hành nghiêm chỉnh.

 

Trong mối quan hệ trên bán đảo Đông Dương, giữa ba nước Việt Miên Lào cũng vậy, đoàn kết bao gồm ư phải công nhận sự lănh đạo của Việt Nam, phải coi ông Hồ Chí Minh là người lănh đạo của cả ba đảng…

 

Đoàn kết trở thành sợi dây vô h́nh trói buộc mọi cá nhân với Đảng, mọi tổ chức với Đảng Cộng Sản, thủ tiêu các quyền dân chủ, thủ tiêu sự b́nh đẳng, làm cơ sở cho mọi sự chuyên quyền và độc đoán tệ hại. Đây cũng là một kiểu cách lạt mềm buộc chặt của ông Hồ Chí Minh” (5)

 

Hồ Chí Minh đă được huấn luyện tại Mạc Tư Khoa về sách lược liên minh và ư nghĩa đoàn kết đó trước khi nhận nhiệm vụ tại Bộ Phương Đông của Đệ Tam Quốc Tế.

 

Cuối năm 1924, Hồ Chí Minh có mặt bên cạnh các phần tử dân tộc đấu tranh tại Hoa Nam trong tinh thần liên minh và đoàn kết theo đúng hướng đă học tập.

 

Để thuận t́nh hợp cảnh, Hồ Chí Minh bắt buộc phải xuất hiện như một người yêu nước nhiệt thành với nguyện vọng tranh thủ độc lập và chủ nghĩa Cộng Sản chỉ được tŕnh bày như phương tiện hữu hiệu duy nhất để đạt nguyện vọng này.

 

Đây không phải thủ đoạn cá nhân mà chính là nguyên tắc đấu tranh đă trở thành kinh điển. Không chỉ Hồ Chí Minh tŕnh diễn bộ mặt yêu nước mà hết thẩy những người khác sau khi trở thành đảng viên Cộng Sản cũng phải tŕnh diễn tương tự.

 

Cũng không riêng các cá nhân mà mọi tổ chức Cộng Sản đều phải thực hiện cùng một cung cách, dù hết thẩy đảng viên Cộng Sản các cấp đều thuộc ḷng điều tâm niệm "dân tộc chỉ là màu sắc chứ không phải bản chất và chủ nghĩa ái quốc là một điều nguy hiểm” như khẳng định của Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội trên báo Thanh Niên, cơ quan ngôn luận của Hội số ra ngày 20-12-1926.

 

Trước đó, tháng 6-1924, nghị quyết đại hội V của Đệ Tam Quốc Tế về sự hợp tác với các phần tử dân tộc tại Phương Đông cũng ghi rơ: "Điều mà chúng ta bắt buộc các đảng Cộng Sản phải làm là t́m cách xử dụng các phần tử dân tộc chống lại giai cấp tư sản. Các đảng Cộng Sản phải thúc đẩy các phần tử bất măn chống lại chế độ…Dĩ nhiên chúng ta không bao giờ chấp nhận các phần tử dân tộc…Chúng ta chỉ lợi dụng sự bất măn của họ để phục vụ cuộc cách mạng vô sản.” (6)

 

Hồ Chí Minh có mặt tại đại hội này và từng phát biểu: “Hiện nay nọc độc và sức sống của bọn rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc” (7)

 

Lời phát biểu không chỉ bày tỏ sự tán trợ sách lược vận dụng h́nh thức mặt trận dân tộc đoàn kết, lợi dụng các phần tử yêu nước mà c̣n xác nhận thế đứng dứt khoát trong trận tuyến đấu tranh giai cấp tiêu diệt kẻ thù tư bản.

 

Mục tiêu theo đuổi của Hồ Chí Minh không c̣n là nền độc lập dân tộc nữa mà là sự thành công của cách mạng vô sản và kẻ thù không chỉ là các guồng máy thực dân thống trị mà là toàn thể bọn rắn độc tư bản chủ nghĩa.

 

Dân tộc Việt Nam trước mắt Hồ Chí Minh không c̣n là một tập thể đồng bào cùng chung huyết mạch mà là một tập thể đầy rẫy bọn rắn độc tư bản chủ nghĩa, kẻ thù không đội trời chung của giai cấp vô sản là giai cấp tiền phong trong cuộc đấu tranh cách mạng đem lại hạnh phúc cho con người và cũng là giai cấp được Hồ Chí Minh chọn lựa phụng sự.

 

Trong tầm nh́n mới của Hồ Chí Minh so với ba năm trước, đấu tranh giải phóng dân tộc chỉ c̣n là đoạn đường đoạt thủ quyền lực, cụ thể là đoạt thủ chính quyền cho giai cấp vô sản.

 

Do các phần tử đấu tranh giải phóng dân tộc đều nhắm mục tiêu lật đổ guồng máy thực dân thống trị để giành độc lập nên tạm thời được coi như đối tượng liên minh cần thiết để tăng triển sức mạnh đối đầu với kẻ thù tư bản trong đó các phần tử thực dân là đối tượng cần tiêu diệt trước hết.

 

Liên minh chỉ là giai đoạn và ngay trong liên minh vẫn phải nắm quyền chủ động để bảo đảm chính quyền thuộc về giai cấp vô sản khi thực dân bị xô đổ, bởi như Engels đă định nghĩa, chính quyền chỉ là bộ máy mà một giai cấp dùng để hủy diệt giai cấp kia nên không thể để rơi vào tay các giai cấp khác, dù là giai cấp đang được liên minh.

 

Suốt thời gian hoạt động tại Hoa Nam, Thái Lan và cho tới cuối đời, trong mọi cuộc liên minh, Hồ Chí Minh đă tuân thủ triệt để ư nghĩa đoàn kết mà Bùi Tín diễn tả chính bởi mục tiêu này.

 

Liên minh để tăng triển lực lượng đấu tranh với điều kiện bảo đảm vị thế độc tôn của giai cấp vô sản nên đoàn kết trở thành tiêu diệt mọi dị kiến.

 

Trước hết là biến đổi các đối tượng đă tuân phục thành tín đồ tận tụy và kế tiếp là thanh lọc bằng mọi cách các đối tượng không chịu tuân phục. Cho nên khi Phùng Thế Tài bài bác việc gia nhập hàng ngũ các tổ chức đấu tranh giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đă giảng giải: “Không vào là sai rồi. Tại sao không vào? Chúng mở cửa cho ta vào nắm quần chúng, sao ta lại quay đi? Chúng mở được hội, th́ chúng có khả năng triệu tập quần chúng. Ta phải lợi dụng khả năng ấy. Phải vào mà biến tổ chức địch thành tổ chức ta.”

