Nhớ Về Trại
Tỵ Nạn Galang
Nguyễn Duy-An
Cuối tháng 7,
2008 tôi nhận được Email của
ông Trần Đông, giám đốc Văn
Khố Thuyền Nhân Việt Nam từ
Úc gởi qua mời tham dự
Chuyến Đi Về Bến Tự Do V
(Back to the Shore of
Freedom) để thăm lại 2 trại
tỵ nạn Bidong (Malaysia) và
Galang (Indonesia) từ ngày 9
đến 17 tháng 9, 2008.
“Văn Khố
Thuyền Nhân Việt Nam
(Archive of Vietnamese Boat
People) là một tổ chức thiện
nguyện. Mục tiêu tối hậu của
VKTNVN là sưu tập tài liệu
và di vật thuyền nhân Việt
nam để đưa vào hệ thống Văn
khố hay Bảo tàng viện quốc
gia hay quốc tế. Các thế hệ
mai sau sẽ t́m hiểu về nguồn
gốc di dân của ḿnh. Những
tài liệu này sẽ là nguồn dữ
kiện vô giá để các cháu
nghiên cứu và t́m hiểu. Công
tác Văn Khố do vậy là công
tác thuần tuư lịch sử, văn
hóa và xă hội…”
Một câu nói
được đăng trên trang web
http://www.vnbp.org
đă thúc đẩy tôi t́m về với
kỷ niệm từ 25 năm trước ở
trại tỵ nạn Galang,
Indonesia:
“Nếu
không được thu thập có hệ
thống và khoa học, chỉ 10
năm hay 20 năm nữa, khi
những thế hệ thứ nhất của
người Việt ở các trại tỵ nạn
không c̣n, khi những người
làm việc ở các trại tỵ nạn
cũng không c̣n, khi ấy những
dữ kiện về Thuyền Nhân Việt
Nam cũng sẽ theo năm tháng
chôn vùi!”
Tôi xin trích
đoạn một vài trang “Nhật Kư
Đời Tỵ Nạn” để tưởng nhớ
quăng thời gian tôi đă “tạm
trú” ở trại tỵ nạn Galang,
Indonesia.
Ngày… Tháng
6, 1983:
Tôi đến
Galang vào một buổi chiều
trời mưa như thác đổ. Cùng
với hơn 300 người được
chuyển tới từ đảo Kuku trên
chiếc tầu Tegu Mulia, tôi
chạy vội vào “trung tâm tiếp
cư” của Cao Uỷ là một căn
nhà trống ở bến tàu Galang
để làm thủ tục nhập trại. Có
tiếng ai đó vọng đến từ loa
phóng thanh: “Đây Galang,
ngưỡng cửa của Tự Do và T́nh
Người xin chào đón các bạn.”
Tim tôi rộn ră một niềm vui
không bút mực nào diễn tả
được. Tôi đă đặt chân tới
bến bờ Tự Do sau gần một
tuần lênh đênh trên biển cả
và hơn một tháng đợi chờ ở
Singkawang, rồi Kalimatan
Barat trước khi được chuyển
tới đảo Kuku…
Tôi thấy ḷng ḿnh se lại!
