Hoạ sĩ Lê Khánh Thọ đă nhận giải
thưởng hội hoạ Pháp năm 2005. Năm 2000, bà cũng đă nhận giải
thưởng hội hoạ thứ nhất. Bà Thọ cũng là một tác giả được
giải thưởng danh dự Viết Về Nước Mỹ 2005. Hiện nay, bà
sống tại Châteauroux, France. Công việc: Dạy Pháp ngữ cho
đồng bào tị nạn Việt nam và Á Rập -Animatrice viện dưỡng lăo
Pháp- và làm thông dịch cho cộng đồng Việt tại Châteauroux-
France. Bà cho biết thường du lịch Mỹ thăm thân phụ và 4 anh
em. Bài viết mới lần này là cuộc tṛ truyện giữa tác giả và
thân phụ, một cựu đại tá VNCH, cựu tù nhân cải tạo, về
chuyện cầu cơ trong trại tù Nam Hà.
Mấy hôm rồi giấc ngủ vẫn chập chờn chưa quen giờ giấc thay
đổi…Tiếng chim hót líu lo vào buổi sáng mùa hè Cali và sự
yên tĩnh dễ chịu tương tự như vùng tôi ở bên nước Pháp. Vợ
chồng cô em út đă đi làm từ lâu. Có tiếng lách cách khóa cửa.
Tôi lên tiếng:
- Ba hở Ba?
- Ờ, Ba đây. Ba mới đưa hai đứa nhỏ tới trường.
Ba
hay thật ! 83 tuổi vẫn c̣n lái xe! Bước ra vườn thấy bóng
dáng Ba lù khù đang kéo một thùng rác thật lớn ra sân trước,
tôi lật đật chạy tới phụ nhưng Ba tôi khoát tay biểu: «Thôi
con! Ba làm quen rồi! ». Tôi ái ngại nh́n theo, bùi ngùi nhớ
h́nh ảnh thời Ba c̣n giữ chức vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn
2, oai nghiêm trong bộ quân phục đính ba bông mai trắng.
Buổi trưa chỉ có hai cha con ngồi ăn cơm. Trên bàn bày ê hề
thức ăn của cô em út mỗi sáng chịu khó dậy từ 6 giờ nấu
nướng. Tôi ngạc nhiên v́ Ba không gắp những món ngon mới nấu,
Ba cứ loay hoay với hủ cá chà bông. Chắc chắn đồ ăn thừa sẽ
cất vào tủ lạnh, rồi lại đổ cho đàn mèo hoang sau vườn như
mọi hôm. Tôi hỏi:
- Răng Ba không ăn mấy món kia Ba?
- Con Mỹ gởi từ Sài g̣n qua cả tháng mà không đứa mô ăn, ba
phải ăn kẻo bỏ uổng. Hồi c̣n ở tù Cọng sản làm chi có được
món quí như ri con!
Tôi nghĩ thầm sẽ dặn cô em bên Việt nam đừng gởi đồ khô qua
đây nữa. Nó không biết Ba vẫn luôn luôn ám ảnh về dĩ văng
hăi hùng của 13 năm tù cải tạo.Tôi ṭ ṃ hỏi:
- Hồi ở trong tù Ba ăn chi rứa Ba?
- Ba ăn sắn khô, loại dành cho súc vật ăn và bo bo nguyên vỏ
của Ấn Độ viện trợ. Cực khổ lắm !Mỗi ngày đều có năm ba
người chết v́ đói, v́ rét hay lao động kiệt sức.
- Con nghe nói tù cải tạo đói quá vô rừng thấy rắn rít chi
cũng bắt ăn phải không Ba?
- Đúng rứa. Con chi cũng ăn, chỉ trừ con bù lon là không ăn
thôi! Thành ra có một số người chết thảm v́ ăn trúng độc.
Tôi ngạc nhiên:- Con bù lon là con chi rứa Ba?
- A, lối nói của anh em trong tù. Ư là… bù lon đinh ốc ăn
không được!
