Vụ Phạm Ngọc Thảo

Tú Gàn

(Saigon Nhỏ ngày 8.7.2005)

 

Trong thư đề ngày 30.4.2005 gởi ông Nguyễn Khoa Điềm, Trưởng Ban Tư Tưởng Văn Hoá Trung Ương của Đảng CSVN, ông Vơ Văn Kiệt, cựu Thủ Tướng CSVN, đă bàn về công tác của Ban Tư Tưởng Văn Hoá, trong đó có đoạn như sau:

“Về lực lượng thứ ba, các lực lượng đối lập trong chính quyền nguỵ, cần có sự nhận định thực tế đủ khách quan, không nên tuỳ tiện quy kết theo chủ quan, phiến diện v́ nó liên quan đến một chính sách lớn của Đảng (phải nói là thật sự thành công). Chẳng hạn, chỉ nêu lên một trường hợp Phạm Ngọc Thảo, người được đồng chí Lê Duẩn giao trách nhiệm với danh nghĩa là người công giáo đi kháng chiến chống Pháp trở ra “hợp tác với quốc gia” để bằng mọi cách xây dựng được lực lượng chính trị quốc gia (cũng là lực lượng thứ ba, nếu có một Chính phủ quá độ ở miền Nam).”

 

Với đoạn ngắn này, Vơ Văn Kiệt đă tiết lộ hai điểm chính:

1.- Đảng CSVN đă cho h́nh thành tại miền Nam “lực lượng thứ ba” như một “lực lượng đối lập” (cuội) để yểm trợ cho các chủ trương của Đảng. Đây là một chính sách lớn.

2.- Phạm Ngọc Thảo là một trong những cán bộ được chỉ định ở lại miền Nam sau Hiệp Định Genève để vận động h́nh thành “lực lượng thứ ba” đó.

 

Bí mật về Phạm Ngọc Thảo là một bí mật đă gây nhiều tranh luận tại miền Nam Việt Nam trước cũng như sau 30.4.1975. Sau khi chiếm miền Nam, CSVN công khai xác nhận Phạm Ngọc Thảo là một điệp viên của họ và truy phong làm “liệt sĩ cách mạng” với hàm Đại Tá Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Các hoạt động t́nh báo của Phạm Ngọc Thảo được Hữu Nam viết thành bộ truyện dài mang tên “Ván bài lật ngữa” và được đóng thành phim, trong đó Phạm Ngọc Thảo mang tên Nguyễn Thành Luân. Nội dung tập truyện và cuốn phim mô tả Phạm Ngọc Thảo là một điệp viên siêu hạng, đă đóng vai tṛ quan trọng dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, làm cố vấn về chính sách quốc gia cho các nhân vật sau đây: Dương Văn Hiếu, Trưởng Đoàn Công Tác Đặc Biệt (cơ quan phản gián); Trần Kim Tuyến, Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị và Xă Hội (cơ quan mật vụ); Ngô Đ́nh Nhu, Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống và cả Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm! Phạm Ngọc Thảo được hỏi ư kiến về mọi vấn đề quan trọng. Nay Vơ Văn Kiệt đưa ra ánh sáng thêm một bí mật mới là Lê Duẫn đă ủy nhiệm Phạm Ngọc Thảo ở lại miền Nam để thành lập “lực lượng thứ ba”. Sự thật như thế nào?

 

Trước khi tŕnh bày về vai tṛ thật sự của Phạm Ngọc Thảo, chúng tôi xin lược qua các “lực lượng thứ ba” đă được thành lập tại miền Nam Việt Nam để xem Phạm Ngọc Thảo có đóng vai tṛ ǵ trong các lực lượng đó hay không.

 

“LỰC LƯỢNG THỨ BA” TẠI MIỀN NAM

Chủ trương thành lập “lực lượng thứ ba” tại miền Nam của Đảng CSVN để khuynh đảo chính quyền miền Nam mà Vơ Văn Kiệt đă tiết lộ là chuyện có thể kiểm chứng được.

 

Hiệp Định Genève vừa được kư kết vào ngày 20.7.1954 th́ ngày 10.8.1954 một tổ chức mệnh danh là Phong Trào Bảo Vệ Ḥa B́nh được thành lập gồm các nhân vật chính sau đây: Lưu Văn Lang (chủ tịch danh dự), Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đ́nh Thảo, Thích Huệ Quang, Nguyễn Văn Vi, Nguyễn Văn Liên, Phan Huy Thông, Trần Kim Quan, Nguyễn Thị Lựu, Nguyễn Văn Dưỡng, Nguyễn Văn Đệ, Từ Bá Dược, Lê Quang Định, Nguyễn Thành Châu, v.v. Phong trào đă ra mắt tại Sài G̣n ngày 29.8.1954 và đưa ra một bản tuyên ngôn đ̣i ngưng bắn vĩnh viễn, phóng thích tất cả các tù nhân chính tri, thực hiện tự do dân chủ, cải thiện nhân sinh và tổ chức tổng tuyển cử càng sớm càng tối.

 

Ít hôm sau, Phong Trào Bảo Vệ Ḥa B́nh được thành lập tại Huế do Thượng Tọa Thích Trí Quang làm Chủ Tịch, gồm những nhân vật chính sau đây: Lê Khắc Quyến, Phạm Văn Huyến, Nguyễn Cao Thăng, Nguyễn Văn Đảng, Tôn Thất Dương Kỵ, v.v.