Tôi muốn bắt chước một vị
yếu nhân nào đó quỳ mọp
xuống để hôn lên mảnh đất
của Tự Do và T́nh Người
nhưng tôi không đủ can đảm
làm việc đó v́ tôi chỉ là
một tên “vô danh tiểu tốt”
vừa mới thoát khỏi Việt Nam
trên một chiếc thuyền tre
nhỏ bé... Tôi bần thần xúc
động. Tôi muốn khóc cho niềm
vui Tự Do nhưng mắt tôi vẫn
trơ trơ ráo hoảnh. C̣n đâu
nữa những giọt nước mắt
thương đau để trào ra sau
hơn 8 năm sống kiếp đọa đày
với bao nhiều lần vượt biên
thất bại, bị bắt và “cải tạo”
ở B5 (Biên Ḥa), Bầu Lâm (Xuyên
Mộc), rồi Cây Gừa (Cà Mau)…
và những tháng ngày sống lây
lất ở vùng “khỉ ho c̣ gáy”
B́nh Giả – Xuân Sơn, ngày
hai bữa khoai ḿ không đủ
no! Tôi đă tới được bến bờ
Tự Do. Tôi đă chứng kiến bao
nhiêu cảnh thương tâm của
đồng bao tôi đang gánh chịu
trong ḷng đất mẹ Việt Nam –
Quê hương yêu dấu của chúng
ta. Mẹ Việt Nam ơi, con xin
phép được quên đi những ngày
tháng lang thang “đầu đường
xó chợ” để bắt đầu lại một
cuộc đời mới . Con muốn được
cùng với hơn một triệu người
dân Việt đang sống tha hương
nơi đất khách quê người nối
kết lại một ṿng tay chờ
ngày trở về xây dựng lại quê
Mẹ dấu yêu. “Mẹ
Việt Nam ơi, xin Mẹ đừng
khóc nữa v́ chúng con vẫn
c̣n đây, những đứa con mang
ḍng máu đỏ da vàng…”
Tôi được
chuyển tới Barrack 1, Zone
1, trại tỵ nạn Galang I. Tôi
nằm thao thức măi tới gần
sáng v́ những người đến
trước đă kể cho tôi nghe
nhiều chuyện “Galang nửa
mảnh t́nh xù” với những đổ
vỡ thương tâm, chuyện ăn
chơi trác tác, chuyện tranh
giành quyền lợi, vu khống,
trả thù và thanh toán lẫn
nhau của nhiều phe nhóm
trong trại. Ôi! Trớ trêu
thay cho cuộc đời! V́ không
thể chịu đựng được cuộc sống
mất tự do ở quê nhà nên tôi
đă liều mạng ra đi bất chấp
sóng gió đại dương. Tôi ra
đi để làm ǵ? Một dấu hỏi
thật lớn đă xuất hiện trong
đầu làm tôi không ngủ được.
Tôi sẽ lao ḿnh vào cuộc
sống hưởng thụ tạm thời ở
đây chăng? Có thể lắm. Tôi
đă trải qua biết bao nhiêu
gian khó để vượt thoát đến
đây, tôi có quyền t́m kiếm
một chút ǵ đó để tự đền bù
cho chính tôi. Tôi chỉ muốn
buông xuôi theo ḍng đời,
phó mặc cho thời gian, người
ta sao ḿnh vậy. Không được.
Lương tâm tôi tự nhắc nhở.
Tôi đă bất chấp rủi ro, tù
tội, và cả cái chết, để cùng
bạn bè xuống thuyền vượt
biển t́m Tự Do. Tôi đă thành
công. Tôi phải vươn lên. Tôi
phải sống làm sao để không
hổ thẹn với ḷng ḿnh khi
nghĩ tới những người c̣n ở
lại: Cha mẹ, anh chị em, bạn
bè và cả dân tộc Việt Nam
đang từng ngày rên rỉ kéo lê
tấm thân tàn trong tuyệt
vọng v́ “cơm không đủ ăn, áo
không đủ mặc” nhưng vẫn khắc
khoải trông mong và đợi chờ
một “ngày mai trời lại sáng.”
Tôi không thể buông xuôi.
Tôi không thể sống trong
tuyệt vọng. Tôi phải can đảm
đứng lên làm lại từ đầu.
Ngày… Tháng
7, 1983:
Tôi nhận lời
cha Đỗ Minh Trí (Gildo
Dominici)
dọn vào trung tâm
“Unaccompanied Minors” để
“cùng ăn cùng ở” với gần 200
trẻ em không thân nhân như
một người anh cả của đám trẻ
ngang bướng và ngỗ nghịch
nhất ở trại tỵ nạn Galang.
Tại đây, tôi đă gặp một vài
em chỉ mới 6, 7 tuổi rất tội
nghiệp v́ cha mẹ của các em
bị “rớt” lại lúc di chuyển
từ “taxi” ra thuyền lớn...
Tôi đă trằn trọc suốt đêm
sau khi nghe một em bé mồ
côi kể lại chuyến hải hành
đầy máu và nước mắt, và
chính em đă tận mắt chứng
kiến cảnh cha mẹ bị hải tặc
dùng búa tạ đập vỡ sọ trước
khi vất xác xuống biển!