Tôi bật cười nhưng vội nghiêm lại khi chạm phải gương mặt u
uẩn của Ba.
- Có ai bỏ trốn không Ba?
- Chỗ đó toàn là đá vôi. Khó trốn lắm! Trại Ba ở có một số
anh em trốn thoát nhưng qua vài ba ngày sau cũng bị bắt lại.
- Họ bị đánh không Ba?
Ba tôi phẫn uất:- Úi chầu! tụi nó đánh gần chết! Như trường
hợp Linh mục Nguyễn hữu Lễ bị đánh và bác Tiếu cũng bị đánh
găy xương sườn.Tội nghiệp Bác qua tới Mỹ chưa sướng được bao
lâu th́ mất! Chút nữa Ba đưa con đọc cuốn “Tôi phải sống”
của cha Lễ viết.
Tôi bàng hoàng nhớ tới Đại tá Trịnh Tiếu, bác nguyên là
Trưởng pḥng 2, quân Đoàn II, sau này bác làm Tỉnh trưởng
Ban mê Thuộc, là bạn thân của ba tôi và con gái bác là bạn
thân của tôi. Trước ngày vượt biên, Trúc Mai tới từ giă và
cho biết bác Tiếu nhất định trốn không ra tŕnh diện cải tạo,
nhưng không may cuộc vượt biên thất bại!
Nghe chuyện người đánh người, tôi bỗng nao nao buồn. Cùng
một dân tộc, cùng một màu da, cùng một tiếng nói mà họ nỡ
ḷng nào! Ôi Cọng Sản Việt nam sao tàn nhẫn quá! Họ “gieo
gió” rồi có ngày sẽ “gặt băo”!
*
Pha ly nước trà sen bưng ra pḥng khách, tôi rón rén ngồi
đối diện với Ba. Bất động, ngẩng mặt nh́n vào chân không,
trên gương mặt vốn cương nghị của Ba đầy những nếp nhăn tuổi
lăo hằn sâu biểu hiện niềm chịu đựng, nhẫn nhục và cay đắng.
Đôi mắt u uẩn xa xăm dường như đang trở về quá khứ, một quá
khứ ai oán của tù nhân chính trị khóc cho thân phận ḿnh,
cho đất nước và cho cả một dân tộc Việt nam đang bị một bọn
người dă man, vô lương tâm thống trị.
Tôi chợt nhớ lại khoảng năm 82 đang ở Pháp, được thư cô em
bên nhà kể chuyện lần đầu tiên thăm nuôi Ba: “Em nhận Ba
không ra chị ơi. Ba rụng hết răng rồi, trông Ba như bộ xương
khô xiêu vẹo biết đi!”. Mặc dù tôi không quên gởi quà cho Ba
nhưng trong tôi vẫn áy náy mang mặc cảm ḿnh thiếu sót bổn
phận làm con, v́ đă không lặn lội đường xa vạn dặm đến thăm
Ba, động viên tinh thần trong lúc Ba đang ở trong tận cùng
của nổi nghiệt ngă cuộc đời.
Mẹ tôi mất vào lúc Ba đang du học bên Mỹ, khi tôi tṛn 13
tuổi. Cái tuổi dậy th́ đầy mộng mơ nhưng đột nhiên mất thăng
bằng, hụt hẩng t́nh mẫu tử và tôi đă đặt tất cả niềm thương
yêu, ngưỡng mộ vào Ba. Cho dù đến bây giờ với số tuổi 53,
măi măi Ba vẫn là thần tượng của tôi.
Phá tan sự im lặng, tôi mời Ba uống nước và nhỏ nhẹ khơi
chuyện:
- Ba có c̣n nhớ hết những nhà tù của Ba không?