 

Nhận ra đây là một tổ chức phản chiến của Việt Cộng được thành lập để chống lại các phong trào chống Cộng đang được phát động tại miền Nam, chính phủ Ngô Đ́nh Diệm đă ra lệnh bắt tất cả các thành phần nồng cốt của Phong Trào gồm 26 người. Ngày 9.2.1955, tất cả 26 người này đă bị đưa ra Hải Pḥng và cho được tùy ư chọn hoặc ở lại miền Bắc hoặc trở lại miền Nam. Ngày 31.3.1954, có 5 người đă xin trở lại miền Nam. Riêng nhóm Thượng Tọa Thích Trí Quang ở Huế đă được ông Ngô Đ́nh Cẩn chiêu hồi. Sau đó, ông Cẩn kết nạp Thượng Tọa Thích Trí Quang vào Đảng Cần Lao để lănh đạo phong trào Phật Giáo miền Trung và giao cho các thành viên khác giữ các chức vụ quan trọng tại miền Trung.

 

Chúng tôi không thấy Phạm Ngọc Thảo dính líu đến “lực lượng thứ ba” nói trên. Điều này cũng dễ hiều: Lúc đó vai vế của Phạm Ngọc Thảo c̣n quá nhỏ, nên Phạm Ngọc Thảo không đủ tầm vóc để đứng ra thành lập một phong trào như thế. Trong suốt thời gian ông Diệm cầm quyền, không “lực lượng thứ ba” nào khác dám xuất đầu lộ diện.

 

Sau khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ, các “lực lượng thứ ba” đă được tái lập nhiều lần tại miền Nam, mang những tên khác nhau, và nấp dưới danh nghĩa phong trào Phật Giáo để hoạt động. Đầu năm 1965, các phong trào sau đây đă xuất hiện: Ủy Ban Vận Động Ḥa B́nh, Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết, Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng, Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc, Phong Trào Bảo Vệ Ḥa B́nh Hạnh Phúc Dân Tộc, Lực Lượng Học Sinh Chống Chiến Tranh..., Hai tổ chức hoạt động mạnh nhất là Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng của Thượng Tọa Thích Trí Quang và Phong Trào Bảo Vệ Ḥa B́nh Hạnh Phúc Dân Tộc của Thượng Tọa Thích Quảng Liên.

 

Cuối tháng 2 và đầu tháng 3 năm 1965, khoảng 40 thành phần ṇng cốt của các phong trào nói trên đă bị bắt. Ngày 19.3.1965, ba người bị chính phủ Phan Huy Quát trục xuất ra Bắc là Bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến, Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ và kư giả Cao Minh Chiếm. Sau khi chính phủ Nguyễn Cao Kỳ được thành lập, một số khác đă bị đưa ra Ṭa Án Quân Sự Mặt Trận xét xử ngày 2.8.1965, trong đó có 3 người bị phạt khổ sai hữu hạn, nhưng hai Thượng Tọa Thích Trí Quang và Thích Quảng Liên không hề bị truy tố!

 

Ngày 27.1.1973, khi hiệp định Paris vừa kư kết, Thượng Tọa Thích Thiện Minh đă ra thông bạch tuyên bố thành lập Lực Lượng Ḥa Giải Dân Tộc và giao cho Luật sư Vũ Văn Mẫu làm Chủ Tịch. Mục tiêu của tổ chức này là quy tụ các thành phần thân cộng để đưa vào Hội Đồng Quốc Gia Ḥa Giải Ḥa Hợp được dự liệu trong Hiệp Định Paris, giúp Cộng Sản nắm đa số trong Hội Đồng này. Nhưng Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chống lại việc thành lập Hội Đồng đó nên Lực Lượng quay lại tố cáo Việt Nam Cộng Ḥa hiếu chiến và lên tiếng đ̣i ḥa b́nh!

 

Năm 1964 Phạm Ngọc Thảo đang làm tùy viên văn hóa ở Mỹ. Đầu năm 1965 Phạm Ngọc Thảo lén về nước lo việc tổ chức đảo chánh rồi sau đó bị hạ sát nên không can dự vào các “lực lượng thứ ba” nói trên. Vậy Phạm Ngọc Thảo đă làm ǵ?

 

VÀI NÉT VỀ PHẠM NGỌC THẢO

Phạm Ngọc Thảo, có tên Pháp là Albert Thảo, sinh ngày 14.2.1922 tại Sài G̣n, nguyên quán Vĩnh Long, con một điền chủ có quốc tịch Pháp và thuộc một gia đ́nh Công Giáo thuần thành. Thảo là con thứ 8 trong gia đ́nh nên thường được gọi là “Chín Thảo”.

 

Lúc nhỏ Thảo học trường Chasseloup Laubat (có tài liệu nói học trường Tabert), đậu Tú Tài và đi học công chánh. Thảo chưa tốt nghiệp th́ xẩy ra Cách Mạng Tháng 8. Lúc đó anh ruột của Thảo là Gaston Phạm Ngọc Thuần ở Vĩnh Long đă đi theo Việt Minh ngay và được giữ những chức vụ khá quan trọng. Thảo đang ở Sài G̣n được tin Thuần theo kháng chiến, đă về Vĩnh Long theo anh. Trên đường về, Thảo bị dân quân của Việt Minh bắt hai lần và suưt bị giết. Chính Gaston Thuần đă giới thiệu Thảo gia nhập Tiểu Đoàn 404 thuộc Trung Đoàn Chủ Lực Tây Đô. Về sau, Thảo là Tiểu Đoàn Trưởng tiểu đoàn này.