Theo chỉ thị
của Cao Uỷ, trung tâm chỉ
nhận những trẻ em không thân
nhân dưới 16 tuổi; tuy nhiên,
cũng có rất nhiều em đă lớn
nhưng khai rút tuổi nên “ban
lănh đạo” c̣n phải đứng ra
dàn xếp nhiều chuyện “gỡ rối
tơ ḷng” của tuổi đôi mươi
mặc dầu đa số chúng tôi cũng
chỉ lớn hơn các em vài tuổi.
Trung tâm được các huynh
trưởng của đoàn Thanh Niên
Công Giáo, Tin Lành, Gia
Đ́nh Phật Tử và Hướng Đạo
Việt Nam tận t́nh giúp đỡ
nên chỉ trong một thời gian
ngắn, tất cả các em đều được
“đoàn ngũ hóa” và sắp xếp
theo học các lớp tại trung
tâm Giáo Dục Phổ Thông.
Ngày… Tháng
9, 1983:
Sáng nay tôi
buồn kinh khủng! Tôi chỉ
muốn “nằm mộng nghe kèn” suy
nghĩ vẩn vơ, nhưng rồi tôi
cũng vượt thắng được tính
ươn lười, chỗi dậy đánh răng
rửa mặt rồi lững thững lê
gót lên trung tâm Sinh Ngữ
để vào lớp dạy. Tôi không
muốn làm mất niềm tin của
hơn 30 học tṛ trong lớp Anh
Văn tôi đang phụ trách. Tôi
đă tự hứa sẽ cố gắng hết sức
để hướng dẫn các bạn tôi
trau dồi thêm tiếng Anh
chuẩn bị cho bước đường định
cư. Tôi được may mắn học
hành tạm đầy đủ lúc c̣n ở
quê nhà, bây giờ tôi phải
đem hết khả năng ra phục vụ
đồng bào đang chờ đợi ở trại
Galang này. Tôi và “học tṛ
của tôi”, chúng tôi đă gặp
gỡ, chia sẻ tâm sự thật
nhiều từ ngày đầu tiên tôi
đến nhận lớp. Tôi phải “hiên
ngang” lên lớp mặc dầu tôi
đang “rầu thối ruột!”
Chiều hôm
qua, trên quăng đường từ băi
biển trở về với các em
“minors” tôi đă t́nh cờ gặp
lại một người lớp đàn anh
học cùng trường từ trước năm
1975. Tôi không thể nào
tưởng tượng được là anh ta
vẫn c̣n ở Galang. Anh ấy đă
rời Việt Nam từ cuối năm
1980. Tại sao? Tại sao lại
có những người phải ở trại
tỵ nạn một thời gian dài đến
thế? Tôi đă thấm thía cảm
nhận được thân phận của một
người tỵ nạn không có thân
nhân qua lời tâm sự của anh:
Cậu không
thể ngờ được là ḿnh vẫn c̣n
ở đây phải không? Ḿnh bỏ
nước ra đi với bao nhiêu
hoài băo phải không Duy?
Nhưng bây giờ, sau gần 3 năm
đợi chờ, ḿnh đă chán nản và
tuyệt vọng lắm rồi. Cậu nghĩ
xem, ḿnh chưa xong Đại Học
th́ “nước mất nhà tan”, lang
thang măi hơn 5 năm sau mới
t́m được đường ra đi. Ḿnh
không c̣n là “minor” nhưng
cũng chưa đủ lớn để đi lính
hay làm việc cho chính quyền
trước năm 1975 nên không có
tiêu chuẩn ưu tiên đi Mỹ.
Tới đảo được 3 tháng ḿnh bị
phái đoàn Úc “đá đèn” v́ lúc
ấy có quá nhiều người xin đi
Úc, nhân viên phái đoàn cứ
rút đại một số đơn trong xấp
hồ sơ, ai hên được gọi phỏng
vấn, ḿnh không may nên lọt
sổ. Sau đó ḿnh được Canada
nhận nhưng 6 tháng sau bị từ
chối v́ sức khỏe của ḿnh
“mèng” quá! Cậu nghĩ xem, từ
lúc đi “nông trường” sau năm
1975, ḿnh hút hết thuốc lào
rồi thuốc rê để chống muỗi,
sang đây cứ 5 ngày một bịch
P3V, thân nhân không có,
ḿnh lấy đâu ra tiền để tẩm
bổ mà sức khỏe chẳng “mèng”,
phổi nào mà chẳng có vấn đề,
phải không? Ḿnh nản quá,
không c̣n tin tưởng ǵ ở
tương lai… Ḿnh cóc thèm học
hành hay làm thiện nguyện
việc ǵ cho mệt xác, cứ ngày
hai bữa Cao Uỷ nuôi!