 

Tới Quảng Châu tháng 11-1924, chỉ vài tuần lễ sau, Hồ Chí Minh đă tiếp cận tổ chức Tâm Tâm Xă và tháng 6-1925 biến tổ chức này thành Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội với cái nhân được gọi là nhóm bí mật Cộng Sản Đoàn.

 

Nhóm bí mật gồm Hồ Chí Minh và 8 thành viên Tâm Tâm Xă tuân phục Hồ Chí Minh đă điều khiển tổ chức gồm rất đông hội viên đang có mặt tại Hoa Nam, Thái Lan, Việt Nam vận dụng chiêu bài giải phóng dân tộc, ngấm ngầm truyền bá tư tưởng Cộng Sản.

 

Với danh nghĩa Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội và chiêu bài tranh thủ độc lập, kể từ 1925, Hồ Chí Minh thu hút nhiều phần tử dân tộc đấu tranh ở trong nước tham gia Cộng Sản như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Phạm Văn Đồng, Vơ Nguyên Giáp, Đặng Xuân Khu, Tôn Quang Phiệt, Đào Duy Anh…cùng nhiều phần tử chống Pháp khác đang hoạt động tại Thái Lan, Hoa Nam…

 

Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội nêu mục đích “hy sinh tính mệnh, quyền lợi, tư tưởng để làm cuộc cách mạng dân tộc, đập tan bọn Pháp, giành lại độc lập cho xứ sở, rồi sau làm cách mạng thế giới, lật đổ chủ nghĩa đế quốc”, nhưng trong công tác tuyên truyền vận động quần chúng, phần được nhấn mạnh chỉ là làm cách mạng dân tộc.

 

Đầu năm 1930, khi Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội bị xóa tên để trở thành Đảng Cộng Sản Đông Dương th́ đảng viên Cộng Sản tiếp tục xâm nhập các tổ chức yêu nước khác như Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của Hồ Học Lăm, Việt Nam Cách Mạng Đồng Chí Hội của Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần… đồng thời nêu chiêu bài dân tộc đấu tranh chống Thực Dân Đế Quốc qua một loạt tổ chức, trước hết là Hội Phản Đế Đồng Minh xuất hiện tháng 11-1930, rồi Mặt Trận Phản Đế Đông Dương tháng 4-1931, Đông Dương Phản Đế Liên Minh tháng 3-1935, Mặt Trận Dân Chúng Thống Nhất Phản Đế tháng 6-1936, Mặt Trận Nhân Dân Đông Dương tháng 10-1936, Mặt Trận Dân Chủ Đông Dương tháng 3-1939, Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất Phản Đế Đông Dương tháng 11-1939 và Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh tức Mặt Trận Việt Minh tháng 5-1941 với lời tuyên truyền Việt Minh không phải là đảng cộng sản, chỉ là một mặt trận gồm tất cả các đảng phái lấy lại độc lập cho nước nhà – theo ghi nhận của Trần Trọng Kim.

 

Suốt 20 năm từ 1925 đến 1945, Hồ Chí Minh không ngừng thúc đẩy đồng chí tuyên truyền cho mục tiêu đấu tranh của Cộng Sản là đập tan chế độ thực dân Pháp để thu hồi độc lập dân tộc và không ngừng hô hào đoàn kết dân tộc, thống nhất lực lượng đấu tranh để sớm đi tới thành công. Nhưng trong hành động thực tiễn, Hồ Chí Minh và các đồng chí không rời xa ư hướng gây dựng và phát triển sự tồn tại duy nhất của đảng Cộng Sản.

 

Cho nên Douglas Pike mô tả về hoạt động của Hồ Chí Minh trong giai đoạn này như sau: “Hầu hết những thắng lợi chính trị của Hồ trong thời kỳ tiền Việt Minh là kết quả của tài tổ chức: tạo dựng, xử dụng và đưa ra ánh sáng một cách thuận lợi một chuỗi những tổ chức mặt trận thống nhất, cái sau bao giờ cũng cao hơn cái trước, mỗi cái đều tăng cường quyền lực của đảng, mở rộng thêm sự ủng hộ của cơ sở quần chúng và loại trừ đối lập (rivals). Kỹ thuật (loại trừ) này gồm có việc bao lấy tổ chức đối lập đưa nó vào trong một cộng đồng xă hội rộng lớn hơn như một phương cách làm lu mờ căn cước riêng của nó và như một màn mở đầu để chặt mất đầu, không c̣n lănh tụ nên phải tan ră…”

 

Thực chất sách lược liên minh hay đoàn kết dân tộc dành cho tất cả các tổ chức chấp thuận liên hiệp cùng Cộng Sản dưới một h́nh thức nào đó với mục đích tăng cường lực lượng chống thực dân chỉ là lôi cuốn, khai thác, lũng đoạn để cuối cùng chiếm đoạt hoặc tiêu diệt theo cách Hồ Chí Minh từng giải thích với Phùng Thế Tài là biến tổ chức địch thành tổ chức ta.

 

Để giữ vững thành quả, sách lược này c̣n bao gồm một loạt hành động nối tiếp nhắm loại trừ trở ngại và những mầm mống đe dọa được định danh là kẻ địch.

 

Quan niệm không có chân lư thứ hai ngoài chân lư Cộng Sản đă biến mọi tổ chức hay phần tử không tuân phục Cộng Sản đều trở thành kẻ địch. Tất nhiên, trong loại trừ kẻ địch th́ mọi phương tiện đều tốt, bất kể kẻ địch là ai, ở đâu.

 

Bernard Fall ghi lại cách đối phó của Hồ Chí Minh với những người từng tham gia các lớp huấn luyện do Hồ Chí Minh hướng dẫn tại Quảng Châu nhưng không chịu từ bỏ tinh thần dân tộc: "Đối với những kẻ chứng tỏ không đáng tin cậy, hoặc sau khi tốt nghiệp trường Hoàng Phố mà từ chối không theo cộng sản, Hồ dùng một liều thuốc rất công hiệu: sai đảng viên cộng sản tiết lộ danh tánh họ cho t́nh báo Pháp. Sở an ninh trong nước sẽ tóm cổ họ ngay khi về tới.”

 

Cộng tác với mật thám Pháp chỉ là một trong nhiều phương cách thanh trừng trở ngại. Hai phương cách khác đă trở thành hoạt động đấu tranh của Cộng Sản là vu cáo, bôi nhọ hết thẩy các tổ chức, phần tử dân tộc có uy tín trong quần chúng hoặc thủ tiêu, ám sát.

 

Sẽ hoàn toàn vô nghĩa nếu nh́n phương cách hành động của Hồ Chí Minh qua sự biểu hiện một tài năng đấu tranh siêu việt theo kiểu nh́n của Halberstam, Douglas Pike, Buttinger … hoặc như chứng cớ cho một bản tính hiểm độc tàn ác theo kiểu nh́n của nhiều người khác.

 

Đó là những kiểu nh́n chỉ nhắm dẫn đến những lời khen hay tiếng chê về một con người biệt lập chứ không đóng góp tích cực cho nhu cầu xác định các biến cố đă xẩy ra trong thực tế với tính cách lịch sử.

 

Tiếng nói quan trọng cất lên từ phương cách hành động của Hồ Chí Minh đối với những người nặng tinh thần dân tộc, không chấp nhận chủ nghĩa Cộng Sản là tiếng nói xác định ư hướng phụng sự của Hồ Chí Minh.

 

Ít nhất kể từ 1918, Hồ Chí Minh đă tham gia hoạt động trong nhóm Phan Chu Trinh do thúc đẩy của ḷng yêu nước.

 

Nhưng từ 1923, khi trở thành cán bộ Đệ Tam Quốc Tế, Hồ Chí Minh tin tưởng tuyệt đối rằng “chủ nghĩa Mác-Lenin là ánh sáng chân lư, là mặt trời đưa lại nguồn vui” (8)

 

Ánh sáng của vừng mặt trời này cho thấy ngoại trừ giai cấp vô sản và những người tin theo Cộng Sản, mọi giai cấp hoặc phần tử khác đều thuộc hàng ngũ kẻ thù tức bọn rắn độc tư bản chủ nghĩa – theo ngôn ngữ của Hồ Chí Minh.

 

V́ thế, ḷng yêu nước theo cái nghĩa thông thường đă được chính Hồ Chí Minh chỉ cho các đồng chí trong Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội hiểu là nguy hiểm bởi vừa khuôn hạn giữa các biên giới quốc gia nhỏ hẹp vừa đồng nghĩa với sự yêu thương bọn rắn độc tư bản.

 

Ḷng yêu nước, nếu không được hiểu như một vỏ ngoài theo sách lược, sẽ phải hàm chứa ư nghĩa mới là mở rộng theo tầm soi rọi của ánh sáng chân lư Mác – Lenin tức bao quát hết thẩy giai cấp vô sản cùng những người tin theo Cộng Sản trên thế giới. Đất nước của Hồ Chí Minh không c̣n mang tên Việt Nam mà đă đổi thành quê hương của giai cấp vô sản.

 

Cho nên mới có lời nhắc nhở của Hồ Chí Minh về tính chất cuộc cách mạng tại Việt Nam như Trần Văn Giàu đă lập lại: “Chúng ta làm cách mạng đánh đế quốc thực dân tức là đánh tư bản chủ nghĩa. Cuộc cách mạng đó có qui mô thế giới mà cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam là một bộ phận”.

 

Tính giai cấp đă hoàn toàn thay thế mọi thứ t́nh nhân loại, t́nh đồng bào… thậm chí cả t́nh gia đ́nh ruột thịt.

 

Bởi tất cả những thứ t́nh này đều đe dọa gây trở ngại cho hoạt động đấu tranh cách mạng vô sản trong trường hợp thiếu nền tảng giai cấp tính.

 

Sách lược đấu tranh đ̣i hỏi Hồ Chí Minh phải vận dụng ḷng yêu nước theo cái nghĩa thông thường, nhưng ư hướng đấu tranh và mục tiêu phụng sự của Hồ Chí Minh đă đặt trọn vào giai cấp vô sản. Phương cách hành động của Hồ Chí Minh từ 1924 tới 1945 là tiếng nói dứt khoát khẳng định thực tế này và phương châm hành động của Cộng Sản là cứu cánh biện minh cho phương tiện.

 

Từ đây tiếng nói quan trọng thứ hai đă cất lên là tiếng nói xác định những tổn hại mà lực lượng dân tộc yêu nước phải gánh chịu do phương cách hành động của Hồ Chí Minh.

 

Sau 20 năm hoạt động, Hồ Chí Minh đă có trong tay Đảng Cộng Sản Đông Dương đủ sức đoạt chính quyền vào Tháng Tám 1945. Sự lớn mạnh của Đảng này tất nhiên do tinh thần tích cực của các đảng viên nhưng không thể phủ nhận xương máu của nhiều nạn nhân là những người Việt Nam yêu nước kể từ tháng 6-1925. Những nạn nhân này đă đóng góp mạng sống vào sự phát triển của Đảng Cộng Sản bằng cách tự nguyện hy sinh cho chiêu bài yêu nước mà Hồ Chí Minh và các đồng chí luôn giương cao hoặc bằng cách bị đẩy vào ngục tù thực dân hay bị âm thầm hạ sát bởi những người Cộng Sản.

 

Song song với sự lớn mạnh của Đảng Cộng Sản, lực lượng dân tộc yêu nước đă liên tục bị triệt hạ, bị tiêu hao không v́ mục tiêu phụng sự dân tộc hằng mong mỏi. Duncanson tỏ ra không xa thực tế khi cho rằng dưới sự lănh đạo của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng Sản Đông Dương đă trở thành lực lượng chống lại những người-yêu-nước-chống-thực-dân.

 

Bởi khó thể nói khác rằng sức mạnh của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Đông Dương đă được nuôi dưỡng bằng xác chết của không biết bao nhiêu tổ chức dân tộc đấu tranh và những người Việt Nam yêu nước.

 

Douglas Pike biện giải rằng dù thực tế diễn ra như thế nhưng có thể ông Hồ không muốn thế và Larteguy coi đây là cái giá phải trả cho một cuộc cách mạng – “Để giữ nguyên sự thán phục dành cho cuộc cách mạng, tốt nhất là không nên nhắc đến các nạn nhân của nó”.

 

Douglas Pike, Larteguy là những người ngoài cuộc có thể phát biểu theo bất kể cách suy nghĩ đảo điên nào, nhưng tiếng nói cất lên từ thực tế Việt Nam vẫn khẳng định Hồ Chí Minh đă tranh thủ vị thế lănh đạo bằng cái giá gây tổn hại đau đớn nặng nề cho dân tộc và hàng ngũ những người yêu nước đấu tranh.

 

Hồ Chí Minh đă nhân danh ḷng yêu nước, nhân danh mục tiêu tranh thủ độc lập để tiến hành thủ đoạn tiêu diệt các lực lượng yêu nước hầu đi tới việc độc chiếm quyền hành vào Tháng Tám 1945.

 

Thời kỳ được gọi là đấu tranh giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đă diễn ra theo chiều hướng này với những nỗ lực nhắm chủ yếu gây sức mạnh và giành quyền lực cho đảng Cộng Sản Đông Dương.

