Nguyễn Thế Thăng là tác giả vào chung kết viết về nước Mỹ
2008 với bài viết “Người Việt gốc Mỹ. Ông định cư tại Mỹ
1992, diện HO 13, hiện là cư dân tiểu bang Oregan. Công việc:
Sỹ quan điều hành tổ thông dịch viên của Lực Lựơng Pḥng Vệ
thuộc Vệ Binh Quốc Gia, Oregan, cấp bậc Thiếu Tá. (Oregon
Army National Guard/State Defense Force/ Interpreters Team/X.O).
Tại Việt Nam, trước 1975, Nguyễn Thế Thăng tốt nghiệp
khóa K2DH/ DH/CTCT, Đại Học Chiến Tranh Chính Trị. Sau tháng
Tư-1975, ông cùng các chiến hữu vào mật khu tiếp tục chiến
đấu chống cộng. Tháng 10-1975, sau nhiều nỗ lực chống trả,
mật khu chống cộng bị chiến xa cộng sản tràn ngập, tác giả
bị thương rồi bị bắt với vũ khi trên tay, bị mang “triển
lăm” tại huyện Thống Nhất, Đồng Nai. Bài viết sau đây là
hồi kư về những ngày tháng khốn cùng kể trên.
Câu chuyện không liên quan tới nước Mỹ, nhưng bản Anh
ngữ của bài viết -do chính tác giả dịch- đă được chọn đăng
trong tập san "War, Literature Art" cua Học Viện Quân Lực
Hoa Kỳ (USAF Academy). Phải chăng tờ tạp chí này coi đây như
một phần kư ức cần soi sáng của người Mỹ về chiến tranh Việt
Nam.
H́nh trên: Ông bà Nguyễn Thế Thăng và trưởng nữ, 23
tuổi, vừa tốt nghiệp Tiến sĩ Dược Khoa hạng danh dự tại
OHSU (Oregon Health... Science University). Trong họp mặt
phát giải thưởng ra mắt sách Viết Về Nước Mỹ ngày 28-6 sắp
tới, các thân hữu sẽ có dịp gặp gia đ́nh Nguyễn Thế Thăng và
nghe cô dược sĩ tân khoa nói tiếng Việt, coi tử vi, xem
tướng...
***
Suốt cuộc đời tôi trên mảnh đất quê hương bất hạnh, có lẽ
mùa Đông 1975 là một cái Đông lạnh lẽo nhất. Không biết có
phải v́ miền Nam VN vừa trải qua một cuộc đổi đời khủng
khiếp, hay v́ lúc ấy tôi đang bị cùm tại Trại A9 Long Thành
(Ngă Ba Thái Lan) trong một dăy nhà tôn vách gỗ mà không hề
có lấy một tấm mền mỏng che thân? Ban ngày ngủ, ban đêm phải
thức trắng ngồi xoa bóp liên tục khắp cả người cho ấm. Ôi
đêm dài vô tận trong cái lạnh thấu xương cộng thêm vết
thương trên người c̣n tươi máu. Chính từ chuỗi ngày đêm nơi
tầng cuối địa ngục này lại trở thành một phước duyên cho tôi
tập tễnh bước vào Thiền để sống sót và tồn tại đến ngày nay.
*
Trước và sau ngày 30/4/75 tôi đă không hề có ư định chạy
ra nước ngoài. Khoảng đầu tháng 6/75 tôi lên Trà Cổ (Hố Nai)
rồi từ đó vào rừng gia nhập Liên Đoàn 5 của Đại Úy Lê Đ́nh
Thạch SĐ5 (gồm một số Biệt Kích Dù, Biệt Động, Cảnh Sát, Địa
Phương Quân..).Chúng tôi sống trong các mật khu cũ của VC
vùng Sông Buông, Sông Mây (đầu Chiến Khu D). VC tràn ra
thành phố, bỏ ngỏ mật khu của họ với đầy đủ cḥi, lán, vọng
gác trên cây, bếp với nồi niêu xoong chảo, nương khoai, vườn
rau và một số rất lớn lựu đạn chày chỉ c̣n được dùng để đánh
cá v́ hệ thống kích hoả bị hư đến hơn 60%. Chúng tôi thường
tấn công những kho gạo Tân B́nh, Tân Bắc, Trà Cổ...trước khi
vác gạo về mật khu, chúng tôi dọn sạch kho đem bỏ từng bao
trước cửa mỗi nhà dân. Dân địa phương và gia đ́nh cũng tiếp
tế cho chúng tôi rất nhiều thực phẩm khác. Vũ khí cũ như
M16, M79 dần dần hết đạn, chúng tôi phải đánh VC để lấy AK,
B40...
Đến khoảng tháng 9/75 lực lượng chúng tôi đă có khoảng 80
người. Biết không thể chống cự nổi bọn CS đang say men chiến
thắng, chúng tôi dự trù sẽ đi đường bộ băng ngang Kampuchia
đến vùng biên giới Kampuchia-Thái Lan để dưỡng quân rồi tuỳ
cơ ứng biến. Trong vùng c̣n có một lực lượng Biệt Kích 81
hoạt động độc lập dưới sự chỉ huy của một người tên Ẉng A
Cẩu. Chúng tôi cũng đang liên lạc để sát nhập với một lực
lượng khác do Thiếu Tá Tam (Thiếu Tá Nguyễn Phước Trường)
chỉ huy. Có một Linh Mục tham gia tên Trần Học Hiệu (LM Hiệu
sau này đă bị giết chết trong tù).
Khoảng tháng 10/75, VC đưa 2 Trung Đoàn có 4 chiến xa yểm
trợ tấn công đơn vị chúng tôi và đơn vị của Thiếu Tá Tam.
Chúng tôi trải quân ra thật rộng với từng tổ tam tam chế,
đóng chốt trên tất cả những yếu điểm, kể cả những cḥi trên
ngọn cây, b́nh tĩnh xử dụng thật tiết kiệm từng viên đạn một.
Chiến đấu trong hơn 4 ngày đêm, chúng tôi đă mất hơn nửa
quân số. Sau khi Anh Thạch hy sinh, chúng tôi phải xé lẻ tan hàng.
Ba người theo tôi đi về Phước Long. Đến 10g sáng, chúng tôi
lọt ổ phục kích gần Xă Vĩnh Cửu. 1 Trung Đội VC nằm dài theo
bụi tre cách khoảng 15-20m bắn xối xả vào chúng tôi đang di
chuyển giữa đồng trống, quần áo tôi bị thủng nhiều lỗ, một
viên AK xuyên qua đầu gối (đang ở thế ngồi chồm hổm để bắn
lại) làm tôi ngă vật ra sau nhưng vẫn tiếp tục bắn đồng thời
ra lệnh 3 thuộc cấp thoát thân. Chuẩn Uư Nguyễn Thạch Điệp
nhất định liều chết để lôi tôi đi, tôi hét lên, Điệp vẫn
không buông tôi ra, tôi phải chĩa súng vào người Điệp gằn
giọng nếu không chạy đi, tôi phải bắn chú. Điệp rớm nước mắt
"dạ" rồi vọt, cùng lúc với đợt xung phong xáp lá cà của
địch, một tên dùng nguyên khẩu súng với trái đạn B40 đập lên
đầu tôi, tôi né qua một bên, bị trúng vào gáy rồi ngất đi.
H́nh như một tên chỉa AK vào đầu tôi định bóp c̣, một tên
khác la lên : đừng bắn, thằng này cấp cao, tài liệu sống,
đem nó về. Lúc tỉnh dậy thấy ḿnh đang nằm trên vơng vải
nylon, máu me ướt sũng lưng, bọn VC thay nhau khiêng tôi đi.
Ngang qua một số dân địa phương đang làm rẫy, tôi thoáng
nghe vài tiếng kêu "Giê-Su Ma".
VC đưa tôi về Huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai, nhốt tôi
trong một căn nhà không có nóc (bị pháo kích sập, chỉ c̣n 4
bức tường với các cửa đóng kín bằng những tấm ván lớn chéo
nhau). Tôi được đặt trên một bao tải cũ, gối đầu trên một
cục gạch thẻ, trên người chỉ c̣n một quần lót dính đầy máu
đă khô, đầu gối được bó lại bằng chính cái áo trận của tôi.
Đêm đó trời mưa như trút, cả người tôi ướt như chuột nằm
chịu trận suốt mấy giờ.Vết thương đau nhức khủng khiếp, máu
vẫn tiếp tục loang loang theo nước mưa. Sau cùng v́ quá
lạnh, sức đă kiệt, tôi lên tiếng kêu gọi Bộ Đội xin chuyển
tôi đi nơi khác, không nghe tiếng trả lời, tôi ráng lết vào
sát chân tường để núp. Nếu lúc đó cửa có mở tôi cũng không
thể trốn đi v́ đầu gối chân phải đă bị bắn xuyên từ bên này
sang bên kia, xương bánh chè bị vỡ nát.
Bị bắt tại trận với vũ khí trên tay thế này chắc chắn
100% là chết, nếu lỡ sau này có sống sót, có lành cũng thành
phế nhân, tôi đành quyết định chọn con đường tự sát. Ráng
đập đầu vào tường nhưng sức không c̣n. Thử cắn lưỡi th́ thú
thật đau quá, không đủ can đảm. Có lẽ phải nhờ VC giết giùm
thôi. Tôi bắt đầu la lên chửi rủa CS, chửi đích danh HCM
khan cả tiếng. Tôi tiếp tục chửi tất cả những tên đầu năo CS
lúc bấy giờ mà tôi nhớ được như Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm
Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ... rồi không biết ngất đi từ
lúc nào. Khi tỉnh dậy toàn thân tê tái, tê như đóng băng,
đầu vẫn gối trên cục gạch, thân vẫn nằm trên cái bao tải ướt
sũng, trên người gần như trần truồng được đắp lại
bằng....một tấm tôn! Ngoài kia gió vẫn rít gào, trời vẫn vô
t́nh mưa rả rích, nước mưa vẫn gơ nhịp đều đặn trên tấm tôn
lạnh lùng....
Sáng hôm sau VC triệu tập một cuộc mít tinh dân chúng
Huyện Thống Nhất để triển lăm mục đích răn đe với khoảng hơn
40 xác những "tên ác ôn" đă "đền tội". 11 người bị bắt (tất
cả đều bị thương). Số c̣n lại trốn thoát. Chúng khiêng tôi
ra đặt nằm phía sau một chiếc xe Jeep mui trần cho bà con
xem. Rất nhiều tiếng đả đảo từ những tay c̣ mồi. Không ít
những giọt nước mắt nghẹn ngào. Vẫn vỏn vẹn một chiếc quần
lót đẫm máu, tôi ngồi thẳng người, b́nh tĩnh nhếch mép cười
khi nghe những tiếng hô đ̣i tử h́nh kẻ "tội phạm". Lúc đó
đối với tôi hai tiếng "tử h́nh" nghe không c̣n ghê rợn nữa
mà thật b́nh thường v́ đó chính là điều tôi mong đợi và chấp
nhận như một ṣng phẳng tất nhiên. Một cô trung niên, mặt
khá xinh, người nhỏ nhắn, có vẻ rất hung hăng, vừa xô đẩy
những Bộ Đội giữ trật tự, vừa hô to: đả đảo những tên "xâm
lăng" (?) khốn nạn, hoà b́nh không muốn chỉ muốn chiến
tranh, những tên mặt người dạ thú, giả nhân giả nghĩa, giết
hại dân lành... hăy để cho tôi nhổ vào mặt nó, đập vào mặt
nó, tôi mới hả dạ. Tôi nghĩ mụ này là "VC cái" giả dạng
thôi, ḷng tôi thanh thản đến lạ lùng. Hăy để chúng trổ tài
bịp bợm. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi cơi đời ô trọc bằng bất
cứ giá nào, bằng bất cứ cách nào, dù xấu nhất. Tôi mỉm cười
nh́n thẳng vào mắt mụ khi mụ vung nắm đấm. Mụ không nhổ vào
mặt tôi. Mụ cũng không đập vào mặt tôi. Mụ luồn tay vào bụng
tôi làm như đấm tôi vậy, miệng vẫn tiếp tục chửi rủa. Tôi
cảm thấy cái ǵ đó nằng nặng trên bụng, liếc nhanh, th́ ra
đó là một quả quít nhỏ, tôi vội lấy tay che lại, nụ cười
thành trơ trẽn biến mất, nhường chỗ cho sự ngạc nhiên đầy lư
thú và cảm thông rất nhanh. Đôi mắt diễn viên trong một
thoáng lạc đi rồi trở lại ngay với vở kịch c̣n dang dở. Cô
ấy trạc tuổi tôi hoặc nhỏ hơn chút ít. Đến bây giờ, tôi vẫn
hằng ước mong có đưọc một dịp tái ngộ người ân nhân tuyệt
vời này (không phải v́ đơn thuần quả quít mà v́ giá trị
khích lệ trong một hoàn cảnh quá hy hữu).
Những ngày và đêm tiếp theo là thủ tục hỏi cung. Bộ Đội
Chánh Quy từ Miền Bắc t ương đối nhẹ tay, một vài người nói
và làm như miễn cưỡng, một người đă lén pha cho tôi một ly
sữa sau lần tôi bị ngất đi vài giờ. Những tay Giải Phóng th́
thật tàn bạo. Chính nơi đây tôi đă được nh́n thấy thế giới
bên kia sau những lần chết đi, có lần kéo dài đến 6-7
tiếng.Tôi đă nhẹ nhàng thanh thoát, lướt bay trên những cánh
đồng đầy hoa, không một chút bụi. Không cảm giác áo quần mặc
trên ḿnh dù rằng quần áo rất đẹp, không tơ lụa nào sánh
bằng, h́nh như kết bằng mây ngũ sắc. Cả không gian thật tươi
mát, thật sạch như vừa trải qua một cơn mưa nhẹ. Bầu trời
không một áng mây, không có mặt trời nhưng lại rất sáng và
trong suốt như pha lê. Tôi đă nhớ lại từng chi tiết nhỏ cả
quăng đời đă qua từ khi nhập thế. Những điểm tốt cùng với
bao nhiêu điều xấu. Vui vẻ, hài ḷng, thảnh thơi trước những
việc thiện. Hối hận, ăn năn, dằn vặt, đau khổ trước những
điều bất thiện. Có lẽ đó là "toà phán xét" theo giáo lư đạo
Thiên Chúa. Có thể đó chính là niết bàn và địa ngục theo
Phật Giáo chăng? Tôi đă nghe và hiểu những con chim đang hót
những lời tán tỉnh. Tôi đă thấy những con cá giành ăn và
nghe chúng căi nhau. Chính nhờ vậy tôi lại càng không sợ
chết nữa, trái lại c̣n mong muốn được ra đi thật sớm. Tôi
như tỉnh ngộ và nhận rơ rằng cái xác này tuyệt nhiên không
phải là tôi. Nó chỉ là một phương tiện, một địa chỉ tạm trú
của một trong vô lượng vô số kiếp mà thôi. Quá đủ rồi. Tôi
đă thoát ra và ngắm nh́n cái xác này bất động. Mấy lần đầu,
tôi nghĩ đó chỉ là những giấc mơ. Sau vài lần lập đi lập lại
thành xác tín, thành khẳng định những ǵ bên kia cửa tử, tôi
khẩn khoản một cách chân t́nh, một cách rất b́nh thản: các
Anh thấy tôi đă chết nhiều lần, tôi đă được qua thế giới bên
kia, đẹp lắm, b́nh yên lắm, tôi thề sẽ không bao giờ oán hận
các Anh, tôi hứa sẽ mang ơn nếu các Anh cho tôi một viên đạn
vào đầu để tôi được đi luôn, không phải trở lại cơi đời này.
Thật bất ngờ, kể từ hôm đó, họ không hề đụng chạm đến tôi
nữa. Một lần, một tay Cán Bộ bắt tôi nhận diện những đồng
ngũ đă hy sinh qua những tấm h́nh chụp trắng đen. Anh Thạch
nằm chết bên cạnh khẩu M60 không c̣n một viên đạn. Mắt Anh
một nhắm, một mở. Miệng Anh như mỉm cười. Tôi lặng người,
nước mắt lưng tṛng. Tay Cán Bộ giả vờ nh́n đi chỗ khác. Tôi
cố t́nh t́m nhưng không nh́n thấy xác Chuẩn Úy Vũ Thế Cường
là Anh Họ của tôi (Anh ruột Mẹ tôi là Vũ Thế Nghiệp tức nhà
báo Thần Phong hai năm sau đó bị xử bắn tại Thủ Đức). Vĩnh
biệt các Anh và hẹn ngày gặp lại, tôi khẽ th́ thầm.
*
Quay trở về Mùa Đông 1975 tại Trại A9 Long Thành. Trại
nằm ngay tại Ngă Ba Thái Lan gồm nhiều dăy nhà tôn vách ván
nơi đang tập trung học tập các cựu viên chức hành chánh
VNCH. Chúng tôi khoảng 50 người gồm nhiều thành phần bị nhốt
trong dăy nhà ngang cuối cùng có hàng rào kẽm gai quây kín.
Tất cả tù nhân bị cùm 2 chân, xiềng một tay vào ban đêm, ban
ngày chỉ xiềng một tay vào một chân.
Cùng Trại có môt người tên là Phan Xuân Hạ, bị bắt v́
nghi ngờ Cụ là Sĩ Quan Cao Cấp VNCH đang trốn tránh. Cụ rất
hiên ngang, dơng dạc. Nghe cái tên quen quen, tôi hỏi Cụ có
liên hệ ǵ với với một người Bạn cùng Khoá là Phan Xuân Mai
không, Cụ chỉ mỉm cười: con cháu trong nhà thôi. Bà Minh
Đăng (không biết tên thật, chủ đại bài gạo Minh Đăng Biên
Hoà) người phụ nữ duy nhất bị bắt v́ tiếp tế nguyên một xe
gạo vào rừng, đă dùng sợi dây xích làm xâu chuỗi , không
biết Bà đă đọc bao nhiêu kinh mà sợi xích sáng bóng như i
nốc vậy. Nguyễn Văn Chi, người bị đánh hội đồng nhiều nhất
trong suốt hơn hai tháng v́ bị nghi ngờ là Thiếu Úy Trần Văn
Chi (Th/Úy Chi bị một viên đạn xuyên qua vai phải, trốn
thoát, hiện đang ở San Jose California), Ngô Đ́nh Chiến bị
bắn xuyên qua bả vai trái, tay trái bị liệt. Nguyễn Văn Cân
bị ghẻ toàn thân chỉ trừ hai con mắt, Nguyễn Y người B́nh
Định (trông giống hệt h́nh Quang Trung Đại Đế), Trịnh Văn
Thương bị bắn xuyên qua đùi, Phạm Văn Thận với chiếc Jacket
với hàng chục lỗ đạn....
Cũng trong Trại này có một người lính cũ của tôi, Đào văn
Lành, không biết bị bắt bao giờ và về tội ǵ. Anh được làm
trong nhà bếp, phụ giúp nấu cơm cho Trại. Một lần đem cơm
cho tù nhân, Anh nhận ra tôi nhưng không dám nói, chỉ ra
hiệu. Tôi th́ vẫn muôn đời Lục Quân Việt Nam, cứ bô lô ba
la, cứ vui trước đă, đằng nào cũng chết, vui ngay cả với tử
thần như một thân hữu đang đợi trông.
Cơm ngày hai bữa trưa và chiều, mỗi người được hơn một
chén cơm với thịt cọp. Thịt cọp có nghĩa là muối hột, khi
nhai kêu cọp cọp. Tôi chỉ ăn một nửa muối, phần c̣n lại dùng
pha nước để tự rửa vết thương. Thỉnh thoảng được một chút
canh nấu bằng lá cải già hay bí rợ với muối. Một hôm Lành
lén trao cho tôi một lon sữa ḅ trong đó có phân nửa chất
nước đen đen, quẹo quẹo mà Lành nói là nước cá kho. Chao ơi,
nó ngon làm sao. Mỗi bữa ăn, tôi chỉ dám chan một muỗng cà
phê trên chén cơm hẩm mà tưởng như đang thưởng thức món cá
cao lâu ngày nào. Khoảng hơn mười ngày sau, khi vắng bóng
người, Lành hỏi nhỏ : nước cá kho tôi cho Ông có ngon không?
Cám ơn Lành, đang thiếu thốn mà được như thế không ǵ so
sánh bằng. Lành thật thà: Ông biết không, tụi nó kêu tôi rửa
cá khô, nguyên cả kí lô cá khô tôi rửa bằng một tô nước
thôi, nước đó tôi cô lại c̣n nửa lon cho Ông xài đỡ. Ráng
sống, ráng nhịn cho qua nghe Ông!
*
Rồi cũng qua một Mùa Đông. Một mùa Đông tang thương, thê
lương trên khắp nẻo đường đất nước. Cả miền Nam biến thành
một trại tù khổng lồ. Bốn tháng sau tôi bị chuyển về giam
tại Xă Ngăi Giao, Quận Đức Thạnh. Chỉ cùm 2 chân ban đêm
nhưng ban ngày vẫn phải đeo xiềng vô một chân để đi lao động
(mục đích giữ tù không chạy trốn). Từng đoàn tù với xiềng
xích kêu loảng xoảng trên đoạn đường gần làng B́nh Giả, tôi
lẩm bẩm hát bài Việt Nam Quê H ương Ngạo Nghễ thật thấm
thía: ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người, nụ cười
muôn đời là một nụ cười không tươi, nụ cười xa vời, nụ cười
của ḷng hờn sôi, bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt
nhân gian!!! Trung Úy Nguyễn Văn Tài lúc nào cũng chỉ một
câu vọng cổ trong "Chuyện t́nh Lan và Điệp": Em tên là
Nguyễn Thị Lan(g), xác c̣n nằm đó mà hồn tan(g) lâu rồi!! Ở
đây tuy ấm hơn nhưng rất khó ngủ v́ hàng sư đoàn rệp tấn
công suốt đêm.
Cũng tại nơi này, hai thằng em tôi là Đồng Quang Nhường
và Nguyễn Văn Hiển bị đánh chết. Hai em trốn trại bị bắt
lại. Chúng trói hai tay hai chân rồi treo lên xà nhà như
đang khiêng hai con heo. Đích thân thằng Trại Trưởng dùng
búa gỗ (một khúc cây tṛn đường kính cỡ 15cms, dài khoảng
30-40cms, đục một lỗ ở giữa tra cán vào, cán dài khoảng 1m,
dùng để đập tôn cho bằng). Nó vung thẳng cánh đập một nhát
vào đầu Đồng Quang Nhường nghe bộp như đập một quả dừa.
Nguyễn Văn Hiển ngoái đầu qua nh́n, thuận tay nó vớt một búa
ngay quai hàm của Hiển, quai hàm trẹo lặt qua một bên, máu
vọt ra có ṿi. Tôi nhắm mắt lại kêu Trời. Cố bịt miệng để
khỏi la thành tiếng. Cả hai xác Nhường và Hiển co giật vài
lần rồi buông thỏng. Vài phút sau, chúng cắt giây thả hai
xác xuống. Tôi và 3 người nữa t́nh nguyện đi chôn. Cả hai
xác c̣n nóng hổi được đặt nằm trên tấm gỗ dài cỡ 1m8, rộng
25 phân, hai cánh tay đong đưa theo nhịp bước, nhất là theo
cái cà thọt khấp khểnh chân què của tôi. Hiển máu vẫn c̣n
chảy toong toong trên đường. Cái đầu của Nhường ọp ẹp như
quả cà chua úng, hai mắt lồi lên, mặt sưng tím bầm. Đất tổ
ong mà dụng cụ đào chỉ là mấy cái cuốc xẻng cũ sứt sẹo.
Trung Úy Tài nhỏ con nhất nhưng là người khoẻ nhất, hăng hái
nhất: mấy ông ráng đào sâu sâu cho hai đứa nó. Cố gắng măi
đến tận mặt trời lặn cũng chỉ đào xuống được khoảng 7 tấc.
Cả hai xác đều bị chôn nguyên trạng, không áo quan, không
poncho hay chiếu bó lại. Tôi ráng gom vài mảnh báo cũ phủ
mặt cho hai em. Xếp vài cục đá xung quanh đầu rồi lấp đất
nhè nhẹ như sợ hai đứa đau.
Đêm đó tôi không tài nào ngủ được. Khoảng nửa khuya, dưới
ánh đèn heo hắt, tôi nh́n thấy thật rơ ràng: Nguyễn Văn Hiển
đang đứng bên cửa sổ pḥng giam, không nói ǵ, đôi mắt thật
buồn nh́n về xa xăm. Tôi nói thầm: Hiển ơi, thôi em hăy đi
đi, đừng luyến tiếc ǵ cơi đời giả tạm này, nghiệp báo em đă
trả xong, đừng oán ghét, đừng hận thù, hăy để cho ḷng thanh
thản mà siêu thoát....
Tôi cứ nói như thế, lặp đi lặp lại, dỗ dành, van lơn, lâu
lắm, bóng Hiển tan dần rồi biến mất. H́nh như có tiếng người
trở ḿnh bên cạnh, tôi xoay qua. Trong bóng tối mờ mờ, tôi
nhận ra Đồng Quang Nhường. Hai anh em như đang nằm trên một
toa xe lửa, dưới lưng cái ǵ bầy hầy như phân trâu ḅ. Tôi
hỏi nhỏ: chúng nó đưa anh em ḿnh đi đâu đây? Chúng nó sẽ
đưa Anh ra Bắc nhưng Anh đừng lo (Nhường lúc nào cũng lạc
quan) mọi việc sẽ rất tốt đẹp, rồi Anh sẽ vinh quang nơi xứ
người. Tôi cười khẩy: mẹ kiếp, miền Bắc chính là xứ người,
không phải xứ của anh em ḿnh, nhưng cái thân tàn tật tù tội
trên đất cáo Hồ th́ vinh với quang cái khỉ khô ǵ. Nhường
cười. Hai anh em cùng cười với nhau. Tôi bừng tỉnh. Chơ vơ.
Th́ ra đó chỉ là một ác mộng.
Mấy tháng sau tôi nhận được lệnh : "tha thụ h́nh, cho
phép đi cải tạo". Tôi bị chuyển qua Trại Lê Lợi. Nơi đây tuy
không bị c̣n bị cùm hay xiềng nhưng ở trong khu cách ly. Bên
kia hàng rào nh́n thấy Ngô Bá Lai, Nguyễn Hữu Tạo và một số
rất đông bạn bè khác, nhận ra nhau trong ánh mắt thật ngỡ
ngàng, tủi nhục, chua xót, đắng cay. Ngô Bá Lai nháy mắt bảo
tôi ra nhà vệ sinh, hai đứa trật quần ra ngồi bên nhau trao
đổi tin tức. Lai ân cần hỏi tôi thiếu thốn ǵ không. Một
tháng sau chuyển qua trại Long Giao. Tôi vào trại với hai cổ
tay và cánh tay bị trói chặt ra sau lưng bằng giây điện
thoại, hai chân trần với vỏn vẹn một bộ đồ trên người và một
túi vải nhỏ đeo trước ngực. Phạm Văn Bông nhận tôi về tổ,
trong cùng tổ có Trần Ngọc Hoàn. Cùng đội, cùng trại có
Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Nhự, Chung Gia Phong, Bùi Đức
Hùng, Nguyễn Thành An, Đặng Kim Cương, Trương Hội, Phạm Đức
Thịnh,....trại bên có Nguyễn Đức Phương...bạn bè chia sẻ cho
tôi thật nhiều đồ dùng và thực phẩm. Phạm Tuế tặng tôi một
chiếc quần treillis c̣n khá mới.
Ngày 23/5/1977 chuyển ra miền Bắc trên chuyến tàu Sông
Hương. Nằm trong toa xe lửa trên đoạn đường từ Hải Pḥng lên
bến phà Sông Hồng với toàn phân trâu phân ḅ, tôi cứ măi
miên man nghĩ về từng chiến hữu trong chiến khu, nghĩ thương
hai thằng em bị thảm sát trong tù, về thân phận ḿnh, về dân
tộc và quê hương cơn quốc nạn..... đôi mắt cay cay chiều xót
xa.
Nguyễn Thế Thăng