Đêm qua tôi
lại mất ngủ! Tôi không tài
nào hiểu được tại sao người
đàn anh đáng kính cùng
trường với tôi bây giờ lại
bạc nhược đến thế. Tại sao?
Tại sao một người có tŕnh
độ đại học như anh mà không
được phái đoàn nào nhận? Tại
sao một người có học thức
như anh mà bây giờ lại chấp
nhận một cuộc sống tẻ nhạt
và chán chường đến thế?
Người tỵ nạn chúng tôi chẳng
có một lựa chọn nào hết.
Chấp nhận bỏ nước ra đi là
chấp nhận tất cả… Biết đâu
rồi cá nhân tôi cũng dần dần
bại xuội như thế! Hoàn cảnh
bây giờ đă khác xưa nhiều
lắm. Nhân dân và chính phủ
các nước đồng minh đă không
c̣n đủ kiên nhẫn để cưu mang
măi một ḍng người từ Việt
Nam bỏ nước ra đi kéo dài
đến bất tận. Người ta đang
nh́n chúng tôi, những người
tỵ nạn, như là một gánh nặng
cần phải vứt bỏ càng sớm
càng tốt. Đă có nhiều nơi
người ta xua đuổi không cho
thuyền của người tỵ nạn vào
bờ!
Xin cám ơn
Thượng Đế, Cao Uỷ tỵ nạn,
chính quyền và nhân dân
Indonesia… c̣n để lại cho
chúng tôi một cái phao.
Galang là một trong những
trạm dừng chân cuối cùng c̣n
mở cửa tiếp nhận thuyền nhân
Việt Nam. Đă có không biết
bao nhiêu ngàn người đă dừng
chân nơi đây trong những năm
vừa qua, và cũng đă có nhiều
người chọn nơi này làm quê
hương vĩnh viễn trong một
nghĩa trang hiu quạnh bên
con đường nhỏ nối liền hai
trại tỵ nạn ở Galang. Tôi cứ
miên man suy nghĩ suốt đêm
dài để buồn thương thật
nhiều cho thân phận của
người tỵ nạn. Sáng nay tôi
đến lớp như một cái xác
không hồn. Tôi cứ bị ray rứt
măi khi được biết c̣n quá
nhiều người đang sống trong
tuyệt vọng ở nơi đây!
Một khi niềm
tin và hy vọng đă chết, con
người sẽ sống như tôi con
vật. Tôi lo lắng rồi mai đây
chính tôi cũng sẽ lâm vào
t́nh trạng như thế. Tôi cứ
thắc mắc măi với hai tiếng
tại sao. Tôi đă quyết định
phải tự kiềm chế bản thân
trước mọi gian khó để không
bao giờ tuyệt vọng. Tôi phải
luôn luôn tỉnh thức để không
bao giờ buông xuôi theo hoàn
cảnh đẩy đưa, cho dẫu tôi có
khổ cực tới mức nào ở trại
tỵ nạn cũng chẳng thấm vào
đâu nếu đem so sánh với
những người c̣n kẹt ở lại
quê nhà. Ở đây tôi không có
thân nhân “viện trợ” nên
phải ăn uống cực khổ ư? Tôi
có bao giờ nghĩ tới bao
nhiêu người đang phải vật
lộn với cuộc sống đói khổ
rau cháo qua ngày trên quê
hương yêu dấu Việt Nam hay
không? Tôi bị các phái đoàn
từ chối và phải ở đây làm
“chúa đảo” ư? Tôi phải b́nh
tĩnh suy nghĩ lại. Tôi không
thể quên rằng lúc này vẫn
c̣n hàng ngàn bạn bè đang
vật vă trong trại cải tạo
hay trên những nông trường
lao động không công… Ai khổ
hơn ai? Tôi đă vượt thoát
tới được “ngưỡng cửa của Tự
Do và T́nh Người” trong khi
hàng ngàn người khác đă ra
đi nhưng chẳng bao giờ tới
bến. Bây giờ tôi không làm
được ǵ cho quê hương, dân
tộc Việt Nam ở bên kia bờ
biển Thái B́nh Dương, nhưng
tôi có cả một cộng đồng
trước mặt đang cần đến bàn
tay phục vụ của những người
như cá nhân tôi. Tôi phải
sống xứng đáng là “con rồng
cháu tiên!” Tôi tự hứa sẽ cố
gắng hết ḿnh để vươn lên.