- Nhớ chớ sao không nhớ! Thời gian lao lư của Ba bắt đầu vào
tháng 6/1975. Ban đầu chúng nhốt ở Long Khánh, sau nó đưa
tụi Ba về trai Suối Máu ở Biên Ḥa. Đến tháng 6/ 1976, nửa
đêm tất cả bị di chuyển ra ngoài Bắc ở tỉnhYên Báy. Có lần
nhóm Ba đi làm trong rừng, gặp một vài người cũ hồi xưa kiểu
như Tri Huyện, Chánh Tổng, Địa Chủ, quan chức chính quyền
quốc gia trong liên hiệp Pháp thời trước, nay vẫn c̣n bị
quản thúc trên núi. Họ kể bọn Cọng Sản độc ác đến nổi khi họ
lao động được 1 hay 2 năm, trồng cây, trồng chuối khá rồi
th́ tụi nó bắt di chuyển đi nơi khác và bắt đầu làm lại. Cái
ṿng luẩn quẩn ấy đă mấy mươi năm rồi. Họ uất hận và đau
buồn lắm! Họ than thở: “Chúng tôi cứ tưởng các ông ở trong
đó ra đây giải phóng chúng tôi. Chớ ai ngờ bây giờ các ông
cũng bị lâm vào hoàn cảnh này thật là bi đát không khác ǵ
chúng tôi!”.
- Sau đó Ba bị đi đâu?
- Tháng 6/79 Trung quốc rục rịch chuẩn bị cho thằng Việt
Cộng bài học, do đó các trại tù bị di chuyển về trại Nam Hà,
vùng rừng núi tỉnh Hà Nam Ninh. Trại này gọi là trại Ba Sao.
Trại Nam Hà do công an bộ nội vụ quản lư. Chế độ vô cùng
khắc nghiệt, cuộc sống hết sức bi thảm. Đúng là địa ngục
trần gian! Ngày mô cũng có vài người chết. Khiếp đảm lắm!
Những người nào may mắn có đức tin chỉ biết thành tâm cầu
nguyện v́ đó là nơi bám víu duy nhất để sống và nuôi hy vọng.
Tất cả các tôn giáo đều cầu nguyện. Gồm có đủ các vị lănh
đạo tinh thần như Cao Đài, Ḥa Hảo, Công giáo, Phật giáo.
Sau gần một tháng khẩn cầu th́ tối 12/12/1979 có một vị
Thánh giáng cơ vào buồng 1, tức là buồng của Thủ tướng Lộc,
Phó chủ tịch Thượng Viện Hoàng xuân Tửu, Linh mục Nguyễn văn
Minh, Bộ trưởng Lê ngọc Chấn…Vị thánh là cụ Phan đ́nh Phùng,
danh hiệu Tùng La.
Cảm giác hồi hộp thích thú như hồi c̣n bé được nghe kể
chuyện siêu h́nh thần bí, tôi rời chỗ xích tới ngồi gần Ba
hơn. Tôi nôn nóng:
- Hay quá! Cầu cơ à! Thánh viết chi rứa Ba?
- Thánh cho thơ:
Đông phong thúc dục cảnh sầu thương
Chạnh bấy ḷng dân khó liệu lường
Trắc ẩn khuyên ai đừng ngán nổi
Có buồn có khổ rạng đài gương
Sau
đó Cụ cho luôn thơ bằng chữ Nho:
Tŕ tŕ bộ bộ bộ tŕ tŕ
Cử bộ thời lai hữu hỉ kỳ
Nguyên phụ cao bồi tư hóa dục
Thanh phân thiên tải tụng ḥa vy
Tôi ngẩn người ra:
- Con không hiểu chi hết!
- Ư Cụ dạy là phải chậm từng bước, ơn trên đang lo lắng cho
ḿnh. C̣n đây là bài Cụ cho về vấn đề cuộc đời là một sự vay
trả:
Vay trả cuộc đời thói đổi thay
Bể dâu riêng khóc hận vơi đầy
Tay khoanh há dễ ôm hờn tủi
Mặt ngoảnh đành cam chịu đắng cay
Hay dở biết nh́n khi phải tỉnh
Đảo điên trông thấy lúc cần say
Mày râu giữ trọn nguyền sông núi
Vay thỏa sức bằng đợi gió mây
Cụ dạy bài thơ này thuộc về loại thuận nghịch đọc. Đọc ngược
cũng được.