 

Hồ Chí Minh đă hoàn thành nhiệm vụ do Đệ Tam Quốc Tế giao phó là mở một đầu cầu bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản tại vùng Đông Nam Á bằng cách vận dụng hữu hiệu các nguyên tắc chiến lược sách lược Lenin-được-Staline-hóa để tiêu diệt hầu hết trở ngại là các tổ chức dân tộc yêu nước Việt Nam.

 

Điểm chính trong chiến lược sách lược này là phải kết hợp mọi tầng lớp nhân dân trong nước bị trị dưới sự lănh đạo của giai cấp công nhân, hay dưới sự lănh đạo của đảng cộng sản do Hồ Chí Minh, đại diện Đệ Tam Quốc Tế sáng lập và lănh đạo. Mục tiêu tối hậu của mọi hoạt động là nắm chính quyền tại Đông Dương để tiến tới Cộng Sản hóa vùng Đông Nam Á.

 

Hồ Chí Minh đă thành công nhưng hàng loạt bàn tay khối óc cần thiết cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam đă bị hăm hại, thủ tiêu đồng thời đẩy tập thể dân tộc vào cảnh ngộ phân ly thù hận không thể hàn gắn tới ngày nay.

 

Bởi v́ cuối cùng những người yêu nước đă thấy không c̣n chọn lựa nào ngoài sự cúi đầu cho Cộng Sản sai phái hay trở thành nạn nhân bị thanh toán. Tất nhiên, khi không chịu trở thành công cụ và muốn tránh số phận nạn nhân th́ hành vi đối đầu tự vệ là hành vi bắt buộc phải làm và do đó không thể tránh t́nh trạng phân ly thù hận.

 

– Thời kỳ thứ hai là thời kỳ Hồ Chí Minh cầm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp từ 1945 tới 1954.

 

Biến cố mở đầu được gọi là Cách Mạng Tháng Tám hoặc cuộc Tổng Khởi Nghĩa Cướp Chính Quyền Về Cho Nhân Dân xẩy ra ngày 19-8-1945 là cuộc biểu t́nh tổ chức tại Công Trường Nhà Hát Lớn Hà Nội, sau đó biến thành tuần hành tới một số cơ quan để đại diện Việt Minh tiếp thu chính quyền theo thỏa thuận đă dàn xếp.

 

Mấy ngày sau, 27-8-1945, Hồ Chí Minh ra tuyên cáo về việc Ủy Ban Dân Tộc Giải Phóng thuộc Mặt Trận Việt Minh “tự cải tổ thành Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, mời thêm một số nhân sĩ tham gia để cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân giao phó… Chính Phủ lâm thời không phải là chính phủ riêng của Mặt Trận Việt Minh… Nó thật là một chính phủ thống nhất quốc gia giữ trọng trách chỉ đạo cho toàn quốc, đợi ngày triệu tập được Quốc Hội để cử ra một Chính Phủ Dân Chủ Cộng Ḥa chính thức…”.

 

Trước đó, ngày 25-8-1945 tại Huế, Bảo Đại chính thức tuyên bố thoái vị, trao ấn kiếm cho đại diện Việt Minh đồng thời tại Sài G̣n, Khâm Sai Nguyễn Văn Sâm cũng bàn giao chính quyền cho Lâm Ủy Hành Chánh do Trần Văn Giàu làm Chủ Tịch.

 

Các phe phái không Cộng Sản trên khắp nước đă bày tỏ cụ thể tinh thần liên hiệp đoàn kết. Hồ Chí Minh đă tuyên cáo chính phủ không phải của riêng Mặt Trận Việt Minh mà là chính phủ thống nhất quốc gia.

 

Khó khăn trước mắt là hậu quả nạn đói và trận lụt vừa xảy ra bắt đầu từ ngày 18-8-1945 tại nhiều tỉnh miền Bắc cùng với thái độ của nhiều phần tử thực dân trong chính giới Pháp không muốn từ bỏ chủ quyền tại Đông Dương.

 

Tuy nhiên, công việc đầu tiên của chính phủ do Hồ Chí Minh lănh đạo lại xoay theo hướng khác.

 

Chỉ mấy ngày sau khi chính phủ chính thức ra mắt, ngày 1-9-1945, lực lượng vơ trang Việt Minh mở cuộc tấn công tiêu diệt căn cứ Nga My, Ninh B́nh của Đảng Đại Việt Duy Dân.

 

Trong 10 ngày đầu tháng 9-1945, Vơ Nguyên Giáp nhân danh Bộ Trưởng Nội Vụ kư một loạt sắc lệnh giải tán các đảng Đại Việt Quốc Gia Xă Hội, Đại Việt Quốc Dân Đảng… v́ âm mưu với ngoại quốc đe dọa nền Độc Lập của Việt Nam và bắt giữ nhóm lănh đạo Thanh Niên Ái Quốc Hội với tội danh Việt gian.

 

Tại miền Nam, các nhân vật giáo phái và nhóm Cộng Sản Đệ Tứ Quốc Tế bị lùng bắt với tội danh âm mưu đảo chính. Hành động này khiến bùng nổ cuộc biểu t́nh phản đối của tín đồ Ḥa Hảo tại Cần Thơ ngày 8-9-1945 và trở thành một vụ thảm sát khi Việt Minh đưa lực lượng vơ trang tới trấn áp.

 

Trả lời dư luận thắc mắc, ngày 10-9-1945, Trần Huy Liệu họp báo tại Hà Nội thanh minh chính phủ không hề khủng bố hay bắt bớ tràn lan “mà chỉ bắt những kẻ đă được nhận thấy là có phương hại tới chính quyền của nhân dân”.

 

Ngày 11-9-1945, báo Cứu Quốc của Việt Minh loan tin bắt giữ một số Việt gian xâm nhập từ các tỉnh Cao Bằng, Lào Kay mà thực tế chỉ là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Thanh Niên Ái Quốc Hội…

 

Trong cùng ngày, Vơ Nguyên Giáp kư sắc lệnh giải tán Việt Nam Hưng Quốc Thanh Niên Hội, Việt Nam Thanh Niên Ái Quốc Hội.

 

Hai ngày sau, 13-9-1945, báo Cứu Quốc loan tin bắt giữ hai lănh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng từng là đồng chí của Nguyễn Thái Học là Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Thế Nghiệp với tội danh phản quốc. Hai người này đều bị giết sau đó. Tờ báo đăng một bài dài mạ lỵ nhóm lănh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng đồng thời, Hồ Chí Minh kư sắc lệnh số 31 buộc mọi công dân “phải khai báo ư định biểu t́nh, hội họp cho chính quyền trước 24 giờ” và ngày 15-9-1945, Hồ Chí Minh kư thêm sắc lệnh “đưa đi an trí tất cả những phần tử nguy hiểm cho cách mạng”…

 

Bộ máy chính quyền đă được vận dụng tối đa và tức khắc vào việc trấn áp các phần tử được nhận thấy có phương hại tới chính quyền của nhân dân như cách nói của Trần Huy Liệu.

 

Chỉ có một thay đổi nhỏ so với thời kỳ trước là không cần sự tiếp tay của cơ quan mật thám Pháp v́ lúc này Đảng Cộng Sản đă nắm quyền trong tay.

 

Bernard Fall nói về hoạt động của Hồ Chí Minh: “Ông ta quyết tâm làm cho cái Nhà Nước Việt Nam (Dân Chủ Cộng Ḥa) sống sót bằng bất cứ giá nào…Khi Hồ thương thuyết với Pháp ở Fontainebleau th́ đồng chí của ông là Vơ Nguyên Giáp, Trần Văn Giầu, Nguyễn B́nh, Phạm Văn Bạch thanh toán "các kẻ nội thù của chế độ" gồm các nhà lănh đạo các giáo phái, các quan lại (Ngô Đ́nh Khôi), các nhà trí thức (như Phạm Qùynh), nhóm Trotskit, và các người yêu nước chống cộng” khiến dẫn đến cái hậu quả là " tại Nam Kỳ, cả hai phía, giáo phái và Việt Minh đă giải quyết thanh toán những phần tử cảm t́nh của đối phương như sau: Trói lại từng chùm rồi thả xuống sông Mê Kông cho chết trôi ra biển.”

 

Trong lúc tiến hành các thủ đoạn khủng bố tàn khốc đó, Hồ Chí Minh luôn tỏ ra sẵn sàng chấp nhận sự nhượng bộ tối đa trước đ̣i hỏi của các lực lượng dân tộc để chứng minh ḷng yêu nước.

 

Ngày 11-11-1945, Hồ Chí Minh công bố nghị quyết tự động giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương với lời phát biểu muốn “hợp tác tinh thành với các đảng phái khác” trong tinh thần đoàn kết dân tộc và tiến tới thành lập chính phủ liên hiệp để cùng chung lo việc nước.

 

Các lực lượng Việt Cách, Việt Quốc từ Hoa Nam trở về đáp ứng lời kêu gọi đoàn kết qua bản thông cáo chung kư tên Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh ngày 24-12-1945 với mục tiêu cụ thể:

– Độc lập trên hết, đoàn kết trên hết, tinh thành cùng nhau thảo luận để giải quyết hết thẩy những vấn đề khó khăn trước mắt.

– Ủng hộ một cách thiết thực cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc Hội. 

– Đ́nh chỉ mọi sự công kích nhau bằng ngôn luận và hành động.

 

Rồi chính phủ liên hiệp ra mắt, bầu cử Quốc Hội được tiến hành. Trên thực tế, cuộc liên hiệp chỉ giúp Hồ Chí Minh củng cố vai tṛ lănh đạo trong hoạt động ngoại giao với Pháp, ngoài ra các biện pháp tấn công phe đối lập vẫn tiếp diễn.

 

Trong Một Cơn Gió Bụi, Trần Trọng Kim ghi lại diễn tiến liên hiệp thời điểm đó: “Việt Minh đem một số người ở ngoài đảng của họ vào trong chính phủ như Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Tố, Đào Trọng Kim vv... để tỏ ra là một chính phủ liên hiệp có cả các hạng người. Song những cơ quan trọng yếu như quốc pḥng, nội vụ, tài chính, tuyên truyền đều ở tay những người chính thức Việt Minh, tức là cộng sản như Vơ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, Lê Văn Hiến, Phạm Văn Đồng vv...

 

Về phương diện quân sự th́ quân của Việt Minh có Giải Phóng Quân là quân đă được huấn luyện chính trị cộng sản, Vệ Quốc Quân và Tự Vệ Quân tức là công dân do các ủy ban xă, phố cắt để canh gác và giữ trật tự.

 

Quân của Quốc Dân Đảng th́ có từng khu riêng. Tuy bề ngoài nói các quân đội thuộc về bộ quốc pḥng, nhưng thực ra bộ ấy không có quyền hành ǵ cả. Việc ǵ cũng quyết định ở quân sự ủy viên hội có Vơ Nguyên Giáp, Cộng Sản, làm chủ tịch … Lúc ấy khẩu hiệu của chính phủ là "thống nhất quân đội" mà ba tháng sau khi chính phủ liên hiệp thành lập, quân đội vẫn không thống nhất được… Quân Việt Minh chỉ ŕnh có cơ hội là đánh quân Quốc Dân Đảng, hay bao vây để tiêu diệt lực lượng đối phương, thành ra hai bên cứ ḱnh địch nhau măi… Sở công an Việt Minh bắt những người Việt Nam Quốc Dân Đảng hay những người bị t́nh nghi vào tra tấn cực h́nh, có khi dùng những cách tàn nhẫn ghê gớm hơn thời Pháp và Nhật cai trị. Người một nước với nhau mà đối xử vô nhân đạo như thế, thật là thê thảm.”

 

Về t́nh h́nh chung, Trần Trọng Kim nhận định: “Cộng sản đảng, theo cách tổ chức và hành động, là một tôn giáo mới… Ai không tin theo và phản đối những người đứng đầu đảng tức những bậc giáo chủ, là người phản đạo, phải trừng trị rất nghiêm... Cho nên cha con, anh em, bè bạn không có t́nh nghĩa ǵ cả, chỉ biết tôn trọng chủ nghĩa cộng sản và phục ṭng người cầm quyền của đảng, ngoại giả, giết hại lẫn nhau, lừa đảo nhau: hễ ai làm những việc lợi cho đảng là người giỏi, người tốt… để thành lập xă hội mới. Xă hội mới ấy không tranh đấu cho quốc gia hay dân tộc. Dù có nói tranh đấu cho quốc gia hay dân tộc, cũng chỉ là phương pháp dùng tạm thời cho được việc mà thôi, chứ mục đích cốt yếu là tranh đấu cho giai cấp vô sản… để thực hiện một thế giới đại đồng, đặt dưới quyền chỉ huy của giáo chủ cộng sản ở bên Nga... Phương thuật của đảng cộng sản bên Nga nói là bài trừ đế quốc chủ nghĩa và tiêu diệt những chế độ độc tài áp chế nhưng lại áp dụng chế độ độc tài áp chế hà khốc và tàn ác hơn… Người cộng sản hay dùng chữ giải phóng…Có phải trước kia có cái cũi giam người, bây giờ đem cái cũi kiểu mới đến bên cạnh rồi bảo người ta chạy sang cái cũi mới ấy là giải phóng không? Nếu cái nghĩa giải phóng là thế, th́ cũi cũ hay cũi mới cũng vẫn là cái cũi, chứ hơn ǵ?… Người nào công kích người cầm quyền của đảng là phải tội bị đày, bị giết. Ai không sốt sắng theo ḿnh th́ bị t́nh nghi, phải chịu mọi phiền khổ. Nhân dân vẫn bị đàn áp lầm than…Như thế th́ giải phóng ở đâu?…Lúc đầu Việt Minh tuyên truyền rầm rĩ: "Nước Việt Nam đă được Đồng Minh cho hoàn toàn độc lập, dân được tha hết các thứ thuế"… Dân nghe nói thế chạy ùa ùa theo. Sau chẳng thấy độc lập đâu và dân lại phải đóng góp nặng hơn trước... Thủ đoạn của Việt Minh là dùng mọi cách bạo ngược, giả dối cho được việc trong một lúc. Như họ đối với Việt Nam Quốc Dân Đảng, nay nói đoàn kết, mai nói đoàn kết, nhưng vẫn đánh úp, vẫn bao vây cho tuyệt lương thực. Khi đánh được th́ giết phá, đánh không được th́ lại đoàn kết, rồi cách ngày lại đánh phá...”

 

Cho nên, giữa lúc hiện diện chính phủ liên hiệp, tháng 7-1946, Vơ Nguyên Giáp đă chỉ huy công an tấn công các trụ sở Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Hà Nội với lư do triệt hạ bọn cướp của giết người và cán bộ Cộng Sản dựng h́nh nộm khắp các cửa chợ, bến sông với tấm băng quàng trước ngực ghi tên Việt gian Nguyễn Hải Thần, Việt gian Vũ Hồng Khanh, Việt gian Nguyễn Tường Tam… là những người có mặt trong chính phủ liên hiệp nhưng không chấp nhận Cộng Sản…

 

Hồ Chí Minh đă tiếp nối hoạt động của thời kỳ trước với mức độ cao hơn.

 

Nhu cầu đoàn kết dân tộc khẩn thiết hơn bao giờ hết khi chiến tranh Việt - Pháp bùng nổ cuối tháng 12-1946, nhưng với Hồ Chí Minh, chiến tranh là cơ hội tốt để thanh toán các phần tử đối lập hầu củng cố đảng Cộng Sản được tuyên bố giải tán từ cuối năm 1945. Bernard Fall là người từng gặp gỡ và có nhiều thiện cảm với Hồ Chí Minh đă ghi lại: "Chiến tranh Đông Dương bùng nổ đă đơn giản hóa những khó khăn về chính trị của ông Hồ. Không cần phải đối xử với phe đối lập bằng bàn tay bọc nhung nữa: Cứ việc gọi họ một cách đơn giản là Việt gian.”

 

Tất nhiên không phải toàn thể quần chúng đều dễ dàng tin theo luận điệu chụp mũ vu cáo do Cộng Sản đưa ra.

 

Nếu có những người do ḷng yêu nước thúc đẩy chỉ dồn trọn tâm lực vào việc chiến đấu chống Pháp không băn khoăn về mọi diễn tiến khác th́ cũng có những người ưu tư về chủ trương của Hồ Chí Minh.

 

Những người sau này đă nhận thấy đối với Hồ Chí Minh, không phải thực dân Pháp mà chính những người yêu nước không chấp nhận Cộng Sản mới là kẻ thù số một. Cho nên thay v́ tập trung sức mạnh toàn dân để ngăn chống Pháp, Hồ Chí Minh đă lợi dụng t́nh thế chiến tranh để tiêu diệt các phần tử đối lập bằng mọi thủ đoạn.

 

Mục tiêu phụng sự quốc gia dân tộc mà Hồ Chí Minh luôn tuyên bố đă hiện h́nh là chiêu bài che đậy cho mục tiêu giai cấp đấu tranh. Quốc gia dân tộc chỉ là phương tiện giúp Hồ Chí Minh và các đồng chí áp đặt một đường lối chính trị vào Việt Nam.

 

Ư thức này khiến mọi hy vọng cuối cùng về ḥa hợp ḥa giải dân tộc hết lư do tồn tại và không ít người đă dứt khoát từ bỏ hàng ngũ kháng chiến do Cộng Sản đang khai thác để mở ra cục diện t́nh h́nh mới là sự h́nh thành trận tuyến những người Việt Nam yêu nước chống Cộng Sản.

 

Trên thực tế, sự hiện diện của yếu tố Cộng Sản trong t́nh h́nh Việt Nam ngay từ 1945 đă trở thành vấn đề hết sức phức tạp đối với chính giới Pháp, Mỹ. Tư cách cán bộ Đệ Tam Quốc Tế của Hồ Chí Minh giúp thêm lư do cho các phần tử thực dân Pháp theo đuổi tham vọng tái lập chủ quyền tại Đông Dương, đồng thời trở thành chướng ngại cho chủ trương của Mỹ chống đối chế độ thực dân. Bốn tháng trước khi chính thức tuyên chiến với Đức, Tổng Thống Roosevelt đă thuyết phục Thủ Tướng Anh Churchill cùng kư tên trong bản Tuyên Cáo 14-8-1941 được gọi là Hiến Chương Đại Tây Dương cam kết tôn trọng quyền tự quyết của các quốc gia bị trị. Với chủ trương này, Mỹ không đồng ư cho quân Pháp giải giới Nhật tại Đông Dương và đặt lực lượng Đồng Minh tại Đông Nam Á dưới sự chỉ huy của Anh. Do đó, đơn vị đặc vụ Mỹ tại Hoa Nam đă hỗ trợ Việt Minh từ đầu năm 1945 và nhiều sĩ quan Mỹ tỏ ra có thiện cảm với Hồ Chí Minh. Trong ngày tuyên ngôn độc lập 2-9-1945 của Việt Nam, một số tướng tá Mỹ đă hiện diện trên khán đài ở Hà Nội, thậm chí tướng Gallagher c̣n lên đài phát thanh Hà Nội hát “quốc ca” đ̣i “phanh thây uống máu quân thù” đến nỗi sau đó bị khiển trách. Tuy nhiên, Mỹ lại nắm chắc tính lệ thuộc Liên Xô của Hồ Chí Minh và đang đối diện với mối lo về t́nh trạng Liên Xô mở rộng ảnh hưởng khắp Đông Âu sau sự sụp đổ của Đức. Một chính quyền Cộng Sản xuất hiện tại Việt Nam với tư cách đầu cầu cho Liên Xô tràn lấn khắp Đông Nam Á là điều ngoài ư muốn của Mỹ. Cũng ngoài ư muốn của Mỹ nếu Pháp tái lập chế độ bảo hộ tại đây.

 

Thực ra không phải chính quyền Paris lúc đó không chia xẻ mối ưu tư của Mỹ về hiểm hoạ Cộng Sản. Ngay trong thời gian tiến hành hội nghị Fontainebleau, thủ tướng Pháp George Bidault đă căn dặn trưởng đoàn Pháp Max André về thái độ thận trọng để không biến Hồ Chí Minh thành con cờ của Liên Xô như chính Vơ Nguyên Giáp đă ghi lại trong tập hồi kư Những năm tháng không thể nào quên.

 

Lời căn dặn của Bidault có thể hiểu là lời nhắc nhở phái đoàn Pháp nên uyển chuyển, thậm chí sẵn sàng mềm dẻo tới mức tối đa để thu hút Hồ Chí Minh về phía Tây Phương. Nhưng thái độ của Hồ Chí Minh đă khiến mọi nỗ lực của Pháp không thể đưa tới kết quả mong muốn. Khởi từ sự việc này, có thể nói sự có mặt của Pháp tại Việt Nam đă mang ư nghĩa ngăn chống Cộng Sản ngay từ năm 1946, cụ thể là ngăn chống sự bành trướng ảnh hưởng của Liên Xô. Tuy nhiên, ư nghĩa này đă bị che khuất bởi các định kiến sẵn có từ lâu về vai tṛ thực dân của Pháp tại Đông Dương, nhất là khó tránh bị khai thác bởi một số người vẫn chưa thể chấm dứt giấc mơ tái lập chế độ thuộc địa.

 

Những yếu tố phụ thuộc này đă dễ dàng biến ư hướng ngăn chống Cộng Sản của người Pháp thành một chiêu bài che giấu ư đồ thực dân và v́ thế đă đặt Pháp vào một trận tuyến không được dư luận quốc tế hỗ trợ.

 

Chính v́ thế, trong bản thông báo ngày 16-12-1946 gửi các đại sứ Mỹ, Ngoại Trưởng James Byrnes tuy ghi nhận ảnh hưởng Pháp tại Việt Nam không chỉ là kháng tố với ảnh hưởng Liên Xô mà c̣n mang tính bảo vệ toàn vùng Đông Nam Á trước đà bành trướng của Cộng Sản, nhưng Mỹ vẫn giữ thái độ hết sức dè dặt. Do đó, nhiều viên chức ngoại giao Mỹ như Abbott, Landon, Reed, O’Sullivan đă tới Việt Nam với vai tṛ điều giải cố t́m một lối thoát cho t́nh thế khó khăn tại đây đă không vượt khỏi t́nh trạng thụ động chờ đợi.

 

Cuối cùng, tháng 12-1946, Abbott thú nhận đành bó tay, bởi thay v́ nhắm tạo một liên bang kinh tế cần thiết cho cả hai bên th́ Pháp cũng như Việt Minh đều nh́n theo hướng khác. Pháp không thể xác định nổi thế nào là quan điểm quốc gia tự do trong khối Liên Hiệp Pháp c̣n Việt Minh giữ thái độ như trẻ nít chỉ nêu đ̣i hỏi trong sự thiếu kém kiến thức cả về kinh tế lẫn vấn đề độc lập. Việt Minh không rời bỏ ư đồ độc bá trong khi Pháp không thể dễ dàng đặt các xứ Đông Dương vào ṿng ảnh hưởng của Liên Xô. Nhưng lập trường ngăn chống Cộng Sản của Pháp luôn bị đồng hoá với mong muốn tái lập đặc quyền của Pháp, trong khi Việt Minh lại nắm được chiêu bài tranh thủ độc lập cho dân tộc. Trên thực tế, mong muốn tái lập đặc quyền của Pháp vẫn tồn tại với không ít nhân vật trong chính giới Pháp lúc đó và trở thành một xu hướng có ảnh hưởng đáng kể. Hai xu hướng này chỉ có một điểm gặp gỡ là cùng đối đầu với lực lượng yêu nước Việt Nam nên đă có lúc mặc nhiên hợp sức cố loại khỏi chính trường tiếng nói đại diện trung thực cho nhân dân Việt Nam, và chỉ ngừng tại đó. (9)

 

Thành ra Mỹ không có lư do can thiệp vào nội t́nh Đông Dương, cũng không thể nghiêng về phía Việt Minh hay về phía Pháp, và chiến tranh trở thành tất yếu. Đương nhiên, cả hai phía đều cố che giấu thực chất của ḿnh. Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản đă có sẵn bộ áo dân tộc yêu nước để hô hào toàn dân hỗ trợ chống xâm lăng trong khi những phần tử chủ trương tái lập chế độ thuộc địa cũng khai thác danh nghĩa ngăn chống Cộng Sản của Pháp để thúc đẩy t́nh h́nh diễn biến theo những tính toán của ḿnh. Thực tế phức tạp này đă đem lại thuận lợi nhiều hơn cho chiêu bài yêu nước của Hồ Chí Minh trong khi phủ mờ ư nghĩa ngăn chống Cộng Sản của Pháp vào thời gian bùng nổ cuộc chiến, nhất là khi Cộng Sản Quốc Tế mở rộng mặt trận tuyên truyền trên khắp thế giới.

 

Tháng 9-1947, tổ chức Đệ Tam Quốc Tế Komintern sống lại dưới cái tên Pḥng Thông Tin Quốc Tế Cộng Sản Kominform đặt các quốc gia và tổ chức Cộng Sản khắp nơi vào cuộc đấu tranh cho cách mạng thế giới do Liên Xô lănh đạo.

 

Do ảnh hưởng Liên Xô mở rộng sau chiến tranh, cuộc cách mạng thế giới không c̣n hạn chế trong phạm vi hưởng ứng của một số tổ chức mà có sự tiếp tay qui mô của nhiều quốc gia. T́nh h́nh thế giới lập tức biến thành thế phân cực đối đầu giữa Liên Xô và các nước Tây Phương.

 

Do đặt dưới quyền chỉ đạo của Cộng Sản, cuộc kháng chiến tại Việt Nam đă gắn kết chặt chẽ với cuộc chiến ư thức hệ giữa hai khối Tự Do và Cộng Sản như Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chúng ta làm cách mạng đánh đế quốc thực dân tức là đánh tư bản chủ nghĩa. Cuộc cách mạng đó có qui mô thế giới mà cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam là một bộ phận. Cách mạng Việt Nam được sự ủng hộ của cách mạng thế giới, và cách mạng Việt Nam góp phần vào cuộc cách mạng thế giới đó."

 

Lời tuyên bố của Hồ Chí Minh cho thấy rơ cuộc kháng chiến không hoàn toàn nhắm mục tiêu giải phóng dân tộc mà nhắm góp phần vào cuộc cách mạng thế giới đánh đổ tư bản chủ nghĩa. Nền độc lập của Việt Nam trở thành thứ yếu v́ cuộc chiến mang tính cục bộ của cách mạng vô sản thế giới với mục tiêu bành trướng ảnh hưởng tại Đông Nam Á. Hồ Chí Minh và Cộng Sản Việt Nam được sự ủng hộ của cách mạng thế giới – như lời Hồ Chí Minh tuyên bố – để đẩy nhân dân Việt Nam vào một cuộc trường chinh mở rộng biên thùy cho thế giới Cộng Sản.

 

Vai tṛ chống Cộng Sản của Pháp tại Đông Nam Á trở thành sự thực, nhưng h́nh ảnh thực dân vốn có nơi Pháp không dễ xóa nḥa trong dư luận.

 

Dân chúng Việt Nam sau gần một thế kỷ bị Pháp đô hộ đă quen đồng hóa người Pháp vào các quan chức thuộc địa.

 

Với dư luận thế giới, sự xuất hiện những đoàn quân viễn chinh trên một đất nước xa lạ để chống người dân địa phương không dễ giải thích bằng việc bảo vệ bất kỳ thứ lư tưởng nào.

 

Hơn nữa, nhiều người c̣n ngờ vực về cuộc chiến tranh ư thức hệ, v́ không nh́n thấy cuộc chiến đó ở đâu và ngờ vực luôn cả sự hiện diện của t́nh trạng chiến tranh lạnh.

 

Tâm trạng này xuất phát từ nhiều lư do, trong đó quan trọng hơn hết là sự không lưu tâm tới quan niệm đấu tranh giai cấp với chủ trương liên tục và trường kỳ chiến đấu khắp toàn cầu dưới mọi h́nh thức để xóa bỏ ư thức hệ Tư Bản. Từ quan niệm này, Cộng Sản đă phát động cuộc chiến mệnh danh chiến tranh ư thức hệ bất chấp thái độ của kẻ địch, kể cả trường hợp kẻ địch phủ nhận sự hiện diện của ư thức hệ Tư Bản – một cuộc chiến tất yếu theo quan niệm đấu tranh giai cấp và xảy ra dưới nhiều h́nh thức nhắm đánh đổ mọi kẻ địch được nêu rơ theo lập luận duy vật biện chứng, kể cả những kẻ không hề nghĩ tới Cộng Sản hay chống lại Cộng Sản. Cũng do đó đă xuất hiện danh từ “chiến tranh lạnh” để diễn tả t́nh trạng chiến tranh không có tiếng súng. Dưới sự lănh đạo của Liên Xô, các quốc gia và tổ chức Cộng Sản khắp nơi kết thành một trận tuyến chống lại mọi xu hướng tư tưởng khác với tư tưởng Cộng Sản bao gồm Phong Kiến, Thực Dân, Tư Bản, Dân Tộc… kể cả các hệ phái Cộng Sản ngoài Đệ Tam Quốc Tế như Kausky, Trotski …

 

Hồ Chí Minh là cán bộ Đệ Tam Quốc Tế từ 1923, Đảng Cộng Sản Đông Dương là chi bộ trực thuộc Đệ Tam Quốc Tế từ 1931 nên cuộc chiến chống Pháp tại Việt Nam gắn chặt với trận tuyến này, tức không thể không mang tính cục bộ của cuộc chiến ư thức hệ thế giới đang diễn ra giữa hai phe Cộng Sản và Tư Bản.

 

Từ đây, không thể phủ nhận vai tṛ chống Cộng Sản của Pháp dù trong chính giới Pháp vẫn tồn tại những phần tử chưa muốn từ bỏ chính sách thực dân.

 

Theo đúng nguyên lư Lenin với sách lược mặt trận dân tộc, hết thẩy các quốc gia và đoàn thể chịu ảnh hưởng Liên Xô đă khai thác sự hiện diện của những phần tử thực dân để vùi dập, bôi nhọ vai tṛ chống Cộng Sản của Pháp đồng thời khai thác sự hiện diện của những người yêu nước trong hàng ngũ kháng chiến Việt Nam để tán dương chính nghĩa chống xâm lăng của Hồ Chí Minh. Để tăng hiệu quả cho lời tán dương này cũng xuất hiện những lập luận vu cáo, kết án mọi phần tử yêu nước từ bỏ hàng ngũ kháng chiến v́ nhận rơ con đường đi ngược nguyện vọng dân tộc của Hồ Chí Minh.

 

Chính nghĩa và ngụy nghĩa trở thành xen lấn, đảo lộn trong t́nh thế thực giả, khó phân. Vai tṛ chống Cộng Sản của Pháp không thể hoàn toàn hiển thị vào lúc đầu nên bị bôi xóa dễ dàng và ảnh hưởng nặng nề tới trận tuyến của những người Việt Nam yêu nước khi từ bỏ hàng ngũ kháng chiến để liên kết với Pháp.

 

Cuộc liên kết giữa những người Việt Nam yêu nước với Pháp khởi từ cuối năm 1947 là một quá tŕnh vận động hết sức gập ghềnh cho cả hai phía.

 

Để đại diện cho tiếng nói dân tộc, những người Việt Nam yêu nước phải đẩy Pháp về vị trí đồng minh thuần túy trong cuộc chiến ngăn chống Cộng Sản, trong khi Pháp một phần bị ràng buộc bởi thực tế chiến trường phần khác vẫn có những phần tử chưa thể từ bỏ ngay các đặc quyền. Tới cuối năm 1947, nhiều nhân vật chính trị Pháp vẫn nuôi ư đồ dùng các phần tử yêu nước Việt Nam như một chiêu bài trong chiêu bài chống Cộng Sản. V́ thế, không ít khó khăn đă kéo dài với việc chấp thuận các điều kiện liên kết do những người Việt Nam yêu nước đặt ra, trong số có 2 vấn đề:

 

– Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 3 miền Bắc, Trung, Nam có một chính phủ độc lập do người Việt Nam cử ra.

– Việt Nam sẽ có quân đội riêng do chính phủ Việt Nam độc lập nắm quyền điều động.

 

Đổi lại, Việt Nam chấp nhận gia nhập Liên Hiệp Pháp, sẵn sàng dành cho Pháp thay mặt về các vấn đề ngoại giao và quân đội Việt Nam sẽ tham gia bảo vệ khối Liên Hiệp Pháp.

 

(Xin đọc tiếp phần 2)