Gian khó hôm nay chuẩn bị
cho vinh quang ngày mai.
Ngày… Tháng
11, 1983:
Bao nhiêu
mộng đẹp và ước vọng về
tương lai của tôi đă hoàn
toàn sụp đổ sau 5 tháng ở
Galang, sau khi biết tin
ḿnh không được xếp vào bất
cứ một “diện ưu tiên” nào để
đi Mỹ… Tôi chỉ c̣n biết nằm
chờ một dịp may rất nhỏ khi
phái đoàn Mỹ mở hồ sơ “hốt
rác” mỗi năm một lần! Chán
nản. Buông xuôi. Tôi ngồi lỳ
trong quán cà phê suốt buổi
sáng, bỏ mặc học tṛ đến lớp
chờ đợi rồi lang thang “bát
phố” v́ không có người hướng
dẫn. Tôi bực ḿnh. Tôi thất
vọng. Tại sao phái đoàn Mỹ
không chịu mở hồ sơ phỏng
vấn tôi? Tôi làm thông dịch
viên cho Cao Uỷ. Tôi trông
coi các trẻ em không thân
nhân trên đảo, trong đó cũng
có nhiều em “lai Mỹ”. Tôi
dạy tiếng Việt cho nhân viên
các phái đoàn… Tôi đă lăn
lộn tối ngày sáng đêm với
bao nhiêu công tác thiện
nguyện nhưng có được nâng đỡ
ǵ đâu! Tôi bỏ bê mọi sự.
Tôi chỉ muốn lè phè cho qua
ngày.
Chiều nay tôi
nhận được lá thư đầu tiên
của Mẹ từ Việt Nam gởi qua.
Tôi thật sự xúc động khi đọc
lại những ḍng chữ thân
thương của mẹ. Mẹ tôi như đă
biết trước tâm trạng của tôi
lúc này nên viết cho tôi
những lời khuyên xác thực.
Lá thư của mẹ đến thật đúng
lúc. Tôi đă t́m lại được
nghị lực. Tôi phải chỗi dậy
bắt đầu lại. Tôi không có
quyền lè phè trong khi ở quê
nhà c̣n bao nhiêu người thân
yêu đang sống trong tức tưởi,
ṃn mỏi đợi chờ và hy vọng
những người đă ra đi như tôi
sẽ làm được một chút ǵ đó
cho quê hương, dân tộc. Tôi
đă ngă quỵ nhưng tôi phải
thu hết can đảm đứng lên
đương đầu với thực tế để
vươn lên và vươn lên măi.
Tôi phải tiếp tục đi theo
con đường phục vụ thay v́
phè phỡn ăn chơi cho qua
ngày tháng ở trại tỵ nạn.
Tôi phải t́m lại niềm vui
cho chính ḿnh để tiếp tục
sống những ngày đáng sống ở
Galang trong niềm vui phục
vụ… Rồi sóng gió cũng sẽ qua
nhanh.
Ngày… Tháng
3, 1984:
Tôi đang
chuẩn bị di chuyển vào
Galang II để theo học khóa
C.O. 26 (Cultural
Orientation).
Tôi đă được phái đoàn Mỹ
nhận mấy ngày trước tết Âm
Lịch. Mùa xuân thứ nhất xa
quê hương, tôi đă buồn thật
nhiều v́ nhớ nhà, nhưng nỗi
buồn đă qua mau nhờ h́nh
bóng một người con gái. Tôi
gặp nàng trong một bữa tiệc
tất niên. Tôi làm quen, và…
Cô bé ấy có
đôi mắt bồ câu thật đẹp và
mái tóc thề xơa ngang vai
mang dáng dấp một thiên thần.
Lúc tôi đến làm quen, nàng
đă mỉm cười thật tươi với
đôi má lúm đồng tiền nho nhỏ.
Nói tóm lại là tôi đă t́m
được “chiếc xương sườn cụt”
lạc mất từ lúc chào đời. Tôi
quyết định sẽ xin nghỉ tất
cả công tác thiện nguyện với
lư do sắp sửa phải vào khóa
học chuẩn bị lên đường định
cư; nhưng thực ra là tôi
muốn có nhiều giờ rảnh rỗi
để đến với nàng. Cô bé đă
ngỏ ư nhờ tôi dạy thêm tiếng
Anh. Thôi, từ nay ḿnh đă có
người lo cơm nước, đỡ phải
lang thang và cũng không
phải bận tâm lo lắng cho đám
trẻ nghịch ngợm ở trung tâm
“Unaccompanied Minors” nữa.
Tôi đă làm việc phục vụ gần
một năm trời ở trại, và bây
giờ tôi có quyền nghỉ ngơi.
Nhưng rồi một
người bạn, nói đúng ra là
một người đàn anh, đă đến
t́m tôi và vạch ra một công
tác mới để tôi có thể tiếp
tục phục vụ đồng bào trong
thời gian theo học khóa C.O.
26 ở Galang II. Tôi đă phải
miễn cưỡng nghe theo v́ sợ
bị chê trách là “chí lớn
không đong đầy đôi mắt giai
nhân!” Đă hơn một lần tôi
buồn v́ công việc quá bận
rộn nên tôi không có được
những giây phút thần tiên
bên nàng. Tinh thần trách
nhiệm đă khiến tôi phải xa
nàng, và nàng cũng đă xa tôi
để t́m vui bên một người
thanh niên lúc nào cũng kề
cận sẵn sàng an ủi và giúp
đỡ nàng. Tôi thất t́nh! Tôi
đă buồn khổ một ḿnh biết
bao nhiêu đêm nhưng không
dám bỏ bê công việc. Măi rồi
tôi cũng t́m lại được niềm
vui trong phục vụ. Tôi quyết
định sẽ dùng đôi tay và khối
óc làm việc phục vụ cho tới
ngày rời đảo.
Ngày… Tháng
7, 1984:
Cầm tờ giấy
nợ (promissory
notes)
ra khỏi văn pḥng Cao Uỷ tôi
chợt thấy ḷng ḿnh chùng
xuống, buồn man mác. Trời
vẫn c̣n mưa. Mưa Galang dai
dẳng buồn không chịu được.
Tôi đă chạy như bay, bất
chấp trời đang mưa nặng hạt
khi nghe loa gọi lên văn
pḥng Cao Uỷ kư giấy nợ.
Niềm vui chợt đến v́ ḿnh có
tên đi định cư vào ngày
28-07-1984. Nhưng bây giờ,
sau khi đă hoàn tất thủ tục
giấy tờ rời đảo, tôi mới
thấy thấm thía câu nói “ra
đi là chết ở trong ḷng một
nửa!” Tôi buồn v́ chẳng c̣n
bao lâu nữa tôi sẽ vĩnh viền
ra đi, măi măi rời xa Galang,
nơi được mệnh danh là
“ngưỡng cửa của Tự Do và
T́nh Người.” Tôi buồn v́ mấy
ngày nữa tôi phải giă từ tất
cả những kỷ niệm dấu yêu và
bạn bè thân thương ở trại tỵ
nạn để một ḿnh bước vào một
con đường mới hoàn toàn xa
lạ. Nơi tôi sẽ đến là một
tỉnh nhỏ ở phía Tây Bắc của
tiểu bang Pennsylvania… Tôi
nghe nói ở vùng đó việc t́m
gặp một người Việt Nam c̣n
khó hơn đi t́m vàng. Buồn!
Hơn một năm
trời ở Galang với bao nhiêu
kỷ niệm vui buồn, tôi xin
gởi lại tất cả cho đồng bào
tôi, những người c̣n ở lại.
Tôi xin khắc ghi vào tâm
khảm để không bao giờ quên
Galang và “t́nh người” nơi
đây: Những lúc miệt mài, vất
vả v́ công việc; những giờ
phút thoải mái trong một
quán nước bên đường; những
ngày đứng giảng bài trong
lớp học oi bức; những bữa
cơm đạm bạc từ khẩu phần
P3V; những giờ phút chán nản
và tuyệt vọng; những kỷ niệm
và h́nh bóng thân thương của
bạn bè c̣n ở lại nơi đây…
Một lần nữa, tôi xin được
vẫy tay từ giă Galang,
ngưỡng cửa của Tự Do và T́nh
Người để lên đường định cư.
* * *
Đă 25 năm qua
rồi kể từ khi tôi đặt chân
đến Galang… Trại tỵ nạn
Galang đă bị đóng cửa hoàn
toàn vào năm 1996, khi Cao
Uỷ kết thúc chương tŕnh trợ
giúp thuyền nhân Việt Nam và
giao trả trại lại cho chính
quyền Indonesia. Đă có hơn
250 ngàn người tỵ nạn đă
từng tạm trú một thời gian ở
Galang trước khi lên đượng
định cư, và cũng có gần 300
người đă vĩnh viễn ở lại
trong những ngôi mộ ở nghĩa
trang Galang. Đài tưởng niệm
thuyền nhân ở Galang được
khánh thành vào ngày
24.03.2005 cũng đă bị đục bỏ
vào cuối tháng 5, 2005!
Sau đây là
một vài chi tiết về đài
tưởng niệm chỉ tồn tại vỏn
vẹn 2 tháng ở Galang: Xây
bằng bê-tông cốt sắt cao 2
mét, rộng 1 mét, dày 15 phân,
dựng trên một bệ tam cấp
bằng bê-tông cốt sắt vuông
mỗi cạnh khoảng 2 mét. Hai
mặt đài là hai tấm đá hoa
cương lớn, cao 1 mét, rộng
70 phân, dày 3 phân, một tấm
màu đen, một tấm màu trắng.
Tấm màu trắng
là Bia Tri ân có nội dung
như sau: “In appreciation of
the efforts of UNHCR, the
Red Cross and Indonesian Red
Crescent Society and other
world relief organizations,
the Indonesian Government
and people as well as all
countries of first asylum
and resettlement. We also
express our gratitude to the
thousands of individuals who
worked hard in helping the
Vietnamese refugees.
OVERSEAS VIETNAMESE
COMMUNITIES, 2005.”
(Tri ân những nỗ lực của Cao
Uỷ Tỵ nạn Liên hiệp quốc,
của Hội Hồng thập tự và Hội
Hồng Nguyệt Nam dương cùng
các tổ chức cứu trợ quốc tế
khác, Chính phủ và nhân dân
Nam dương cũng như các quốc
gia tạm dung và các quốc gia
định cư. Chúng tôi cũng tri
ân hàng ngàn người đă làm
việc tận lực để giúp đỡ
người tỵ nạn Việt nam. CỘNG
ĐỒNG NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI
2005).
Tấm màu đen
là Bia Tưởng niệm có nội
dung như sau: “In
commemoration of the
hundreds of thousands of
Vietnamese people who
perished on the way to
Freedom
(1975-1996).
Though they died of hunger
or thirst, of being raped,
of exhaustion or of any
other cause, we pray that
they may now enjoy lasting
peace. Their sacrifice will
never be forgotten. OVERSEAS
VIETNAMESE COMMUNITIES,
2005.” (Tưởng niệm
hàng trăm ngàn người Việt đă
bỏ ḿnh trên con đường đi
t́m Tự do
(1975-1996).
Dù họ chết v́ đói khát, v́
bị hăm hiếp, v́ kiệt sức hay
v́ bất cứ lư do nào khác,
chúng ta thảy đều cầu nguyện
để họ được yên nghỉ dài lâu.
Sự hy sinh của họ sẽ không
bao giờ bị lăng quên. CỘNG
ĐỒNG NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI
2005).
Trại tỵ nạn
Galang không c̣n nữa, nhưng
cũng như hàng ngàn người đă
từng “đi qua” Galang, tôi sẽ
không bao giờ quên được
những tháng ngày sống ở trại
tỵ nạn Galang, ngưỡng cửa
của Tự Do và T́nh Người muôn
năm.
Nguyễn Duy-An