Mây gió đợi bằng sức thỏa vay
Núi sông nguyền trọn giữ râu mày
Say cần lúc thấy trông điên đảo
Tỉnh phải khi nh́n biết dở hay
Cay đắng chịu cam đành ngoảnh mặt
Tủi hờn ôm dễ há khoanh tay
Đầy vơi hận khóc riêng dâu bể
Thay đổi thói đời cuộc trả vay
Tôi ngạc nhiên bày tỏ niềm thán phục:
- Tuyệt quá! Thơ đọc được cả hai chiều!
Thấy tôi hăng say theo dơi câu chuyện, Ba sôi nổi kể tiếp:
- Hồi ở trại Yên Bái chật lắm! Phải nằm nửa người thôi, nằm
nghiêng nghiêng với nhau v́ không có chỗ. Khi về trại Nam Hà
cũng chật nhưng may nằm vừa sát. Mỗi pḥng có khoảng 100 tù
nhân. Ba nằm gần anh Dương Ngọc Bảo, cựu đại tá tham mưu
trưởng bộ chỉ huy tiền phương quân đoàn 4 và anh Đàm Quang
Yêu, cựu Đại tá tư lệnh biệt khu Quảng Đà. Pḥng có hai tầng,
tầng trên là ván gỗ. Ba lựa ngủ tầng dưới ciment v́ Ba sợ
rệp, nhưng nền ciment th́ lại bị lạnh lắm! Ba ở buồng 8,
thành khẩn khấn nguyện xin Thánh Tùng La soi sáng cho biết
tương lai bản thân ḿnh sẽ được trở về quê hương hay là sẽ
bị ngă gục trong lao tù Cộng sản. Sáng ngày khi trại tù mở
cổng, anh Hoàng xuân Tửu ở buồng 1, nguyên là Phó chủ tịch
Thượng Viện, đưa bài thơ có ghi dưới hàng chữ “Cho Đại tá
B́nh hiện đang khấn nguyện ở buồng 8”. Anh kể anh thưa với
Cụ:
“Con biết anh B́nh. Vậy con xin nhận bài thơ này. Sáng ngày
lao động con sẽ đưa lại cho anh B́nh”.
Tôi nôn nóng:
- Ba c̣n thuộc không Ba?
Gương mặt Ba rạng rỡ, say sưa ngâm:
Huế xinh Huế đẹp đất thần kinh
Ấp ủ bao năm một khối t́nh
Dâu bể tang thương cùng tuế nguyệt
Hẹn ngày tái ngộ với Hương B́nh
Anh Tửu kể thêm: Cụ giải thích Cụ dùng chữ “khối t́nh” có ư
là t́nh nhà, t́nh nước, t́nh dân tộc. Ba đọc xong ḷng cảm
thấy vui mừng và phấn khởi vô cùng, chứa chan hy vọng và tin
tưởng ở tương lai. Hàng tháng ngày rằm hay mồng một hoặc lúc
nào thuận tiện th́ anh em tất cả có thành tâm cầu nguyện là
được ngài giáng cho thơ, tùy theo sở nguyện của cá nhân hay
tập thể. Đặc biệt những bài thơ Cụ cho Ba thường có chữ
Hương B́nh.
Ngày sau trở lại chốn Hương B́nh
Sông núi bấy giờ thật đẹp xinh
Cay đắng không quên điều trọng nghĩa
Gian nan giữ trọn mối thâm t́nh
Tinh thần thanh thản cùng câu sách
Tâm trí nhẹ nhàng với cuốn kinh
Huyền diệu lẽ Trời là thế đó
Niềm vui tất cả chẳng riêng ḿnh
- Chắc ai cũng xin Cụ cho biết có hy vọng ngày về!