 

Trong thới gian Phạm Ngọc Thảo làm Tiểu Đoàn Trưởng, nhóm Trần Văn Đôn, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim... cũng đă vào chiến khu tham gia kháng chiến. Tướng Nguyễn Khánh cho biết nhóm ông đă gặp Phạm Ngọc Thảo và được Phạm Ngọc Thảo hướng dẫn về chiến tranh du kích. Tuy nhiên, nhóm này không được Việt Minh trọng dụng. V́ thế, khi được tin Pháp trở lại Đông Dương, nhóm này đă trở ra hợp tác với Pháp và được Tướng Leclerc, Tư Lệnh Quân Đội Viễn Chính Pháp kết nạn.

 

Thấy Thảo có khả năng, Phạm Hùng đưa Thảo về làm Trưởng Pḥng Mật Vụ Nam Bộ dưới quyền điều khiển của Phạm Hùng và giao cho Thảo liên lạc với Lương Vũ để mua vũ khí.

 

Lương Vũ là một gián điệp của Trung Hoa Dân Quốc đă hợp tác với Nhật làm gián điệp nhị trùng. Lương Vũ đă cùng với Trung Sĩ Kempeitai Mochizuki, một điệp viên của Nhật, hoạt động tại miền Nam Việt Nam lúc đó.

 

Lúc ở trong chiến khu, Phạm Ngọc Thảo đă lấy bà Phạm Thị Nhiệm, em ruột của giáo sư Phạm Thiều, Đại Sứ Hà Nội tại Nam Vang (1956 – 1967) và Tiệp Khắc. Thảo có 7 con và vợ Thảo đi dạy học. Vợ và con Thảo hiện đang ở Hoa Kỳ. Tất cả các con của Thảo đều học hành thành tài (có người con là bác sĩ, đang ở Orange County).

 

Từ năm 1952 đến 1954, Thảo trở ra làm Trung Đoàn Trưởng ở chiến trường Tây Nam Bộ.

 

TRỞ LẠI VÙNG QUỐC GIA

Sau hiệp định Genève, Thảo không tập kết ra Bắc mà ở lại miền Nam. C̣n Gaston Thuần đă tập kết ra Bắc và về sau được cử làm Đại Sứ Hà Nội tại Đông Đức.

 

Trong bức thư gởi Nguyễn Khoa Điềm, Vơ Văn Kiệt cho biết chính Lê Duẩn đă chỉ thị cho Phạm Ngọc Thảo ở lại nằm vùng để h́nh thành “lực lượng thứ ba”. Nếu đúng như vậy th́ Phạm Ngọc Thảo đă không hoàn thành được sứ mạng giao phó.

 

Lúc đó, những người đă tham gia phong trào Việt Minh muốn ở lại miền Nam phải ra khai báo và được cấp chứng nhận, nhưng Phạm Ngọc Thảo đă tự động về Sài G̣n xin đi dạy học sinh sống mà không chịu ra khai báo. Do đó, Đại Tá Mai Hữu Xuân, Giám Đốc An Ninh Quân Đội, đă ra lệnh t́m bắt Phạm Ngọc Thảo. Thảo phải xuống Vĩnh Long nhờ Đức Giám Mục Ngô Đ́nh Thục che chở.

 

Đức Giám Mục Thục quen biết gia đ́nh Thảo từ lâu. Trong gia đ́nh Thảo chỉ có hai người đi theo Việt Minh là Thuần và Thảo, c̣n những người khác đều ở lại và giữ đạo rất đàng hoàng. Do đó, khi thấy Thảo quay trở về, Đức Giám Mục Thục đă bảo lănh cho Thảo và cho dạy học ở Trường Nguyễn Tường Tộ, Vĩnh Long, do Linh mục Nguyễn Văn Quang làm Hiệu Trưởng.

 

Thấy Thảo có học vấn khá, Đức Giám Mục Thục đă giới thiệu Thảo với ông Nhu. Ông Nhu bảo cho Thảo lên tạm làm việc tại Viện Hối Đoái. Cuối năm 1955, Thảo lên Sài G̣n t́m gặp ông Huỳnh Văn Lang, Tổng Giám Đốc Viện Hối Đoái với giấy giới thiệu của Đức Giám Mục Thục như sau: “Giới thiệu thầy anh Phạm Ngọc Thảo, người C.G. hồi chánh. Thầy nên giúp anh một việc làm để sinh sống.” Sau khi hỏi qua học lực, Huỳnh Văn Lang quyết định cho Thảo làm việc ở Sở Tài Chánh do ông Trần Xuân Minh làm Chánh Sự Vụ, lương mỗi tháng khoảng 10.000$. Thảo được giao cho trông coi pḥng đổi bạc. Thảo xin đi học luật. Ông Huỳnh Văn Lang đă sắp xếp giờ cho Thảo đi học.

 

Lúc đó ông Huỳnh Văn Lang đang làm Bí Thư Liên Kỳ Bộ Nam Bắc Việt của Đảng Cần Lao và Tổng Giám Đốc Viện Hối Đoái nên rất có thế lực. Ông Nhu muốn giao Phạm Ngọc Thảo cho Huỳnh Văn Lang để Huỳnh Văn Lang theo dơi.

 

Khoảng tháng 5 năm 1956, Trung Tâm Nhân Vị tại Vĩnh Long mở khóa huấn luyện về Nhân Vị, Huỳnh Văn Lang đă phái Trần Văn Trị và Phạm Ngọc Thảo đi tham dự. Sau khi học khóa này, Trần Văn Trị đă giới thiệu Phạm Ngọc Thảo vào Đảng Cần Lao. Trần Văn Trị lúc đó là Trưởng Ban Tổ Chức của Liên Kỳ Bộ Nam Bắc Việt.

 

Vào tháng Tháng 10 năm 1956, Thảo được tham dự khóa Khóa III huấn luyện đảng viên Cần Lao của Nam Kỳ tại trường Taberd và được tuyên thệ gia nhập Đảng Cần Lao dưới sự bảo trợ của Trần Văn Trị và Dương Chí Sanh.

 

Mặc dầu Đảng Cần Lao đă có Quân Ủy Trung Ương, Huỳnh Văn Lang muốn thành lập một tổ quân sự riêng để làm vây cánh cho ḿnh. Ông đă quy tụ được những sĩ quan sau đây: Đại Tá Nguyễn Quang Sanh, Tư Lệnh Hiến Binh; Trung Tá Nguyễn Hữu Phước, Giám Đốc Bảo An – Dân Vệ; Trung Tá Trần Thiện Khiêm, Trung Tá Trần Văn Hổ, Thiếu Tá Nguyễn Văn Hiệu.

 

Biết Thảo đă từng làm Trung Đoàn Trưởng nên Huỳnh Văn Lang giao cho Thảo phụ trách tiểu tổ quân sự nói trên, có nhiệm vụ nghiên cứu về chiến lược và chiến thuật quân sự và huấn luyện quân sự cho các đảng viên.

 

Tháng 1 năm 1957, một nhóm trí thức gồm Hoàng Minh Tuynh, Bùi Văn Thịnh, Phan Lạc Tuyên đă cộng tác với Huỳnh Văn Lang cho xuất bản bán nguyệt san Bách Khoa do Huỳnh Văn Lang làm chủ nhiệm. Phạm Ngọc Thảo cũng có tên trong ban biên tập của tạp chí này.

 

Về sau, v́ có sự xích mích giữa nhóm Nam của Huỳnh Văn Lang và nhóm Bắc của Luật sư Trần Văn Trai và Hà Đức Minh, và có nhiều vụ kinh tài bất hợp pháp, ông Diệm đă ra lệnh giải tán Liên Kỳ Bộ Nam Bắc Việt.

 

Biết Thảo có nhiều kinh nghiệm về quân sự, ông Nhu quyết định đưa Thảo về Bộ Quóc Pḥng, cho mang lon Đại Úy đồng hóa rồi đưa đi làm Tỉnh Đoàn Trưởng Bảo An Vĩnh Long. Sau khi làm việc ở Vĩnh Long thành công, đầu năm 1959 Thảo được đưa về làm Tỉnh Đoàn Trưởng Bảo An B́nh Dương.

 

Đầu năm 1960, ông Diệm quyết định lập Khu Trù Mật và đưa một số sĩ quan Bảo An về làm Công Cán Ủy Viên đặc trách về Khu Trù Mật, đặt trực thuộc Phủ Tổng Thống. Phạm Ngọc Thảo cũng là một trong những sĩ quan được giao cho chức vụ này. Khi làm việc, Thảo đă đưa ra nhiều sáng kiến được hoan nghinh. Thảo được cho đi học một khóa chỉ huy và tham mưu ở Đại Học Quân Sự Đà Lạt. Măn khóa, Thảo được cử làm Thanh Tra Khu Trù Mật. Để Thảo có uy tín khi đi đôn đốc và kiểm tra, ông Diệm đă cho Thảo thăng lên Thiếu Tá.

 

Ngày 17.1.1960, Việt Cộng đă cho phát động phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre do Nguyễn Thị Định chỉ huy để khởi đầu chiến dịch xâm chiếm miền Nam. Từ đó, t́nh h́nh an ninh ở Bến Tre trở nên nghiêm trọng. Cộng quân quấy phá khắp nơi. Để b́nh định tỉnh Bến Tre, ông Ngô Đ́nh Nhu quyết định đưa Phạm Ngọc Thảo, một người đă từng chỉ huy du kích Việt Minh, xuống làm Tỉnh Trưởng Kiến Ḥa (tức Bến Tre) để xem Thảo hành động như thế nào.

 

Đầu năm 1961, Thảo được thăng lên Trung Tá và được cử làm Tỉnh Trưởng Tỉnh Kiến Ḥa để trắc nghiệm và cho nhân viên t́nh báo theo dơi rất sát. Trong thời gian Thảo làm tỉnh trưởng, t́nh h́nh an ninh tại vùng này trở nên rất tốt.

 

Trong cuốn “A Viet Cong Memor”, Trương Như Tảng, cựu Bộ Trưởng Tư Pháp Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam (MTGPMN), cho biết Abert Thảo là bạn thân của ông ta lúc c̣n nhỏ, nên trong thời gian Thảo làm Tỉnh Trưởng Kiến Ḥa, ông đă ghé thăm Thảo nhiều lần. Ông ta thấy t́nh h́nh rất yên ổn, không c̣n bị phục kích hay phá hoại nữa. Mấy năm sau, ông được tin có những báo cáo nói rằng đă có những thỏa thuận ngầm giữa du kích và Thảo: du kích để cho t́nh h́nh yên ổn c̣n Thảo dành cho du kích dùng Bến Tre làm nơi nghĩ ngơi và chuẩn bị tấn công những nơi khác. Ông nói ông không biết chuyện đó có đúng hay không, nhưng việc làm cho Bến Tre thành một khu vực yên tĩnh đă làm tăng uy tín của Thảo. Thảo được că cố vấn Mỹ lẫn ông Diệm khen ngợi. (tr. 49).

 

Tuy nhiên, ông Diệm và ông Nhu đă nhận được nhiều thư tố cáo Phạm Ngọc Thảo là cán bộ cộng sản nằm vùng. Tướng Huỳnh Văn Cao đă vào gặp ông Nhu tŕnh bày các tin tức và tài liệu liên hệ đến vụ này. Nhưng ông Huỳnh Văn Lang đă đứng ra bênh vực cho Thảo. Ông vào gặp ông Nhu tŕnh rằng những tố cáo của nhóm Huỳnh Văn Cao chỉ là vu khống v́ ghen ghét. Ông biết Phạm Ngọc Thảo không hề hoạt động cho Việt Cộng.

 

Theo ông Trần Kim Tuyến, mặc dầu có tố cáo, ông Nhu vẫn tiếp tục dùng Thảo nhưng cho lệnh theo dơi rất kỹ và không bao giờ giao cho Thảo một chức vụ ǵ liên quan đến bí mật quốc gia hay quốc pḥng. Nhưng v́ có quá nhiều sự tố cáo, ông Diệm đă ngưng chức Tỉnh Trưởng Kiến Ḥa của Thảo và cho qua Hoa Kỳ học một khóa về chỉ huy và tham hưu như hầu hết các sĩ quan cấp tá khác. Sau khi Thảo đi, Bến Tre mất an ninh trở lại.

 

Ngày 3.2.1962, Tổng Thống Diệm kư Nghị Định số 11-TTP tuyên bố quốc sách Ấp Chiến Lược. Ủy Ban Liên Bộ Đặc Trách Ấp Chiến Lược được thành lập do ông Ngô Đ́nh Nhu làm Chủ Tịch. Ngày 23.3.1962, Phạm Ngọc Thảo vừa đi Mỹ về, đă được cử làm Thanh Tra Ấp Chiến Lược.

 

ÂM MƯU LẬT ĐỔ ÔNG DIỆM?

Đọc bộ “Foreign Relations of the United States” năm 1963 của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, chúng ta thấy có rất nhiều văn kiện của CIA và chính Đại Sứ Cabot Lodge nói về âm mưu đảo chánh lật đổ ông Diệm của Trần Kim Tuyến và Phạm Ngọc Thảo, nhưng việc kiểm chứng rất khó khăn. Chưa một nhân chứng nào xác nhận điều đó. Trong những cuộc nói chuyện riêng tư, ông Tuyến nói ông không hề âm mưu lật đổ ông Diệm, ông chỉ đề nghị thay đổi mà thôi.

 

Chúng ta chỉ được biết sau cuộc đảo chánh bất thành ngày 11.11.1960 của nhóm Vương Văn Đông, cơ quan CIA đă móc nối với ông Trần Kim Tuyến để t́m cách loại ông Nhu ra khỏi chính quyền. Ông Cao Xuân Vĩ cho biết vào cuối năm 1960, theo ư kiến của một số viên chức CIA, ông Tuyến có làm một tờ tŕnh dài khoảng 20 trang, trong đó phân tích t́nh h́nh, đề nghị ông Nhu nên đi ra ngoại quốc một thời gian, thành lập thêm chức Thủ Tướng để đảm nhận công việc hành chánh. Đây là ư kiến của các cố vấn Mỹ. Nhưng ông Tuyến không dám tŕnh ông Nhu mà nhờ ông Cao Xuân Vĩ tŕnh giúp. Theo ông Vĩ, người Mỹ hứa nếu ông Nhu đi ngoại quốc, ông Tuyến sẽ thay chỗ ông Nhu và bà Tuyến thay chỗ bà Nhu. Ông Nhu đă đọc và không có ư kiến ǵ.

 

Trong cuốn “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”, Đỗ Mậu cho biết vào đầu tháng 9 năm 1963, Phạm Ngọc Thảo có đến gặp ông và mời ông tham gia một cuộc đảo chánh của Bác sĩ Trần Kim Tuyến và Thảo là đại diện. Theo Thảo, Bác sĩ Tuyến chỉ là lănh đạo tinh thần v́ đang sửa soạn đi nhận chức Tổng Lănh Sự Ai Cập nên không muốn tiếp xúc với ai. Thảo cho biết đă kết nạp được một số đơn vị Biệt Động Quân và Bảo An, và nhiều sĩ quan ở Quân Đoàn 3 và Quân Đoàn 4. Tướng Khiêm đă nhận đỡ đầu cho Thảo. Đỗ Mậu c̣n nghi ngờ Thảo nên trả lời: “Các anh muốn làm ǵ th́ làm, tôi không chống các anh và cũng không phản cụ Diệm.” (tr. 613 – 615).

 

Mọi cuộc họp giữa ông Tuyến và nhân viên CIA tại nhà hàng La Cigale, ông Nhu đều biết hết. Nhưng ông Nhu tin rằng ông Tuyến và Phạm Ngọc Thảo không thể làm đảo chánh được v́ không có quân. Ông đă nắm Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, Tôn Thất Đính, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, và Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Sư Đoàn 5, không ai có thể đảo chính được.

 

Để chấm dứt âm mưu giữa CIA với Trần Kim Tuyến và Phạm Ngọc Thảo, ngày 5.9.1963, Tổng Thống Diệm đă kư Sắc Lệnh thành lập Ṭa Tổng Lănh Sự VNCH tại Le Caire, Ai Cập. Ngày 6.9.1963, Trần Kim Tuyến được cử làm Tổng Lănh Sự tại Le Caire. Nhưng một thảm họa đă xẩy ra.

 

Để ngăn chận đảo chánh, theo sự phân công, ông Nhu nắm cấp Sư Đoàn, c̣n ông Tuyến nắm cấp Trung Đoàn. Khi có sự di chuyển của các đơn vị quanh Sài G̣n, các mật báo viên trong các đơn vị nói trên phải báo cáo cho ông Nhu và ông Tuyến biết. Ông Tuyến nắm trong tay danh sách các mật báo viên cấp trung đoàn quanh Sài G̣n.

 

Ông Cao Xuân Vĩ cho biết, trước khi ông Tuyến ra đi, ông Nhu bảo ông Tuyến giao danh sách đó lại cho ông Vĩ, nhưng ông Vĩ không nhận v́ ông không biết về quân sự. Ông Nhu bảo giao cho Thiếu Tá Phạm Thư Đường, Chánh Văn Pḥng của ông Nhu, nhưng ông Đường từ chối v́ bận quá nhiều việc. Cuối cùng, ông Tuyến đă giao danh sách đó cho Phạm Ngọc Thảo! Ngay sau đó, Phạm Ngọc Thảo đă giao danh sách này cho CIA. CIA liền báo cho Tướng Trần Thiện Khiêm và Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu biết. Hai người này đă cho di chuyễn các mật báo viên của ông Nhu ra khỏi đơn vị trước đảo chánh hai ngày, nên mọi liên lạc đều bị cắt!

 

Đọc các báo cáo ngày 1.6.1963, 8.7.1963, 30.8.1963, 31.8.1963, 8.9.1963, 24.10.1963... chúng ta đều thấy CIA báo cáo hay loan tin Trần Kim Tuyến và Phạm Ngọc Thảo âm mưu đảo chánh hay đảo chánh bất thành! Nhưng các nhà phân tích cho rằng các tin tức đó được loan ra chỉ để đánh lạc hướng ông Nhu. Ông Nhu thường hỏi: “Chúng nó lấy lực lượng ở mô mà làm đảo chánh?”

 

Trong thực tế, người được CIA giao cho chỉ huy cuộc đảo chánh là Tướng Trần Thiện Khiêm và lực lượng đảo chánh là Sư Đoàn 5 của Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu. Điều sai lầm của ông Nhu là vẫn tin tưởng ở Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu! Ông Cao Xuân Vĩ cho biết cho đến 10 giờ 30 sáng 1.11.1963, khi lực lượng đảo chánh đă chuyển quân, Nguyễn Văn Thiệu c̣n giả vờ vào gặp ông Nhu hỏi về t́nh h́nh. Khi tin đảo chánh vừa xẩy ra, ông Nhu đă điện thoại hỏi Trần Thiện Khiêm th́ mới biết sự thật phủ phàng.

 

Sau đảo chánh ngày 1.11.1963, Phạm Ngọc Thảo được thăng lên Đại Tá và làm Tùy Viên Báo Chí cho Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, sau đó Thảo được cử làm Tùy Viên Văn Hóa tại Ṭa Đại Sứ VN ở Washington.

 

PHẠM NGỌC THẢO LÀM ĐẢO CHÁNH

Ông Cao Xuân Vĩ cho biết năm 1967, khi ông vừa ra khỏi tù, Tướng Trần Thiện Khiêm đă gọi ông đến và thanh minh rằng ông ta không chủ trương giết ông Diệm và ông Nhu, ông chỉ muốn đưa hai ông ra ngoại quốc mà thôi. Người ra lệnh giết là Tướng Dương Văn Minh. Ông cũng tiết lộ rằng năm 1965, chính ông đă bảo Phạm Ngọc Thảo về làm đảo chánh lật đổ Tướng Khánk.

 

Tưởng cần nhắc lại rằng ngày 30.1.1964, Tướng Khiêm và Tướng Khánh đă làm “chỉnh lư”, bắt các tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân. Theo sự sắp xếp của CIA, Nguyễn Khánh sẽ làm Quốc Trưởng c̣n Trần Thiện Khiêm làm Thủ Tướng. Nhưng Tướng Khánh cho rằng làm Quốc Trưởng chỉ là bù nh́n, nên ông đảo ngược thế cờ, làm Quốc Trưởng kiêm luôn Thủ Tướng, sau đó đưa hai Tướng Dương Văn Minh và Trần Thiện Khiêm đi lưu vong ở ngoại quốc. Tướng Khiêm được cho qua làm Đại Sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ.

 

Sự lộng hành của Tướng Khánh đă tạo nên những rối loại liên tục. Ngày 13.9.1964, hai tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát, với sự yểm trợ của nhóm Đại Việt Nguyễn Tôn Hoàn, đă tổ chức đảo chánh nhưng thất bại. Ngày 15.9.1964, Tướng Đức tuyên bố chỉ “biểu dương lực lượng” để cứu văn uy tín cho chính quyền chứ không đảo chánh.

 

Tướng Khánh có nói với Tướng Đôn rằng khi Phạm Ngọc Thảo rời Hoa Thịnh Đốn về Việt Nam th́ Ṭa Đại Sứ VN tại Washington không cho hay. Khi Thảo đến Hồng Kông nghỉ một đêm, Lănh sự VN ở Hồng Kông mới đánh điện tín báo tin cho ông biết, nhưng hôm đó là ngày lễ nên hôm sau công điện đó mới được tŕnh cho ông biết th́ Thảo đă đến Sài G̣n và biến mất rồi.

Lúc đó tôi thấy Phạm Ngọc Thảo đă kết hợp với Tướng Lâm Văn Phát và ông Nguyễn Bảo Kiếm (giáo sư Anh văn) đi vận động tổ chức đảo chánh lật đổ Tướng Khánh một cách công khai, nhưng chẳng cơ quan nào theo dơi cả!

 

Lúc 12 giờ 30 ngày 19.2.1965, Tướng Lâm Văn Phát và Phạm Ngọc Thảo đem quân và xe tăng vào chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài Phát Thanh Sài G̣n, Bến Bạch Đằng và phi trường Tân Sơn Nhứt. Trong khi đó, Nguyễn Bảo Kiếm dẫn một tổ chức gọi Lực Lượng Bảo Vệ Dân Tộc đi biểu t́nh chống Nguyễn Khánh.

 

Khi cuộc đảo chánh xẩy ra, Tướng Khánh đang ở trong Bộ Tổng Tham Mưu. Tướng Khánh liền qua Bộ Tư Lệnh Không Quân nhờ Tướng Nguyễn Cao Kỳ cho máy bay chạy thoát. V́ xe tăng đă chiếm phi trường, Tướng Khánh phải cho cắt hàng rào kẻm gai, chiu vào phi đạo, lên phi cơ ra Vũng Tàu.

 

Chiều hôm đó, các tướng họp ở Bộ Tư Lệnh Không Quân Tân Sơn Nhứt, sau đó bay xuống phi trường Biên Ḥa.

Ngày 20.2.1965, Tướng Khánh bay xuống Cần Thơ rồi qua đài phát thanh Ba Xuyên ra lệnh cho các lực lượng chiếm đống trở về đơn vị.

 

Tướng Nguyễn Chánh Thi cho biết chiều 19.2.1965, lúc ông đang ở Vùng I, Đại Sứ Maxwell Taylor đă gọi cho ông và yêu cầu vào Biên Ḥa họp với các tướng lănh ngay. Ông đến Biên Ḥa lúc 6 giờ 45 sáng 20.2.1965. Tướng Khánh cũng bay đến đó với vẽ mặt tiền tụy. Sau một hồi thảo luận không đi tới đâu, Tướng Khánh lại ra đi. Các Tướng cử Tướng Thi làm Tư Lệnh Lực Lượng Giải Phóng Thủ Đô. Ông liền ra lệnh cho Lâm Văn Phát, Phạm Ngọc Thảo và 13 sĩ quan khác phải ra tŕnh diện trong 24 tiếng đồng hồ. Tướng Phát và Phạm Ngọc Thảo muốn lên Biên Ḥa gặp các tướng lănh và tŕnh bày rằng họ chỉ muốn loại Tướng Khánh chứ không cố ư đảo chánh.

 

Ngày 21.2.1965, các tướng lại họp tại Biên Ḥa, quyết định giải nhiệm Tướng Khánh và cử Tướng Trần Văn Minh làm Tổng Tư Lệnh Quân Lực VNCH. Tướng Thi được các tướng ủy nhiệm đến Dinh Gia Long gặp Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu, yêu cầu kư Sắc Lệnh bải nhiệm Tướng Khánh. Ông Sửu chần chờ và hẹn đến ngày mai. Nhưng Tướng Thi yêu cầu ông Sửu kư ngay để Tướng Thiệu và Thủ Tướng Phan Huy Quát cùng kư. Tướng Thi nói nếu để châm, Tướng Khánh có thể bày những tṛ nguy hiểm, nên ông Sửu đành phải kư.

 

Ngày 22.2.1965, ông Sửu kư Sắc Lệnh số 046/QT/SL bổ nhiêm Tướng Nguyễn Khánh làm Đại Sứ Lưu Động. Ngày 25.2.1965, Tướng Khánh được tặng Nhất Hạng Kim Khánh Bội Tinh, sau đó rời Việt Nam, tay cầm một nắm đất và hứa sẽ về. Nghe tin trên, Lâm Văn Phát, Phạm Ngọc Thảo và Nguyễn Bảo Kiếm đă bỏ trốn.

 

PHẠM NGỌC THẢO CHẾT THÊ THẢM

Ngày 11.6.1965, Quốc Trưởng Pham Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát tuyên bố trả lại Quân Đội quyền lănh đạo quốc gia.

 

Lúc đó tôi nghe nói có 4 tướng có thể được Mỹ chọn làm Quốc Trưởng thay Tướng Khánh, đó là các tướng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Cao Kỳ và Đề Đốc Chung Tấn Cang. Cuối cùng, Ṭa Đại Sứ Mỹ đă chọn Tướng Thiệu.

 

Ngày 14.6.1965, Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia đă được thành lập do Tướng Thiệu làm Chủ Tịch, Tướng Chiểu làm Tổng Thư Kư và Tướng Kỳ làm Ủy Viên Hành Pháp. Ngày 19.6.1965, Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, tức chính phủ Nguyễn Cao Kỳ, ra mắt quốc dân.

 

Sau khi nhận chức, công việc của Tướng Thiệu là phải t́m bắt và giết Phạm Ngọc Thảo để trừ hậu họa. Phạm Ngọc Thảo đă đi trốn nhiều nơi, nhưng cuối cùng đến trốn trong Đan Viện Phước Lư ở xă Vĩnh Thanh, huyện Nhơn Trạch, Biên Ḥa, nhưng cơ quan an ninh không hay biết.

 

Có nhiều ngồn tin cho biết Linh mục Trần Ngọc Nhuận, chánh xứ nhà thờ Phát Diệm ở số 485 đường Vơ Di Nguy (nay là Nguyễn Kiệm) Phú Nhận, biết rơ Phạm Ngọc Thảo đang trốn ở đâu.

 

Thấy Linh mục Nhuận đang làm nhà thờ Phát Diệm, Tướng Thiệu cho người đến đề nghị giúp ngài một số vật liệu để hoàn tất công tŕnh xây cất, đồng thời mời Linh mục Nhận làm cố vấn cho Tướng Thiệu và cử một đại úy đến đặt một đài truyền tin ở nhà Linh mục Nhuận để ông có thể nói chuyện với Tướng Thiệu bất cứ lúc nào. Ở cạnh cha Nhuận để coi sóc đài truyền tin, viên đại úy này khen Phạm Ngọc Thảo giỏi và nói Tướng Thiệu đang nhờ người đi t́m Phạm Ngọc Thảo về làm cố vấn. Linh mục Nhuận tưởng thật, đă tiết lộ nơi Phạm Ngọc Thảo đang ẩn núp.

 

Viên đại úy liền qua Đan Viện Phước Lư thăm ḍ. Thấy có người đến hỏi, Phạm Ngọc Thảo biết là đă bị động nên tŕnh Linh mục Đan Viện Trưởng rằng ở Đan Viện Phức Lư không c̣n an toàn nữa. Thảo xin rời Phước Lư sáng sớm hôm sau.

 

Khoảng 3 giờ sáng ngày 16.7.19.1965, Thảo vừa ra khỏi Đan Viện Phước Lư th́ bị An Ninh Quân Đội mai phục sẵn bắt bỏ lên xe, trói tay và bịt mắt lại rồi đưa về Tam Hiệp ở Biên Ḥa, đến cạnh một cái suối nhỏ, xô xuống và bắn. Người bắn nhắm vào mang tang, thấy Thảo ngả xuống, tưởng là Thảo đă chết rồi nên bỏ đi. Không ngờ viên đạn chỉ trúng cằm. Lúc gần sáng, có người đi qua, nghe tiếng rên, đă đến xem. Thảo lấy cây que viết lên đất: “Phanxicô cần gặp gấp một linh mục”. V́ lúc đó các linh mục ở Tam Hiệp đă đi cấm pḥng, nên người này chạy đến Ḍng Nữ Tu Đa Minh Tam Hiệp gần đó, (ở số 134/4 Khu Phố 5, Phường Tam Hiệp, Biên Ḥa) báo tin cho Linh mục tuyên úy của Ḍng biết. Linh mục này liền cho lấy một chiếc xe Lambretta ra chở về băng bó và biết đó là Phạm Ngọc Thảo!

 

Lúc trời sáng hẵn, An Ninh Quân Đội đến t́m xác Thảo th́ không có. Họ hỏi những người xung quanh th́ được biết có xe đă đến chở Thảo vào Ḍng Nữ Tu Đa Minh rồi. Họ liền đến nhà ḍng xin lănh Thảo, nhưng linh mục tuyên úy không cho. Khi các nhân viên an ninh xuất tŕnh lệnh bắt Thảo, linh mục phải cho nhưng dặt điều kiện không được giết thảo. Nhân viên an ninh đồng ư.

 

Một nguồn tin nói rằng khi về Nha An Ninh Quân Đội, Phạm Ngọc Thảo đă bị Hùng Xùi bóp dế chết. Hùng Xùi đă cải chính tin này.

 

Tướng Nguyễn Ngọc Loan kể lại với báo chí rằng khi Phạm Ngọc Thảo được đưa về Nha An Ninh Quân Đội, ông đă cho gọi Bác Sĩ đến cứu chữa, nhưng máu đă ra quá nhiều, không cứu chửa được nữa.  Lúc 1 giờ 30 sáng 17.7.1965 Phạm Ngọc Thảo đă từ trần, hưởng dương 43 tuổi.

 

Cho đến nay, không ai biết rơ sự thật về cái chết của Phạm Ngọc Thảo. Giết được Phạm Ngọc Thảo, viên đại úy âm thầm gở máy truyền tin ở nhà xứ Phát Diệm và đi mất.

 

Các nhà phân tích cho rằng Phạm Ngọc Thảo là gián điệp ba mang: Vừa làm t́nh báo cho Việt Cộng, vừa làm t́nh báo cho VNCH và vừa làm t́nh báo cho Mỹ, nhưng những tin tức Phạm Ngọc Thảo thu được không có ǵ quan trọng v́ các cơ quan đă đề pḥng cẩn thận rồi. Phạm Ngọc Thảo cũng không hề làm cố vấn về chính sách cho ông Diệm hay ông Nhu như cuốn “Ván Bài Lật Ngữa” đă mô tả. Phạm Ngọc Thảo cũng không hề vận động thành lập “lực lượng thứ ba” như Vơ Văn Kiệt đă tiết lộ.

 

Nói chung, tất cả những điệp viên được Hà Nội đưa ra kheo khoang như Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân Ẩn, Tướng Ba Quốc hay Phạm Ngọc Thảo đều là những điệp viên hạng cắc ké. Sở dĩ Hà Nội đưa những tên này ra tŕnh diễn là để che đây những thất bại nghiêm trọng về t́nh báo của họ khiến các điệp viên cao cấp nhất của họ như Trần Quốc Hương hay Đại Tá Lê Câu đă bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt tóm gọn. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một dịp khác.

 

Tú Gàn

 

Trở lại đầu