Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa, Chuyện Kể Từ Đầu
NV Friday, February 16, 2007



Nghĩa Dũng Đài và bia mộ chiến sĩ vô danh số một. (H́nh: IRCC, Inc. cung cấp)



Một dăy mộ bia tại nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa. (H́nh: IRCC, Inc. cung cấp)



Nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa nh́n từ trên không. (H́nh: IRCC, Inc. cung cấp)



Bức tượng Thương Tiếc, h́nh chụp trước và sau 1975. (H́nh: IRCC, Inc. cung cấp)



Cổng Tam Quan, một trong những kiến trúc chính của nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa. (H́nh: IRCC, Inc. cung cấp)
 

LTS: Lần đầu tiên, chính quyền cộng sản Hà Nội có một thông cáo chính thức liên quan đến nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa. Thông báo phổ biến cuối năm 2006. Nghĩa trang này được Công Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà khởi công từ năm 1965, giành đất mai táng cho 30 ngàn tử sĩ. Sau các trận Mậu Thân 1968, đến Mùa Hè 1972, rồi các trận đánh giành dân lấn đất kỳ Hiệp Định Paris, nghĩa trang này đă chôn cất 16 ngàn tử sĩ. Khoảng 8,000 mộ phần đă có bia; một nửa kia chỉ mới đắp đất. Đó là tính đến ngày 30 Tháng Tư, 1975.

Cộng Sản vào Sài G̣n, tượng Tiếc Thương bị giật sập, một số mộ bị phá phách nhưng thật sự không có chiến dịch ủi quang hay phá sập toàn diện. Cho đến nay, các kiến trúc chính thức gồm Cổng Tam Quan, Đền Liệt Sĩ và Nghĩa Dũng Đài vẫn c̣n y nguyên. Từ xa lộ Biên Ḥa nh́n vào chỉ thấy cây cối um tùm và nhà dân che khuất nên nhiều người tưởng nghĩa trang không c̣n nữa.

Cơ quan IRCC, Inc., do cựu Đại Tá Vũ Văn Lộc làm giám đốc, với các nhân viên tự nguyện về thăm gia đ́nh tại Việt Nam đă đến thăm nghĩa trang hàng năm, tảo mộ và ghi lại h́nh ảnh. Sau đó, IRCC, Inc., nhờ các thương phế binh tổ đang sinh sống tại Việt Nam tảo mộ hàng năm. Hiện nay đă có nhiều ngôi mộ có thân nhân cải táng hay tu sửa. Số c̣n lại ước chừng từ 8 ngàn đến 10 ngàn ngôi mộ.

Trước thông tin chính thức do chính quyền Việt Nam công bố liên quan đến nghĩa trang Quân Đội, và trong những đồn đoán về số phận của nghĩa trang đang ǵn giữ 16,000 tử sĩ Việt Nam Cộng Hoa, ông Vũ Văn Lộc cùng một số thân hữu đă thực hiện một loạt bài viết có tên “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa, Chuyện Kể Từ Đầu.” Nay, Nhật Báo Người Việt, được sự cho phép của ông Vũ Văn Lộc và IRCC, Inc., xin trích đăng một phần lớn những thông tin này đến độc giả của ḿnh.

Ai sáng lập Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa?

Nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa là sáng kiến của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Khi dự án xây dựng nghĩa trang, do Cục Quân Nhu phối hợp Công Binh, được tŕnh lên Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Tiếp Vận. Dự án này được tiếp tục tŕnh lên Bộ Quốc Pḥng, thủ tướng, và rồi cuối cùng, được tŕnh lên, và được tổng thống đồng ư.

Dự án xây dựng nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa liên quan đến đất đai và nhiều lănh vực khác, nên cuối cùng, trở thành một đề tài liên bộ; từ Bộ Quốc Pḥng, qua Bộ Công Chánh, Bộ Nội Vụ và liên quan cả đến Bộ Giáo Dục và Y Tế.

Đến khoảng năm 1964, nghĩa trang Quân Đội ở G̣ Vấp trở nên chật hẹp, không gánh vác được sức nặng của chiến tranh. Trong khi ấy, chiến tranh gia tăng, phần lớn sĩ quan của khu vực thủ đô đều chôn ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, Sài G̣n. Nơi đây, đất cũng bắt đầu khan hiếm và tốn kém. Nhu cầu chôn cất tử sĩ, không phân biệt cấp bậc, tại một nghĩa trang rộng lớn hơn đă được nghĩ tới.

Đơn vị Chung Sự, chuyên lo hậu sự của những chiến sĩ đă nằm xuống, cũng có nhu cầu về cơ sở để hoạt động. Kiến nghị được tŕnh lên cấp trên, thông qua hệ thống Cục Quân Nhu, Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Tiếp Vận. Các sĩ quan Quân Nhu, Công Binh, Địa Ốc Tổng Tham Mưu bay trực thăng trên không phận Thủ Đức, B́nh Dương, Biên Ḥa, tay cầm bản đồ nghiên cứu địa thế thật đẹp dành làm nơi an nghỉ nh́n thu cho chiến hữu.

 

Quá tŕnh xây cất nghĩa trang Biên Ḥa

Sau nhiều lần sửa đổi, mô h́nh và khu đất được chọn xây nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa đă được Phủ Tổng Thống chấp thuận.

Khu đất rộng 125 mẫu Tây ở phía tay trái xa lộ Sài G̣n. Toàn thể khu nghĩa trang làm thành h́nh con ong vĩ đại nằm quay đầu ra xa lộ.

Giữa lưng con ong là Nghĩa Dũng Đài cao 43 thước. Đầu ong là đền thờ chiến sĩ, cũng có lúc gọi là Đền Tử Sĩ hay Đền Liệt Sĩ. Phía dưới chân đền là Cổng Tam Quan nối thẳng một đường dài ra xa lộ. Con đường này làm thành cây kim nhọn của con ong và đầu kim là bức tượng Thương Tiếc ngay cạnh xa lộ.

Từ chân Nghĩa Dũng Đài, lưng ong chia làm h́nh nan quạt hướng ra 4 phía và làm thành lưới nhện. Phần đuôi ong hẹp, phần dưới dài ra như quả trứng. Các ngôi mộ giống nhau chia thành từng khu. Khu quốc gia dành cho các vị lănh đạo, khu tướng lănh, khu cấp tá, cấp úy và binh sĩ.

Một ngày đầu Xuân 1965, Thiếu Tướng Đồng Văn Khuyên từ Bộ Tổng Tham Mưu gọi điện thoại cho Đại Tá Nguyễn Thiện Nghị, liên đoàn trưởng Liên Đoàn 30 Công Binh Kiến Tạo đóng tại Hóc Môn. Sau đó chiếc xe ủi đất đầu tiên của Tiểu Đoàn 54 Công Binh bắt đầu công tác.

Rồi doanh trại của Liên Đội Chung Sự và khu nhà xác được thiết dựng năm 1966 để nhận những di hài tử sĩ đầu tiên.

Nghĩa trang được xây dựng trong chiến tranh với sự phối hợp giữa Quân Nhu và Công Binh. Công Binh tiếp tục làm đường, phân lô, xây Cổng Tam Quan, xây Đền Liệt Sĩ, đúc các tấm ciment và làm mộ bia.

Quân Nhu nhận tử sĩ từ mặt trận chở về ngày đêm để chôn cất. Trận Mậu Thân, trận Mùa Hè, trận Hạ Lào, trận Cambodia. Tử sĩ của các đơn vị tổng trừ bị đem về từ 4 quân khu. Tử sĩ của quân khu thủ đô và các tiểu khu lân cận. Tử sĩ của các quân chủng, nữ quân nhân, thiếu sinh quân, tất cả đều nằm trong ḷng đất Biên Ḥa.

Tử sĩ chôn từ trung tâm Nghĩa Dũng Đài lần lượt ra các khu bên ngoài. Đă có trên 10 tướng lănh nằm tại nghĩa trang Biên Ḥa kể cả các vị đại tá vinh thăng sau khi tử trận. Người có cấp bậc cao cấp nhất là cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí. Hiện nay ngôi mộ này đă được gia đ́nh cải táng nhưng vị trí cũ vẫn c̣n di tích.

Nghĩa Dũng Đài và kiến trúc công tŕnh Nghĩa Trang

Nghĩa trang Quân Đội tại Biên Ḥa có nhiều công tŕnh xây cất đáng kể.

Trước hết là bức tượng Thương Tiếc, thể hiện h́nh ảnh người lính Việt Nam Cộng Ḥa ngồi nghỉ chân trên bệ đá, súng để ngang trên đùi, nét mặt buồn và rất Việt Nam. Câu chuyện về bức tượng này đă được kể lại nhiều lần. Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, tượng này bị chính quyền cộng sản giật sập. Phóng viên ngoại quốc có chụp được h́nh. Tin sau cùng cho biết bức tượng đă đưa vào kho tại quận Dĩ An và sau cùng có thể bị nấu ra lấy đồng và không c̣n vết tích.

Tác giả của pho tượng này là điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu, lấy h́nh người mẫu là một binh sĩ nhảy dù. Hiện nay ông Thu, nguyên là một sĩ quan Quân Nhu, theo đặc san của ngành này cho biết, đă trở về Việt Nam “để t́m cách thực hiện lại bức tượng Thương Tiếc.”

Ngoài bức tượng kể trên, trên đường vào nghĩa trang, đi theo con đường chánh xuyên tâm, lên dốc cao, phải qua Cổng Tam Quan, một công tŕnh xây cất giản dị nhưng bề thế và chân phương. Giữa cảnh hoang tàn rêu phong hiện nay, Cổng Tam Quan vẫn giữ được đường nét vững vàng và gần như c̣n nguyên vẹn.

Qua Cổng Tam Quan, con đường dẫn đến ngôi Đền Tử Sĩ trên một ngọn đồi nhỏ có 4 lối lên bốn phía. Đây là nơi để linh cữu các vị tướng lănh trước khi chôn cất. Đây cũng là nơi khi tổng thống, thủ tướng hay các giới chức cao cấp chủ tọa các buổi lễ chiêu hồn tử sĩ.

Tháng Ba, 1975, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm lên thăm viếng và làm lễ đặt ṿng hoa. Không ai biết rằng đây là lần sau cùng.

Cũng tại đây và tại Vành Khăn Tang của Nghĩa Dũng Đài là nơi các toán quân danh dự canh gác theo nghi lễ. Các quân nhân từ các quân binh chủng mặc sắc phục được điều động về theo đơn xin và có đủ điều kiện. Vóc dáng trẻ trung, khỏe mạnh, cao lớn, đoàn quân này được huấn luyện để canh gác và biểu diễn các thao tác nghi lễ như các đoàn quân danh dự tại nghĩa trang Arlington Hoa Kỳ.

Sau Đền Liệt Sĩ, phải đi một đoạn rất dài mới đến đỉnh một dải đất cao, chính giữa trung tâm là Nghĩa Dũng Đài. Đây là công tŕnh quan trọng nhất mà Công Binh Việt Nam đă thực hiện.

Cục Công Binh sau khi khởi công xây cất nghĩa trang, song song với việc bang đất, giúp Cục Quân Nhu chôn cất th́ bắt đầu nhận công tác từ Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Tiếp Vận để xây cất Nghĩa Dũng Đài vào Tháng Mười Một, 1967. Một kỳ thi được thực hiện phối hợp giữa Công Binh và trường đại học Kiến Trúc Sài G̣n. Có tất cả 54 đồ án dự tuyển. Ban chấm thi chọn đồ án gồm đại diện trường đại học Kiến Trúc, Tổng Cục Tiếp Vận, Chiến Tranh Chính Trị, Cục Quân Nhu, Cục Công Binh.

Trên nền đất phẳng, Công Binh cho đổ 10,000 thước khối đất làm thành một ngọn đồi nhân tạo. Đại đội xe “benne” phải làm việc gần hai tháng.

Trên ngọn đồi nhỏ này, Công Binh xây bệ tṛn, chính giữa là ngọn kiếm hướng mũi lên trời. Cây kiếm có thân bốn cánh h́nh chữ thập cao 43 thước. Chân của chữ thập đường kính 6 thước rưỡi và trên mũi nhọn là ba thước rưỡi, có bậc thang để leo lên đỉnh và đứng trên này sẽ nh́n thấy thành phố Sài G̣n.

Lịch sử nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa

Trước 1965, các tử sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa được chôn cất tại các nghĩa trang tiểu khu. Tại Sài G̣n-Gia Định chôn tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi hoặc nghĩa trang Quân Đội G̣ Vấp.

Từ 1965, nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa được thành lập, dự trù 30,000 mộ phần. Các trận Mậu Thân 1968, Mùa Hè 1972 đă chôn trên 10,000 tử sĩ. Tính đến 1975 đă có 16,000 tử sĩ chôn tại đây.

Tên gọi đầu tiên: nghĩa trang Quân Đội; về sau gọi là nghĩa trang Quốc Gia. Nơi đây chôn cất không riêng tướng lănh, sĩ quan và chiến binh mà dành làm nơi yên nghỉ cho các thành viên chính phủ hành pháp, lập pháp và tư pháp.

Trước 1970: Hoàn tất bang đất làm đường, tượng Thương Tiếc, Cổng Tam Quan, Đền Tử Sĩ.

Giai đoạn 1975, Nghĩa Dũng Đài với ngọn tháp cao đă làm xong, Vành Khăn Tang vĩ đại chung quanh gần đến giai đoạn cuối.

Tháng Mười Một, 1974: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thăm công tŕnh và tuyên bố rằng đây là công tŕnh ông để lại cho quân đội.

Dự trù hoàn tất để khánh thành đợt đầu vào ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu năm 1975. Điều này đă không thực hiện được.

Sau 30 Tháng Tư, 1975: Nghĩa trang bị phá hoại dưới nhiều h́nh thức nhưng nói chung vẫn c̣n tồn tại, trong hoang phế.

Bắt đầu từ năm 1980: thân nhân, đặc biệt những người chuẩn bị “vượt biên,” bắt đầu thăm và tảo mộ.

Thập niên 1990: các chiến binh cải tạo được tự do bắt đầu trở lại thăm viếng bạn đồng ngũ, và từ giă trước khi lên đường sang Hoa Kỳ theo diện “H.O.”

Việt kiều bắt đầu trở về thăm viếng các mộ phần. Nhiều gia đ́nh bốc mộ hoặc sửa sang lại phần mộ. Có tin đồn về việc chính quyền giải tỏa để làm khu kỹ nghệ do các công ty Đài Loan và Đại Hàn. Tuy nhiên các dự án này không thực hiện.

Cũng từ thập niên 1990, chính quyền cộng sản bắt đầu công tác xây cất nghĩa trang liệt sĩ tại các địa phương miền Nam, từ Trường Sơn đến Duyên Hải. Nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa vẫn trơ trọi.

Năm 1994, cơ quan IRCC, Inc. bắt đầu cho người về thăm lại nghĩa trang và ghi nhận phần lớn c̣n tồn tại nhưng rất hoang phế. Một trung tá công binh đă đi một ṿng đem về các báo cáo sơ khởi.

Chương tŕnh dự án tảo mộ hàng năm bắt đầu từ cuối năm 1997 với các điểm chính: Làm dưới h́nh thức thân hữu gia đ́nh từng toán nhỏ. Giúp phương tiện cho anh em thương phế binh Sài G̣n thực hiện. Khích lệ Việt kiều về thăm và sửa sang phần mộ thân nhân.

Phần mộ vô danh được làm cỏ, sơn quét lại, dựng mộ bia. Cổng Tam Quan và Đền Liệt Sĩ cũng đă được dọn dẹp. Tuy nhiên chỉ làm từng phần và làm nhiều lần.

Chương tŕnh tảo mộ đă hoàn tất qua các năm Mậu Dần (1998), Kỷ Măo (1999), Canh Th́n (2000), Tân Tỵ (2001), Nhâm Ngọ (2002) và tiếp tục cho đến năm 2006 vừa qua. Những năm sau này khó khăn hơn nhưng thật ra đối với người lạ ghé qua thường trở ngại.

Thân nhân tử sĩ c̣n ở lại Việt Nam đă bắt đầu trở lại thăm viếng và sửa sang phần mộ trong các dịp lễ tôn giáo, Thanh Minh, Tết... Việc này đă tạo thành một dịch vụ cho số dân địa phương.

 

Cây kiếm đúc bằng ciment cốt sắt từng tảng chồng lên nhau chịu được sức gió trên 120km/giờ. Phía dưới bệ đài xây ciment ṿng chung quanh thành một vành khăn được gọi tên rất xúc động là Vành Khăn Tang. Trên Vành Khăn này dự trù sẽ có các công tŕnh điêu khắc về các chiến công của Quân Đội Việt Nam qua các thời đại. Từ thời Hùng Vương lập quốc đến các vị anh hùng chống xâm lăng phương Bắc rồi đến các chiến công của Việt Nam Cộng Ḥa. Tất cả công tŕnh xây cất nghĩa trang Quân Đội gần như hoàn tất và riêng Nghĩa Dũng Đài th́ đă xong phần kiến trúc căn bản.

Cho đến ngày 30 Tháng Tư, 1975, những đơn vị kiến tạo của TĐ54 Công Binh vẫn c̣n hiện diện tại công trường. Một toán đặc phái công tác về sửa chữa Dinh Độc Lập vẫn c̣n thấy các vị cao cấp ra vào trước khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu rời Việt Nam.

Ngoài sự hy sinh đổ máu của Công Binh Chiến Đấu, thêm bao nhiêu công thự, cầu đường do Công Binh Kiến Tạo góp phần trên toàn thể miền Nam th́ công trường Dinh Độc Lập và công trường nghĩa trang Quân Đội là các di sản hănh diện của ngành Công Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Sau hơn 30 năm, cả hai công tŕnh này và đặc biệt là Nghĩa Dũng Đài vẫn tồn tại và hy vọng sẽ tồn tại vĩnh viễn. Nghĩa Dũng Đài suốt 30 năm qua đă được bảo vệ bởi 16 ngàn tử sĩ ở lại nghĩa trang Quân Đội.

Đứng trên khu vực dưới chân Nghĩa Dũng Đài nh́n xuống cả cánh đồng mộ chí bát ngát, vào thời điểm này, c̣n ít nhất là 8,000 tử sĩ nằm lại. Xa xa là Đền Tử Sĩ. Quanh cảnh càng tiêu điều, càng hoang vu.

Nghĩa trang Quân Đội thuộc Biên Ḥa hay B́nh Dương?

Trước năm 1975, toàn thể miền Nam có trên 50 nghĩa trang quân đội. Tiểu khu nào cũng có một khu mai táng tử sĩ Việt Nam Cộng Ḥa nhưng khi nói đến nghĩa trang quân đội, tất cả đều nghĩ đến nghĩa trang Biên Ḥa.

Có lúc, nghĩa trang được gọi tên đầy đủ là nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa. Nói chuyện với người Hoa Kỳ thường phải dịch là nghĩa trang của Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa tại Biên Ḥa mới thật rơ ràng. Bởi v́ không có “quân đội Biên Ḥa.”

Sau Tháng Tư, 1975, ai cũng tưởng là khu nghĩa trang này đă bị cày nát san bằng. Đi xe trên xa lộ Biên Ḥa, thấy bức tượng Thương Tiếc, thể hiện h́nh ảnh người lính ngồi nghỉ chân không c̣n nữa. Ai nấy đều nói rằng: “Thôi rồi, chúng nó phá hết rồi.” Từ ngoài nh́n vào, chỉ thấy cây cỏ um tùm, nhà dân xây cất che khuất cả một vùng phía bên này sông Đồng Nai. Những tử sĩ Việt Nam Cộng Ḥa nằm trong ḷng đất lạnh tưởng chừng bị quên lăng.

Ngay từ khi chiếm miền Nam, chính phủ Cộng Sản xếp khu nghĩa trang và doanh trại Liên Đội Chung Sự là khu vực quân sự thuộc Bộ Quốc Pḥng. Bộ Quốc Pḥng giao cho Quân Khu 7 quản trị, có một đơn vị đóng doanh trại cạnh nghĩa trang Biên Ḥa. Việc kiểm soát rất tùy tiện. Lúc dễ lúc khó. Tuy nhiên nói chung, thân nhân vẫn được vào t́m mộ thân nhân để chăm sóc. Một số đă bốc mộ đem về quê.

Ngày xưa trước khi thành lập Việt Nam Cộng Ḥa, phần đất bên này sông Đồng Nai gồm quận Dĩ An vốn thuộc về tỉnh B́nh Dương. Tổ chức Việt cộng nằm vùng cũng theo ranh giới đó hoạt động. Tỉnh ủy B́nh Dương chỉ huy du kích Dĩ An. Sau này quận Dĩ An được chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa sáp nhập vào tỉnh Biên Ḥa khu nghĩa trang lại nằm cạnh xa lộ Biên Ḥa nên mới có tên nghĩa trang Biên Ḥa.

Bây giờ chính phủ Cộng Sản cho lệnh giao khu nghĩa trang từ Bộ Quốc Pḥng cho bên chính quyền dân sự th́ vẫn theo ranh giới hành chánh cũ từ hồi nằm vùng. Tỉnh B́nh Dương nhận công tác quản trị nghĩa trang và sẽ dân sự hóa. Họ gọi là khu nghĩa trang B́nh An, thuộc quận Lái Thiêu, tỉnh Bỉnh Dương.

Ai đă bảo toàn nghĩa trang trong 30 năm qua?

Sau 30 Tháng Tư, 1975, miền Bắc chiếm đóng miền Nam. Ngành nào theo ngành đó, binh chủng nào theo binh chủng đó. Tự do chiếm giữ các tài sản công thự của chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa. Cái ǵ của Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa th́ quân đội nhân dân Việt Cộng vào chiếm. Bộ Y Tế Cộng Sản lănh các nhà thương và cơ sở y tế. Giáo dục theo giáo dục. Thành ủy chiếm ṭa thị chính. Phía quân đội cũng như thế. Duy có hai nơi không đơn vị và thủ trưởng nào vào nhận lănh, v́ vậy vẫn c̣n cho đến ngày nay. Đó là Dinh Độc Lập và nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa.

Trung Ương Đảng ở Hà Nội không muốn vào chiếm đóng Dinh Độc Lập. Cơ sở đứng đầu chính phủ cộng sản miền Nam cũng không cảm thấy đủ tư cách tranh lấy một dinh thự nổi tiếng ở Đông Nam Á. V́ vậy, Dinh Độc Lập bỏ trống trở thành di tích lịch sử. Nghĩa trang Biên Ḥa ở cùng một hoàn cảnh. Sau này chính quyền cộng sản đă t́m một khu đất gần xa lộ Biên Ḥa để xây dựng nghĩa trang liệt sĩ cho chiến binh miền Bắc.

Từ 1980, chính thân nhân của tử sĩ, trong t́nh cốt nhục “mở cuộc chiến mới.” Không cần lănh đạo, không cần chỉ huy, không cần lư luận, những người vợ đi t́m mộ chồng, người con đi t́m mộ cha, gia đ́nh đi t́m mộ của người thân yêu. Một lần không được th́ hai lần. Ngày qua ngày, con đường nghĩa trang xưa mở ra những lối ṃn. Xe ôm đi tảo mộ. Đi xe ngựa lên tảo mộ.

Từ Cà Mau, gia đ́nh vợ con Hạ Sĩ Dương Chu đă gồng gánh lên ngủ đường để cải táng đem di hài người lính Cộng Ḥa về chôn ở Đầm Dơi. Nơi đầm lầy mỗi lần lên Cà Mau phải đi tàu mất nửa ngày. Cứ như thế gần 8,000 gia đ́nh đă thăm viếng và cải táng người thân trong suốt 30 năm dài.

Họ không quên người đă chết, họ đến với nghĩa trang và họ đă làm cho nghĩa trang tồn tại.

Bây giờ vẫn c̣n gần 10,000 ngôi mộ. Có gia đ́nh thân nhân kiên quyết không bốc mộ, để người chiến sĩ ở lại chiến trường. Cũng có khi thân nhân chẳng c̣n ai. Bia mộ có tên mà trở thành vô danh. Cũng có gia đ́nh nghèo khổ không có phương tiện. Nhưng hàng ngày, hàng năm, vẫn c̣n những người trở lại thăm viếng. Họ ở cùng khắp trên đất nước và họ ở cùng khắp trên địa cầu. Rất kiên tŕ và âm thầm, qua t́nh cốt nhục gia đ́nh, những người c̣n lại không cầm vũ khí đă tiếp tục giữ măi pḥng tuyến cuối cùng trong ḷng địch.

Đó là câu trả lời, v́ đâu nghĩa trang Biên Ḥa vẫn c̣n tồn tại và ai là người đă bảo toàn.

Thăm viếng và tảo mộ nghĩa trang Biên Ḥa sau 1975

 

Nguyên văn thông cáo của chính phủ Việt Nam do Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng kư cuối năm 2006

Quyết Định

Về việc bàn giao đất khu vực nghĩa địa B́nh An, Huyện Dĩ An, Tỉnh B́nh Dương

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ Chức Chính Phủ ngày 25 Tháng Mười Hai năm 2001;

Căn cứ Luật Đất Đai ngày 26 Tháng Mười Một năm 2003;

Xét đề nghị của Bộ Quốc Pḥng, Bộ Ngoại Giao, Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hồ Chí Minh và Ủy Ban Nhân Dân tỉnh B́nh Dương,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1: Đồng ư chuyển mục đích sử dụng 58 hecta đất khu nghĩa địa B́nh An, huyện Dĩ An, tỉnh B́nh Dương do Quân Khu 7, Bộ Quốc Pḥng quản lư sang sử dụng vào mục đích dân sự để phát triển kinh tế-xă hội tỉnh B́nh Dương.

Điều 2: Giao chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh B́nh Dương:

Ra quyết định thu hồi đất (trong Tháng Mười Hai năm 2006) và thực hiện việc quản lư sử dụng diện tích đất nêu tại điều 1 quyết định này theo đúng quy định của pháp luật. Chỉ đạo việc quản lư khu nghĩa địa B́nh An b́nh thường như các nghĩa địa khác theo quy định của pháp luật.

Điều 3: Giao Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hồ Chí Minh chủ tŕ thống nhất với Bộ Quốc Pḥng về địa điểm, diện tích đất và quyết định giao đất cho các đơn vị quân đội đang đóng quân tại khu vực nghĩa địa B́nh An, huyện Dĩ An, tỉnh B́nh Dương (thuộc Quân Khu 7 Bộ Quốc Pḥng) để sử dụng xây dựng doanh trại và các công tŕnh quốc pḥng tại nơi đóng quân mới.

Điều 4: Bộ Quốc Pḥng (Quân Khu 7) thực hiện việc di chuyển các đơn vị quân đội đang đóng quân trên khu vực đất nghĩa địa B́nh An, huyện Dĩ An, tỉnh B́nh Dương đến nơi ở mới để bàn giao toàn bộ diện tích đất nêu tại điều 1 quyết định này cho tỉnh B́nh Dương và các hồ sơ kèm theo. Việc này hoàn tất trong Tháng Bảy năm 2007.

Điều 5: Bộ Quốc Pḥng, Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hồ Chí Minh và Ủy Ban Nhân Dân tỉnh B́nh Dương điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất thuộc thẩm quyền quản lư, tŕnh chính phủ phê duyệt.

Điều 6: Giao Bộ Tài Chính đề xuất việc hỗ trợ kinh phí để Bộ Quốc Pḥng thực hiện các nội dung nêu tại điều 3 và điều 4 quyết định này, tŕnh thủ tướng chính phủ xem xét, quyết định.

Điều 7: Yêu cầu các bộ liên quan, Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hồ Chí Minh và Ủy Ban Nhân Dân tỉnh B́nh Dương khẩn trương và phối hợp chặt chẽ để triển khai thực hiện nội dung của quyết định này. Báo cáo kết quả thực hiện lên thủ tướng chính phủ trước ngày 30 Tháng Bảy năm 2007.

Điều 8: Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày kư.

Bộ trưởng các bộ: Quốc Pḥng, Tài Chính, Tài Nguyên-Môi Trường, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hồ Chí Minh, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh B́nh Dương và thủ trưởng các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

Một sĩ quan vô danh đă lên thăm nghĩa trang ngay sau 30 Tháng Tư, 1975. Sau đó, ông c̣n trở lại sau 8 năm cải tạo. Ông cho biết năm 1975 có 8 vị tướng lănh; là các vị Trí, Hiếu, Ánh, Soạn, Đồng, Phước, và hai vị nữa. Đại Tá Phước, quân đoàn 4 chôn ở khu tướng lănh v́ được truy thăng. Gia đ́nh đă chuẩn bị bốc mộ năm 1980 nhưng cho biết ông về báo mộng yêu cầu nằm lại với anh em nên bây giờ gia đ́nh chỉ lên chăm sóc hàng năm.

Cũng theo vị sĩ quan này, trên con đường chính giữa, gần Nghĩa Dũng Đài có ngôi mộ đề là Vô Danh số 1. Bia đă bị lật nghiêng, khi thấy công an và lính Cộng Sản vắng mặt, các cựu chiến binh Cộng Ḥa đă t́m cách chôn trở lại vào vị trí cũ.

Đại Tá Lê Đ́nh Luân, gốc Thừa Thiên, nguyên chỉ huy trưởng đơn vị Quân Báo 101 Bộ Tổng Tham Mưu, 17 năm tù cải tạo khi ra tù đă luẩn quẩn nhiều ngày tại nghĩa trang Quân Đội. Ông Luân là người đă đem bản báo cáo đầy đủ về Nghĩa Trang Quân Đội đến San Jose vào năm 1998.

Đặc biệt, tất cả các thương phế binh Đặc Khu Sài G̣n-Gia Định đều nghe nói đến Thượng Sĩ Công Binh Nhảy Dù Trần Văn Tảo. Ông Tảo là trưởng toán công tác tảo mộ tại nghĩa trang Quân Đội, do IRCC, Inc. ủy nhiệm, suốt 10 năm từ 1994 đến 2004.

Những năm sau này, t́nh h́nh dễ dàng hơn, toán công tác của ông Tảo từ 15 đến 20 người thuê xe lên làm cỏ từng vùng. Những lúc khó khăn th́ đi từng nhóm lẻ tẻ. Ông thông thạo địa thế, quen biết với cư dân địa phương và các thành phần an ninh trật tự. Năm nào ông cũng tổ chức nhiều lần, quay phim, chụp h́nh đầy đủ. Hoạt động với tính các dân địa phương, tảo mộ gia đ́nh nên hoàn toàn thành công tốt đẹp.

nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa, có thể nói, là sáng kiến của chính những người đă vĩnh viễn nằm xuống. Trong suốt hơn 30 năm qua, chính 16,000 ngàn tử sĩ tại đây đă ǵn giữ nghĩa trang này; sau khi đă hy sinh cuộc sống để ǵn giữ tổ quốc.

Thi sĩ Thanh Nam đă viết vần thơ sau đây dâng tặng hương hồn tử sĩ Việt Nam Cộng Ḥa, sau 30 Tháng Tư, 1975.

... Ta như người lính thua trận

Nằm giữa sa trường nát gió mưa

Khép mắt cố quên đời chiến sĩ

Làm thân cây cỏ gục ven bờ

Chợt nghe từ đáy hồn thương tích

Vẳng tiếng kèn, truy điệu mộng xưa...

Bây giờ thi sĩ cũng đă trở thành cây cỏ gục ven bờ, v́ vậy phải ghi lại rằng chính người chiến sĩ đă chết là những người có sáng kiến thành lập nghĩa trang Quân Đội. Nơi yên nghỉ ngàn thu của chính tử sĩ.