- Đúng như rứa. Cụ giáng thơ:
Thu sương thiên giáng động tây phong
Trục thất nam sơn xuất khí nồng
Nguyệt khuyết tàn vân tà ngọc thố
Đăi thời luyện nhật điểu phi thông
Sau này về được rồi th́ mới nghiệm lời Cụ cho rất linh ứng.
Ngọc thố là con thỏ. Người Tàu gọi măo là thỏ. Đa số anh em
được về năm măo, trong đó có Ba.
- Cụ cho tất cả bao nhiêu bài thơ hở Ba?
- Cho chung hơn cả ngàn bài. Tùy theo sở cầu, sở nguyện của
mỗi người th́ Cụ cho. Phần Ba được khoảng trăm bài. Ba có
ghi lại những bài c̣n nhớ. À, một chuyện đặc biệt… Anh
Nguyễn văn Hiểu làm ṭa lănh sự Mỹ ở Nha Trang, anh đă đi
theo tàu Thương Tín qua đảo Guam nhưng anh tranh đấu để đ̣i
về. Ngờ đâu Việt Cộng nó cũng nhốt anh ở trại Nam Hà. Ban
đêm khi anh em cầu nguyện, thường thấy anh ngồi lâm râm một
góc. Sau này mới biết té ra anh cũng đang khấn Cụ, xin Cụ
cho biết tương lai. Anh được Cụ giáng thơ:
Chưa hiểu được ḿnh khó hiểu ai!
Nhọc công thở vắn với than dài
Khá khen con tạo đành đưa đẩy
Trách bấy hóa công khéo đặt bày
Lỡ bước sa cơ hay dối trá
Chồn chân thất thế nếm chua cay
Ăn năn sám hối điều sai trái
Có lúc chim lồng sổ cánh bay
Sáng ngày đi lao động anh được người ta đưa thơ Cụ cho anh.
Anh vui mừng lạy Cụ quá trời! Hay ở chỗ anh này tên Hiểu
nhưng chưa hiểu được người. Chưa hiểu được ḿnh khó hiểu ai!
- Có ông nào hỏi chuyện vợ con không Ba?
- Có chớ! Một ông giám đốc khấn nguyện xin Cụ cho biết vợ
anh hiện đang ở bên Pháp, sau này anh được tái ngộ hay không?
Cụ cho thơ:
Xa xuôi khó nổi tỏ ḷng nhau
Kẻ luống nhớ thương kẻ dăi dầu
Lan quế sớm hôm c̣n nghĩa nặng
Trúc mai năm tháng đượm t́nh sâu
Ươm hoa hoa cũ càng thêm sắc
Ủ nhụy nhụy xưa vẫn đượm màu
Nhắn với lang quân niềm trọn vẹn
Có ngày gió Á gặp mưa Âu
Nhận thơ, anh mừng quá bái lạy bốn phương cảm tạ Trời Đất.
Tinh thần anh lên làm các bạn tù cũng vui lây.
Tôi thắc mắc:
- Khi cầu cơ bộ không ai sợ bọn ăng-ten báo cáo sao Ba?
- Sợ chớ răng không sợ! Nhưng mà ḿnh canh chừng tụi nó ngủ
mới dám cầu. Có một vị Tuyên úy tŕnh với Cụ hiện bây giờ
ăng-ten trong trại rất nhiều, hể hở ra là tụi nó báo cáo. Cụ
hạ bút ngay:
Đông đến mang theo giá lạnh về
Tháng ngày mưa gió liệu mà che
Súng rền đất Bắc nghe chan chát
Gió giật phương Nam thấy lập loè
Lao lư vẫn không quên nghĩa cả
Đắng cay càng măi nặng t́nh quê
Mặc ai tráo trở đời đen bạc
Giấy rách nhưng ta giữ lấy lề
- Chuyện Cụ giáng cho thơ có được phổ biến không Ba?
- À, Ba có hỏi Cụ: “Sau này con được về con sẽ kể chuyện Cụ
giáng xuống giúp bọn con, con xin thỉnh ư Cụ?” Cụ dạy: