Nhớ Về Trại Tỵ Nạn Galang

 Nguyễn Duy-An

 

Cuối tháng 7, 2008 tôi nhận được Email của ông Trần Đông, giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam từ Úc gởi qua mời tham dự Chuyến Đi Về Bến Tự Do V (Back to the Shore of Freedom) để thăm lại 2 trại tỵ nạn Bidong (Malaysia) và Galang (Indonesia) từ ngày 9 đến 17 tháng 9, 2008.

 

Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (Archive of Vietnamese Boat People) là một tổ chức thiện nguyện. Mục tiêu tối hậu của VKTNVN là sưu tập tài liệu và di vật thuyền nhân Việt nam để đưa vào hệ thống Văn khố hay Bảo tàng viện quốc gia hay quốc tế. Các thế hệ mai sau sẽ t́m hiểu về nguồn gốc di dân của ḿnh. Những tài liệu này sẽ là nguồn dữ kiện vô giá để các cháu nghiên cứu và t́m hiểu. Công tác Văn Khố do vậy là công tác thuần tuư lịch sử, văn hóa và xă hội…

 

Một câu nói được đăng trên trang web http://www.vnbp.org đă thúc đẩy tôi t́m về với kỷ niệm từ 25 năm trước ở trại tỵ nạn Galang, Indonesia: Nếu không được thu thập có hệ thống và khoa học, chỉ 10 năm hay 20 năm nữa, khi những thế hệ thứ nhất của người Việt ở các trại tỵ nạn không c̣n, khi những người làm việc ở các trại tỵ nạn cũng không c̣n, khi ấy những dữ kiện về Thuyền Nhân Việt Nam cũng sẽ theo năm tháng chôn vùi!

 

Tôi xin trích đoạn một vài trang “Nhật Kư Đời Tỵ Nạn” để tưởng nhớ quăng thời gian tôi đă “tạm trú” ở trại tỵ nạn Galang, Indonesia.

 

Ngày… Tháng 6, 1983:

 

Tôi đến Galang vào một buổi chiều trời mưa như thác đổ. Cùng với hơn 300 người được chuyển tới từ đảo Kuku trên chiếc tầu Tegu Mulia, tôi chạy vội vào “trung tâm tiếp cư” của Cao Uỷ là một căn nhà trống ở bến tàu Galang để làm thủ tục nhập trại. Có tiếng ai đó vọng đến từ loa phóng thanh: “Đây Galang, ngưỡng cửa của Tự Do và T́nh Người xin chào đón các bạn.” Tim tôi rộn ră một niềm vui không bút mực nào diễn tả được. Tôi đă đặt chân tới bến bờ Tự Do sau gần một tuần lênh đênh trên biển cả và hơn một tháng đợi chờ ở Singkawang, rồi Kalimatan Barat trước khi được chuyển tới đảo Kuku…

 

Tôi thấy ḷng ḿnh se lại! Tôi muốn bắt chước một vị yếu nhân nào đó quỳ mọp xuống để hôn lên mảnh đất của Tự Do và T́nh Người nhưng tôi không đủ can đảm làm việc đó v́ tôi chỉ là một tên “vô danh tiểu tốt” vừa mới thoát khỏi Việt Nam trên một chiếc thuyền tre nhỏ bé... Tôi bần thần xúc động. Tôi muốn khóc cho niềm vui Tự Do nhưng mắt tôi vẫn trơ trơ ráo hoảnh. C̣n đâu nữa những giọt nước mắt thương đau để trào ra sau hơn 8 năm sống kiếp đọa đày với bao nhiều lần vượt biên thất bại, bị bắt và “cải tạo” ở B5 (Biên Ḥa), Bầu Lâm (Xuyên Mộc), rồi Cây Gừa (Cà Mau)… và những tháng ngày sống lây lất ở vùng “khỉ ho c̣ gáy” B́nh Giả – Xuân Sơn, ngày hai bữa khoai ḿ không đủ no! Tôi đă tới được bến bờ Tự Do. Tôi đă chứng kiến bao nhiêu cảnh thương tâm của đồng bao tôi đang gánh chịu trong ḷng đất mẹ Việt Nam – Quê hương yêu dấu của chúng ta. Mẹ Việt Nam ơi, con xin phép được quên đi những ngày tháng lang thang “đầu đường xó chợ” để bắt đầu lại một cuộc đời mới . Con muốn được cùng với hơn một triệu người dân Việt đang sống tha hương nơi đất khách quê người nối kết lại một ṿng tay chờ ngày trở về xây dựng lại quê Mẹ dấu yêu. “Mẹ Việt Nam ơi, xin Mẹ đừng khóc nữa v́ chúng con vẫn c̣n đây, những đứa con mang ḍng máu đỏ da vàng…

 

Tôi được chuyển tới Barrack 1, Zone 1, trại tỵ nạn Galang I. Tôi nằm thao thức măi tới gần sáng v́ những người đến trước đă kể cho tôi nghe nhiều chuyện “Galang nửa mảnh t́nh xù” với những đổ vỡ thương tâm, chuyện ăn chơi trác tác, chuyện tranh giành quyền lợi, vu khống, trả thù và thanh toán lẫn nhau của nhiều phe nhóm trong trại. Ôi! Trớ trêu thay cho cuộc đời! V́ không thể chịu đựng được cuộc sống mất tự do ở quê nhà nên tôi đă liều mạng ra đi bất chấp sóng gió đại dương. Tôi ra đi để làm ǵ? Một dấu hỏi thật lớn đă xuất hiện trong đầu làm tôi không ngủ được. Tôi sẽ lao ḿnh vào cuộc sống hưởng thụ tạm thời ở đây chăng? Có thể lắm. Tôi đă trải qua biết bao nhiêu gian khó để vượt thoát đến đây, tôi có quyền t́m kiếm một chút ǵ đó để tự đền bù cho chính tôi. Tôi chỉ muốn buông xuôi theo ḍng đời, phó mặc cho thời gian, người ta sao ḿnh vậy. Không được. Lương tâm tôi tự nhắc nhở. Tôi đă bất chấp rủi ro, tù tội, và cả cái chết, để cùng bạn bè xuống thuyền vượt biển t́m Tự Do. Tôi đă thành công. Tôi phải vươn lên. Tôi phải sống làm sao để không hổ thẹn với ḷng ḿnh khi nghĩ tới những người c̣n ở lại: Cha mẹ, anh chị em, bạn bè và cả dân tộc Việt Nam đang từng ngày rên rỉ kéo lê tấm thân tàn trong tuyệt vọng v́ “cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc” nhưng vẫn khắc khoải trông mong và đợi chờ một “ngày mai trời lại sáng.” Tôi không thể buông xuôi. Tôi không thể sống trong tuyệt vọng. Tôi phải can đảm đứng lên làm lại từ đầu.

 

Ngày… Tháng 7, 1983:

 

Tôi nhận lời cha Đỗ Minh Trí (Gildo Dominici) dọn vào trung tâm “Unaccompanied Minors” để “cùng ăn cùng ở” với gần 200 trẻ em không thân nhân như một người anh cả của đám trẻ ngang bướng và ngỗ nghịch nhất ở trại tỵ nạn Galang. Tại đây, tôi đă gặp một vài em chỉ mới 6, 7 tuổi rất tội nghiệp v́ cha mẹ của các em bị “rớt” lại lúc di chuyển từ “taxi” ra thuyền lớn... Tôi đă trằn trọc suốt đêm sau khi nghe một em bé mồ côi kể lại chuyến hải hành đầy máu và nước mắt, và chính em đă tận mắt chứng kiến cảnh cha mẹ bị hải tặc dùng búa tạ đập vỡ sọ trước khi vất xác xuống biển!

 

Theo chỉ thị của Cao Uỷ, trung tâm chỉ nhận những trẻ em không thân nhân dưới 16 tuổi; tuy nhiên, cũng có rất nhiều em đă lớn nhưng khai rút tuổi nên “ban lănh đạo” c̣n phải đứng ra dàn xếp nhiều chuyện “gỡ rối tơ ḷng” của tuổi đôi mươi mặc dầu đa số chúng tôi cũng chỉ lớn hơn các em vài tuổi. Trung tâm được các huynh trưởng của đoàn Thanh Niên Công Giáo, Tin Lành, Gia Đ́nh Phật Tử và Hướng Đạo Việt Nam tận t́nh giúp đỡ nên chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả các em đều được “đoàn ngũ hóa” và sắp xếp theo học các lớp tại trung tâm Giáo Dục Phổ Thông.

 

Ngày… Tháng 9, 1983:

 

Sáng nay tôi buồn kinh khủng! Tôi chỉ muốn “nằm mộng nghe kèn” suy nghĩ vẩn vơ, nhưng rồi tôi cũng vượt thắng được tính ươn lười, chỗi dậy đánh răng rửa mặt rồi lững thững lê gót lên trung tâm Sinh Ngữ để vào lớp dạy. Tôi không muốn làm mất niềm tin của hơn 30 học tṛ trong lớp Anh Văn tôi đang phụ trách. Tôi đă tự hứa sẽ cố gắng hết sức để hướng dẫn các bạn tôi trau dồi thêm tiếng Anh chuẩn bị cho bước đường định cư. Tôi được may mắn học hành tạm đầy đủ lúc c̣n ở quê nhà, bây giờ tôi phải đem hết khả năng ra phục vụ đồng bào đang chờ đợi ở trại Galang này. Tôi và “học tṛ của tôi”, chúng tôi đă gặp gỡ, chia sẻ tâm sự thật nhiều từ ngày đầu tiên tôi đến nhận lớp. Tôi phải “hiên ngang” lên lớp mặc dầu tôi đang “rầu thối ruột!”

 

Chiều hôm qua, trên quăng đường từ băi biển trở về với các em “minors” tôi đă t́nh cờ gặp lại một người lớp đàn anh học cùng trường từ trước năm 1975. Tôi không thể nào tưởng tượng được là anh ta vẫn c̣n ở Galang. Anh ấy đă rời Việt Nam từ cuối năm 1980. Tại sao? Tại sao lại có những người phải ở trại tỵ nạn một thời gian dài đến thế? Tôi đă thấm thía cảm nhận được thân phận của một người tỵ nạn không có thân nhân qua lời tâm sự của anh:

Cậu không thể ngờ được là ḿnh vẫn c̣n ở đây phải không? Ḿnh bỏ nước ra đi với bao nhiêu hoài băo phải không Duy? Nhưng bây giờ, sau gần 3 năm đợi chờ, ḿnh đă chán nản và tuyệt vọng lắm rồi. Cậu nghĩ xem, ḿnh chưa xong Đại Học th́ “nước mất nhà tan”, lang thang măi hơn 5 năm sau mới t́m được đường ra đi. Ḿnh không c̣n là “minor” nhưng cũng chưa đủ lớn để đi lính hay làm việc cho chính quyền trước năm 1975 nên không có tiêu chuẩn ưu tiên đi Mỹ. Tới đảo được 3 tháng ḿnh bị phái đoàn Úc “đá đèn” v́ lúc ấy có quá nhiều người xin đi Úc, nhân viên phái đoàn cứ rút đại một số đơn trong xấp hồ sơ, ai hên được gọi phỏng vấn, ḿnh không may nên lọt sổ. Sau đó ḿnh được Canada nhận nhưng 6 tháng sau bị từ chối v́ sức khỏe của ḿnh “mèng” quá! Cậu nghĩ xem, từ lúc đi “nông trường” sau năm 1975, ḿnh hút hết thuốc lào rồi thuốc rê để chống muỗi, sang đây cứ 5 ngày một bịch P3V, thân nhân không có, ḿnh lấy đâu ra tiền để tẩm bổ mà sức khỏe chẳng “mèng”, phổi nào mà chẳng có vấn đề, phải không? Ḿnh nản quá, không c̣n tin tưởng ǵ ở tương lai… Ḿnh cóc thèm học hành hay làm thiện nguyện việc ǵ cho mệt xác, cứ ngày hai bữa Cao Uỷ nuôi!

 

Đêm qua tôi lại mất ngủ! Tôi không tài nào hiểu được tại sao người đàn anh đáng kính cùng trường với tôi bây giờ lại bạc nhược đến thế. Tại sao? Tại sao một người có tŕnh độ đại học như anh mà không được phái đoàn nào nhận? Tại sao một người có học thức như anh mà bây giờ lại chấp nhận một cuộc sống tẻ nhạt và chán chường đến thế? Người tỵ nạn chúng tôi chẳng có một lựa chọn nào hết. Chấp nhận bỏ nước ra đi là chấp nhận tất cả… Biết đâu rồi cá nhân tôi cũng dần dần bại xuội như thế! Hoàn cảnh bây giờ đă khác xưa nhiều lắm. Nhân dân và chính phủ các nước đồng minh đă không c̣n đủ kiên nhẫn để cưu mang măi một ḍng người từ Việt Nam bỏ nước ra đi kéo dài đến bất tận. Người ta đang nh́n chúng tôi, những người tỵ nạn, như là một gánh nặng cần phải vứt bỏ càng sớm càng tốt. Đă có nhiều nơi người ta xua đuổi không cho thuyền của người tỵ nạn vào bờ!

 

Xin cám ơn Thượng Đế, Cao Uỷ tỵ nạn, chính quyền và nhân dân Indonesia… c̣n để lại cho chúng tôi một cái phao. Galang là một trong những trạm dừng chân cuối cùng c̣n mở cửa tiếp nhận thuyền nhân Việt Nam. Đă có không biết bao nhiêu ngàn người đă dừng chân nơi đây trong những năm vừa qua, và cũng đă có nhiều người chọn nơi này làm quê hương vĩnh viễn trong một nghĩa trang hiu quạnh bên con đường nhỏ nối liền hai trại tỵ nạn ở Galang. Tôi cứ miên man suy nghĩ suốt đêm dài để buồn thương thật nhiều cho thân phận của người tỵ nạn. Sáng nay tôi đến lớp như một cái xác không hồn. Tôi cứ bị ray rứt măi khi được biết c̣n quá nhiều người đang sống trong tuyệt vọng ở nơi đây!

 

Một khi niềm tin và hy vọng đă chết, con người sẽ sống như tôi con vật. Tôi lo lắng rồi mai đây chính tôi cũng sẽ lâm vào t́nh trạng như thế. Tôi cứ thắc mắc măi với hai tiếng tại sao. Tôi đă quyết định phải tự kiềm chế bản thân trước mọi gian khó để không bao giờ tuyệt vọng. Tôi phải luôn luôn tỉnh thức để không bao giờ buông xuôi theo hoàn cảnh đẩy đưa, cho dẫu tôi có khổ cực tới mức nào ở trại tỵ nạn cũng chẳng thấm vào đâu nếu đem so sánh với những người c̣n kẹt ở lại quê nhà. Ở đây tôi không có thân nhân “viện trợ” nên phải ăn uống cực khổ ư? Tôi có bao giờ nghĩ tới bao nhiêu người đang phải vật lộn với cuộc sống đói khổ rau cháo qua ngày trên quê hương yêu dấu Việt Nam hay không? Tôi bị các phái đoàn từ chối và phải ở đây làm “chúa đảo” ư? Tôi phải b́nh tĩnh suy nghĩ lại. Tôi không thể quên rằng lúc này vẫn c̣n hàng ngàn bạn bè đang vật vă trong trại cải tạo hay trên những nông trường lao động không công… Ai khổ hơn ai? Tôi đă vượt thoát tới được “ngưỡng cửa của Tự Do và T́nh Người” trong khi hàng ngàn người khác đă ra đi nhưng chẳng bao giờ tới bến. Bây giờ tôi không làm được ǵ cho quê hương, dân tộc Việt Nam ở bên kia bờ biển Thái B́nh Dương, nhưng tôi có cả một cộng đồng trước mặt đang cần đến bàn tay phục vụ của những người như cá nhân tôi. Tôi phải sống xứng đáng là “con rồng cháu tiên!” Tôi tự hứa sẽ cố gắng hết ḿnh để vươn lên. Gian khó hôm nay chuẩn bị cho vinh quang ngày mai.

 

Ngày… Tháng 11, 1983:

 

Bao nhiêu mộng đẹp và ước vọng về tương lai của tôi đă hoàn toàn sụp đổ sau 5 tháng ở Galang, sau khi biết tin ḿnh không được xếp vào bất cứ một “diện ưu tiên” nào để đi Mỹ… Tôi chỉ c̣n biết nằm chờ một dịp may rất nhỏ khi phái đoàn Mỹ mở hồ sơ “hốt rác” mỗi năm một lần! Chán nản. Buông xuôi. Tôi ngồi lỳ trong quán cà phê suốt buổi sáng, bỏ mặc học tṛ đến lớp chờ đợi rồi lang thang “bát phố” v́ không có người hướng dẫn. Tôi bực ḿnh. Tôi thất vọng. Tại sao phái đoàn Mỹ không chịu mở hồ sơ phỏng vấn tôi? Tôi làm thông dịch viên cho Cao Uỷ. Tôi trông coi các trẻ em không thân nhân trên đảo, trong đó cũng có nhiều em “lai Mỹ”. Tôi dạy tiếng Việt cho nhân viên các phái đoàn… Tôi đă lăn lộn tối ngày sáng đêm với bao nhiêu công tác thiện nguyện nhưng có được nâng đỡ ǵ đâu! Tôi bỏ bê mọi sự. Tôi chỉ muốn lè phè cho qua ngày.

 

Chiều nay tôi nhận được lá thư đầu tiên của Mẹ từ Việt Nam gởi qua. Tôi thật sự xúc động khi đọc lại những ḍng chữ thân thương của mẹ. Mẹ tôi như đă biết trước tâm trạng của tôi lúc này nên viết cho tôi những lời khuyên xác thực. Lá thư của mẹ đến thật đúng lúc. Tôi đă t́m lại được nghị lực. Tôi phải chỗi dậy bắt đầu lại. Tôi không có quyền lè phè trong khi ở quê nhà c̣n bao nhiêu người thân yêu đang sống trong tức tưởi, ṃn mỏi đợi chờ và hy vọng những người đă ra đi như tôi sẽ làm được một chút ǵ đó cho quê hương, dân tộc. Tôi đă ngă quỵ nhưng tôi phải thu hết can đảm đứng lên đương đầu với thực tế để vươn lên và vươn lên măi. Tôi phải tiếp tục đi theo con đường phục vụ thay v́ phè phỡn ăn chơi cho qua ngày tháng ở trại tỵ nạn. Tôi phải t́m lại niềm vui cho chính ḿnh để tiếp tục sống những ngày đáng sống ở Galang trong niềm vui phục vụ… Rồi sóng gió cũng sẽ qua nhanh.

 

 

Ngày… Tháng 3, 1984:

 

Tôi đang chuẩn bị di chuyển vào Galang II để theo học khóa C.O. 26 (Cultural Orientation). Tôi đă được phái đoàn Mỹ nhận mấy ngày trước tết Âm Lịch. Mùa xuân thứ nhất xa quê hương, tôi đă buồn thật nhiều v́ nhớ nhà, nhưng nỗi buồn đă qua mau nhờ h́nh bóng một người con gái. Tôi gặp nàng trong một bữa tiệc tất niên. Tôi làm quen, và…

 

Cô bé ấy có đôi mắt bồ câu thật đẹp và mái tóc thề xơa ngang vai mang dáng dấp một thiên thần. Lúc tôi đến làm quen, nàng đă mỉm cười thật tươi với đôi má lúm đồng tiền nho nhỏ. Nói tóm lại là tôi đă t́m được “chiếc xương sườn cụt” lạc mất từ lúc chào đời. Tôi quyết định sẽ xin nghỉ tất cả công tác thiện nguyện với lư do sắp sửa phải vào khóa học chuẩn bị lên đường định cư; nhưng thực ra là tôi muốn có nhiều giờ rảnh rỗi để đến với nàng. Cô bé đă ngỏ ư nhờ tôi dạy thêm tiếng Anh. Thôi, từ nay ḿnh đă có người lo cơm nước, đỡ phải lang thang và cũng không phải bận tâm lo lắng cho đám trẻ nghịch ngợm ở trung tâm “Unaccompanied Minors” nữa. Tôi đă làm việc phục vụ gần một năm trời ở trại, và bây giờ tôi có quyền nghỉ ngơi.

 

Nhưng rồi một người bạn, nói đúng ra là một người đàn anh, đă đến t́m tôi và vạch ra một công tác mới để tôi có thể tiếp tục phục vụ đồng bào trong thời gian theo học khóa C.O. 26 ở Galang II. Tôi đă phải miễn cưỡng nghe theo v́ sợ bị chê trách là “chí lớn không đong đầy đôi mắt giai nhân!” Đă hơn một lần tôi buồn v́ công việc quá bận rộn nên tôi không có được những giây phút thần tiên bên nàng. Tinh thần trách nhiệm đă khiến tôi phải xa nàng, và nàng cũng đă xa tôi để t́m vui bên một người thanh niên lúc nào cũng kề cận sẵn sàng an ủi và giúp đỡ nàng. Tôi thất t́nh! Tôi đă buồn khổ một ḿnh biết bao nhiêu đêm nhưng không dám bỏ bê công việc. Măi rồi tôi cũng t́m lại được niềm vui trong phục vụ. Tôi quyết định sẽ dùng đôi tay và khối óc làm việc phục vụ cho tới ngày rời đảo.

 

Ngày… Tháng 7, 1984:

 

Cầm tờ giấy nợ (promissory notes) ra khỏi văn pḥng Cao Uỷ tôi chợt thấy ḷng ḿnh chùng xuống, buồn man mác. Trời vẫn c̣n mưa. Mưa Galang dai dẳng buồn không chịu được. Tôi đă chạy như bay, bất chấp trời đang mưa nặng hạt khi nghe loa gọi lên văn pḥng Cao Uỷ kư giấy nợ. Niềm vui chợt đến v́ ḿnh có tên đi định cư vào ngày 28-07-1984. Nhưng bây giờ, sau khi đă hoàn tất thủ tục giấy tờ rời đảo, tôi mới thấy thấm thía câu nói “ra đi là chết ở trong ḷng một nửa!” Tôi buồn v́ chẳng c̣n bao lâu nữa tôi sẽ vĩnh viền ra đi, măi măi rời xa Galang, nơi được mệnh danh là “ngưỡng cửa của Tự Do và T́nh Người.” Tôi buồn v́ mấy ngày nữa tôi phải giă từ tất cả những kỷ niệm dấu yêu và bạn bè thân thương ở trại tỵ nạn để một ḿnh bước vào một con đường mới hoàn toàn xa lạ. Nơi tôi sẽ đến là một tỉnh nhỏ ở phía Tây Bắc của tiểu bang Pennsylvania… Tôi nghe nói ở vùng đó việc t́m gặp một người Việt Nam c̣n khó hơn đi t́m vàng. Buồn!

 

Hơn một năm trời ở Galang với bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, tôi xin gởi lại tất cả cho đồng bào tôi, những người c̣n ở lại. Tôi xin khắc ghi vào tâm khảm để không bao giờ quên Galang và “t́nh người” nơi đây: Những lúc miệt mài, vất vả v́ công việc; những giờ phút thoải mái trong một quán nước bên đường; những ngày đứng giảng bài trong lớp học oi bức; những bữa cơm đạm bạc từ khẩu phần P3V; những giờ phút chán nản và tuyệt vọng; những kỷ niệm và h́nh bóng thân thương của bạn bè c̣n ở lại nơi đây… Một lần nữa, tôi xin được vẫy tay từ giă Galang, ngưỡng cửa của Tự Do và T́nh Người để lên đường định cư.

 

* * *

 

Đă 25 năm qua rồi kể từ khi tôi đặt chân đến Galang… Trại tỵ nạn Galang đă bị đóng cửa hoàn toàn vào năm 1996, khi Cao Uỷ kết thúc chương tŕnh trợ giúp thuyền nhân Việt Nam và giao trả trại lại cho chính quyền Indonesia. Đă có hơn 250 ngàn người tỵ nạn đă từng tạm trú một thời gian ở Galang trước khi lên đượng định cư, và cũng có gần 300 người đă vĩnh viễn ở lại trong những ngôi mộ ở nghĩa trang Galang. Đài tưởng niệm thuyền nhân ở Galang được khánh thành vào ngày 24.03.2005 cũng đă bị đục bỏ vào cuối tháng 5, 2005!

 

Sau đây là một vài chi tiết về đài tưởng niệm chỉ tồn tại vỏn vẹn 2 tháng ở Galang: Xây bằng bê-tông cốt sắt cao 2 mét, rộng 1 mét, dày 15 phân, dựng trên một bệ tam cấp bằng bê-tông cốt sắt vuông mỗi cạnh khoảng 2 mét. Hai mặt đài là hai tấm đá hoa cương lớn, cao 1 mét, rộng 70 phân, dày 3 phân, một tấm màu đen, một tấm màu trắng.

 

Tấm màu trắng là Bia Tri ân có nội dung như sau: “In appreciation of the efforts of UNHCR, the Red Cross and Indonesian Red Crescent Society and other world relief organizations, the Indonesian Government and people as well as all countries of first asylum and resettlement. We also express our gratitude to the thousands of individuals who worked hard in helping the Vietnamese refugees. OVERSEAS VIETNAMESE COMMUNITIES, 2005.” (Tri ân những nỗ lực của Cao Uỷ Tỵ nạn Liên hiệp quốc, của Hội Hồng thập tự và Hội Hồng Nguyệt Nam dương cùng các tổ chức cứu trợ quốc tế khác, Chính phủ và nhân dân Nam dương cũng như các quốc gia tạm dung và các quốc gia định cư. Chúng tôi cũng tri ân hàng ngàn người đă làm việc tận lực để giúp đỡ người tỵ nạn Việt nam. CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI 2005).

 

Tấm màu đen là Bia Tưởng niệm có nội dung như sau: “In commemoration of the hundreds of thousands of Vietnamese people who perished on the way to Freedom (1975-1996). Though they died of hunger or thirst, of being raped, of exhaustion or of any other cause, we pray that they may now enjoy lasting peace. Their sacrifice will never be forgotten. OVERSEAS VIETNAMESE COMMUNITIES, 2005.” (Tưởng niệm hàng trăm ngàn người Việt đă bỏ ḿnh trên con đường đi t́m Tự do (1975-1996). Dù họ chết v́ đói khát, v́ bị hăm hiếp, v́ kiệt sức hay v́ bất cứ lư do nào khác, chúng ta thảy đều cầu nguyện để họ được yên nghỉ dài lâu. Sự hy sinh của họ sẽ không bao giờ bị lăng quên. CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI 2005).

 

Trại tỵ nạn Galang không c̣n nữa, nhưng cũng như hàng ngàn người đă từng “đi qua” Galang, tôi sẽ không bao giờ quên được những tháng ngày sống ở trại tỵ nạn Galang, ngưỡng cửa của Tự Do và T́nh Người muôn năm.

 

Nguyễn Duy-An