Vài sự kiện lịch sử
Saigon Nhỏ vừa nhận được văn thư số 49BTSTUHN/NK/VT ngày 11.8.2006 của ông Nguyễn Thành Long, thay mặt Ban Trị Sự Trung Ương Hải Ngoại Giáo Hội Phật Giáo Ḥa Hảo, đính chính và phê b́nh một số điểm trong bài “Chuyện Nam Lửa và Ba Cụt” đăng trên Saigon Nhỏ số ra ngày 20.10.2006.
Trước hết, chúng tôi xin xác định hai điều:
Thứ nhất, chúng tôi luôn cám ơn những đóng góp có giá trị của độc giả về những bài viết của chúng tôi, nhất là các bài viết về lịch sử, để giúp chúng ta có những sử liệu và những cách nh́n chính xác hơn về các biến cố đă xẩy ra trong lịch sử của dân tộc và của cộng đồng người Việt hải ngoại. Trong tinh thần đó, chúng tôi xin thành thật cám ơn Ban Trị Sự Trung Ương Hải Ngoại của Giáo Hội Phật Giáo Ḥa Hảo về một số ư kiến đă nêu lên trong văn thư nói trên.
Thứ hai, chúng tôi xin nói rơ rằng bài “Chuyện Nam Lửa và Ba Cụt” nói trên chỉ là một phần nhỏ được trích trong các tài liệu nghiên cứu về lịch sử mà chúng tôi sắp cho xuất bản, v́ thế, chắc chắn nó không giúp độc giả có một cái nh́n toàn diện về các diễn biến đă xẩy ra đưa tới biến cố đó, và trong phạm vi một bài báo, chúng tôi cũng không ghi rơ xuất xứ của các tài liệu mà chúng tôi đă tham khảo, nên khó tránh khải những thắc mắc hay nghi vấn.
NHỮNG ĐIỀU CẦN NÓI TRƯỚC
Trước khi cho đăng nguyên văn thư đính chính của Ban Trị Sự Trung Ương Hải Ngoại của Giáo Hội Phật Giáo Ḥa Hảo với vài nhận xét, chúng tôi thấy cần nói rơ hai điểm căn bản sau đây: Thứ nhất là tài liệu chính đă được tham khảo để tŕnh bày về t́nh h́nh các giáo phái tại miền Nam và thứ hai là danh từ “giáo phái” mà người Pháp đă xử dụng.
1.- Những tài liệu không thể bỏ qua:
Khi nghiên cứu về t́nh h́nh các giáo phái tại miền Nam và lực lượng B́nh Xuyên từ 1941 đến 1956, có hai tài liệu căn bản không thể bỏ qua được:
Tài liệu thứ nhất là cuốn “Visage et Images du Sud Viet Nam” (Khuôn mặt và Những h́nh ảnh của miền Nam Việt Nam) của Antoine M. Savani. Ông là Thiếu Tá Trưởng Pḥng Nh́ của của Bộ Tư Lệnh Quân Đội Pháp tại Miền Nam Việt Nam, nên có đủ các dữ kiện trong tay để có thể tŕnh bày vấn đề một cách chính xác. Ngoài ra, ông c̣n là một học giả, có khả năng nghiên cứu và tŕnh bày vấn đề đúng theo phương pháp khoa học.
Tài liệu thứ hai là bộ Quân Sử (quyển 4) của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa do Pḥng 5 Bộ Tổng Tham Mưu (Khối Quân Sử) thực hiện. Đây là một bộ sử đă sử dụng các tài liệu chính thức của Quân Lực VNCH để viết nên rất đáng tin cậy.
Các tài liệu trong văn khố Pháp và Mỹ, các hồi kư, các bài khảo luận, và các cuộc phỏng vấn các nhân chứng... đă giúp bổ túc, hiệu đính, giải thích các biến cố đă xẩy ra, hoặc đặt ra những nghi vấn cần được làm sáng tỏ. Dĩ nhiên, kết quả của các cuộc nghiên cứu sẽ chẳng bao giờ làm vừa ḷng được tất cả mọi người, nhất là những người hay tổ chức cảm thấy họ bị đụng chạm hay xúc phạm. Nhưng nếu viết sử mà tránh đụng chạm, sẽ không bao giờ tŕnh bày được sự thật.
2.- Danh từ “giáo phái” do người Pháp xử dụng:
Trong văn thư nói trên, Ban Trị Sự đă phản đối việc sử dụng danh từ “Giáo phái Ḥa Hảo” v́ cho rằng viết như thế là “viết theo lối khinh miệt của thực dân Pháp”. Chúng tôi không nghĩ như vậy.
Sở dĩ người Pháp dùng danh từ “secte” (giáo phái) để nói về “Gíao phái Ḥa Hảo” hay “Giáo phái Cao Đài” là để phân biệt giữa tôn giáo và chính trị, hay nói rơ hơn, để phân biệt giữa Đạo Phật Giáo Ḥa Hảo và Đạo Cao Đài với các lực lượng chính trị hay quân sự do những người thuộc hai tôn giáo đó đă lập ra. Trong cuốn “Visage et Images du Sud Viet Nam”, khi mở đầu Chương IV nói về “Về chế độ phong kiến... và các nhóm vơ trang khác” (Des Féodalités... et autres groupements armés) Antoine M. Savani đă viết:
“Ảnh hưởng đáng kể tác động vào miền Nam Việt Nam của các giáo phái có nguồn gốc tôn giáo (les sectes d’origine réligieuse) và các nhóm chính trị nghề nghiệp không tạo thành một hiện tượng mới đối với các dân tộc ở Viễn Đông”.
Như vậy khi dùng các chữ “Giáo phái Ḥa Hảo” (La secte Ḥa Hảo) hay “Giáo phái Cao Đài”, (La secte Cao Đài) người Pháp muốn tách các tổ chức chính trị và quân sự phát xuất từ Phật Giáo Ḥa Hảo và Cao Đài Giáo ra khỏi hai tôn giáo này chứ không bao giờ có ư khinh miệt như Ban Trị Sự Trung Ương Hải Ngoại của Giáo Hội Phật Giáo Ḥa Hảo đă quan niệm. Chúng tôi cũng chỉ sử dụng trong ư nghĩ đó.
Thật ra, trong tác phẩm nói trên, Antoine M. Savani không phải chi nói đến B́nh Xuyên, giáo phái Ḥa Hảo và giáo pháo Cao Đài, mà c̣n đề cập đến giáo phái thứ ba là “Các Đơn Vị Lưu Động Tự Vệ Công Giáo” (Unités Mobiles de Défense de Chrétientés, viết tắt là U.M.D.C) của người Công Giáo được thành lập vào tháng 10 năm 1947 tại Bến Tre, Mỹ Tho, G̣ Công, một số tỉnh miền Trung và miền Bắc... để chống lại Việt Minh. Khẩu hiệu của nhóm này là “V́ Thiên Chúa và Tổ Quốc” (Pro Deo et Patria). Người Pháp cũng coi nhóm này như một thứ lực lượng Giáo phái Công Giáo, nhưng không bao giờ bị hiểu như là Giáo Hội Công Giáo. Lực lượng này đă được giải tán kể từ tháng 5 năm 1953 và sát nhập vào Quân Đội Quốc Gia, nên không gây ra sự rắc rối nào khi thống nhất Quân Đội Quốc Gia sau này.
V́ những lư do đă nêu trên, khi người Pháp hay chúng tôi dùng chữ Giáo phái Ḥa Hảo, Giáo phái Cao Đài hay Giáo phái Công Giáo, không bao giờ có nghĩa là nói đến Đạo Phật Giáo Ḥa Hảo, Đạo Cao Đài hay Đạo Công Giáo. Chúng tôi chỉ muốn nói đến các lực lượng chính trị hay quân sự có nguồn gốc từ các tôn giáo này mà thôi.
NHỮNG ĐIỀU MUỐN ĐÍNH CHÁNH
Văn thư số 49BTSTƯHN/NK/VT ngày 11.8.2006 của Ban Trị Sự Trung Ương Hải Ngoại Giáo Hội PGHH có gởi đến chúng tôi “Bản liệt kê những điều cần đính chánh” mà Ban Trị Sự coi đó là “một số điểm sai lầm trầm trọng” và “tác hại” của bài viết. Nguyên văn “Bản liệt kê” đó như sau:
I.- Những điểm sai lầm:
1.- Về danh xưng:
Ngay phần mở đầu, tác giả đă viết: “...Những việc thương lượng với hai giáo phái Cao Đài và Ḥa Hảo để thống nhất lực lượng quốc gia không phải là dễ...”
Nền Đạo chúng tôi do Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng vào ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Măo (1939) có danh xưng rơ ràng, chính thức Phật Giáo Ḥa Hảo hay Giáo Hội Phật Giáo Ḥa Hảo. Đây là một tôn giáo phát xuất từ ḷng dân tộc, chớ không phải là “giáo phái Ḥa Hảo” như tác giả đă viết theo lối khinh mạn của thực dân Pháp. Gọi Ḥa Hảo không thôi th́ không đầy đủ và cũng không có ư nghĩa ǵ cả.
2.- Về nhân vật:
Trong phần “Tranh Chấp Giữa Hai Họ Dương” trang..., khi nói về ông Nguyễn Ngọc Thơ, Đặc sứ của Chính phủ đương thời, tác giả viết: “Ông đề nghị cử Tướng Dương Văn Minh làm chỉ huy trưởng chiến dịch, c̣n ông phụ trách về việc thương lượng với các phe ly khai, v́ ông đă từng quen biết hay đối đầu với họ khi làm tỉnh trưởng một số tỉnh trong vùng...”
Ông Nguyễn Ngọc Thơ chỉ làm tỉnh trưởng ở Long Xuyên mà thôi chớ không hề làm tỉnh trưởng một số tỉnh như tác giả đă viết.
- Trong phần “Thanh toán lực lượng Năm Lửa” trang..., khi nói về ông Trần Văn Soái, Tổng Tư Lệnh Vơ Trang PGHH, tác giả viết: “Sau đó ông đi Pháp và đă chết ở Pháp.”
Ông Trần Văn Soái chưa và cũng không hề đi Pháp bao giờ. Điều này do chính một thành viên trong gia đ́nh Ông xác nhận và kể lại:
“Sau khi về hợp tác với chính quyền đương thời (Đệ I Cộng Ḥa), Cụ (Tướng Trần Văn Soái) về ở dinh trên đường Hồng Thập Tự, ngang hông Dinh Độc Lập (phía sau VN Thông Tấn Xă) một thời gian cho đến năm 1958. V́ các thân hào nhân sĩ và chiến hữu PGHH tới lui thăm viếng nhiều quá, chánh quyền thời ấy không yên ḷng nên dời cụ lên Đà Lạt. Ở đây khoảng 2 năm, cụ lâm trọng bệnh, nên về nhà thương Cộng Ḥa chửa bệnh. Chữa trị ở đây một thời gian ngắn th́ cụ quy tiên nhằm ngày 23 tháng chạp (tôi nhớ h́nh như năm 1060 hoặc 61)”.
Không biết ông Tú Gàn căn cứ vào đâu mà viết một cách hoang tưởng như vậy?
- Trong phần “Thanh Toán Lực Lượng Ba Cụt” trang..., tác giả viết:
“Sau khi Ba Cụt bị bắt, ngày 24.4.1956, Ba Bụng tức Phan Công Cẩn, Phó Tư Lệnh của Ba Cụt và một số quân sĩ khác bị bắn chết tại Châu Đốc...”
Ông Phan Công Cẩn tử trận ở Long Xuyên chớ không phải ở Châu Đốc.
II.- Lời lẽ, nội dung có tính cách miệt thị, thiếu nhă nhặn:
Trong phần “Tranh Chấp Giữa Hai Họ Dương” trang..., tác giả viết:
“... Mặc dầu đă có những nỗ lực của Đại Tá Dương Văn Đức và Khu Chiến Miền Tây, loạn quân Ḥa Hảo vẫn chưa bị đánh bại hoàn toàn...”
Phật Giáo Ḥa Hảo là một tôn giáo. Tín đồ PGHH vừa là cư sĩ tại gia vừa là công dân của đất nước. Do đó, trước cảnh nước mất nhà tan, ngoại bang thống trị (thực dân Pháp), họ đă tự nguyện đứng lên, kết hợp lại thành những nhóm vơ trang, hăng hái dấn thân chiến đấu chống thực dân xâm lược để dành độc lập cho quốc gia dân tộc hầu đền đáp Ân Đất Nước trong giáo lư Tứ Ân mà Đức Huỳnh Giáo Chủ đă dạy, cũng như chống CS vô thần sau này. Đây là những lực lượng dân quân v́ đại nghĩa tự phát như những phong trào cần vương, nghĩa quân kháng Pháp của những vị anh hùng dân tộc Trương Công Định, Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Phan Đ́nh Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Thuật... trước họ.
Lực lượng Nghĩa Quân Cách Mạng của Tướng Lê Quang Vinh và Quân Đội PGHH của Tướng Trần Văn Soái đă có mặt trên quê hương Việt Nam trước khi cố TT Ngô Đ́nh Diệm về nước và nền Đệ I Cộng Ḥa h́nh thành th́ sao gọi là “loạn quân”? Việc Nghĩa Quân Cách Mạng của Tướng Trần Quang Vinh và Lực Lượng của Tướng Trần Văn Soái không hợp tác với Chính phủ đương thời v́ họ không đồng ư với chế độ độc tài, bất công thời đó, chớ không phải chống Chính phủ như Chính phủ đă cố t́nh gán cho họ. Dĩ nhiên khi chính quyền đưa quân đội tấn công để tiêu diệt họ th́ họ phải chống trả để tự vệ.
Gọi họ là “loạn quân” tức mặc nhiên đồng t́nh với chủ trương và thái độ của thực dân xâm lược, dùng lư lẽ và sức mạnh của kẻ thống trị, bạo quyền. Tệ hại hơn, gọi một cách hô đồ “loạn quân Ḥa Hảo” th́ quả là một sự xúc phạm nặng nề đến Giáo Hội và tập thể tín đồ PGHH, một tôn giáo dân tộc.
- Ngay cái tựa của bài viết “Chuyện Năm Lửa và Ba Cụt” cũng đă thấy giọng điệu miệt thị, ngă mạn, bất nhă của tác giả đối với hai nhân vật nói trên rồi. Năm Lửa là biệt danh của Tướng Trần Văn Soái và Ba Cụt là biệt danh của Tướng Lê Quang Vinh. Không biết ông Tú Gàn năm nay được bao nhiêu tuổi, nhưng chắc chắn không thể cao niên hơn hai nhân vật tiền bối này. Theo văn hóa, đạo lư Đông Phương nói chung, Việt Nam nói riêng th́ kẻ sinh sau bao giờ cũng kính trọng người sinh trước tuổi tác cao, đặc biệt là người đă khuất. Không hiểu sao tác giả không thể lịch sự, nhă nhặn hơn một chút gọi hai vị này bằng tên tộc của họ: ông Trần Văn Soái, ông Lê Quang Vinh? Như vậy có phải nhẹ nhàng, thanh nhă hơn không! Chúng tôi chưa thấy một nhà văn, một nhà báo hay một sử gia nào, khi viết về các nhân vật có tiếng tăm, được kính nể của một đoàn thể, một tôn giáo mà lại gọi một cách xách mé, trịch thượng như vậy. Điều này làm chúng tôi nhớ lại khi mới cưỡng chiếm Miền Nam năm 1975, Việt Cộng từ tên bộ đội non choẹt cho đến tên cán bộ cao cấp, đều huênh hoang, kiêu căng ngạo mạn, gọi “thằng Gia Long, thằng Bảo Đại, thằng Thiệu, thằng Kỳ... tức phía quốc gia thù ngịch, không phân biệt già trẻ, tuổi tác, ai cũng là “thằng” tuốt luốt.
Đây là một số` điều sai lầm điển h́nh trong số khá nhiều trong bài cần đính chánh. Chúng tôi sẽ có bài nhận định, phân tích đầy đủ rơ ràng hơn.”
MỘT VÀI NHẬN XÉT
I.- Về một số điểm bị coi là sai lầm:
1.- Sự cố t́nh đồng hóa tôn giáo với tổ chức chính trị:
Chúng tôi đă có nói ngay từ đầu bài: Cần phân biệt giữa tôn giáo và các tổ chức chính trị hay quân sự phát xuất từ tôn giáo đó: V́ thế, về phương diện tôn giáo, chúng tôi luôn dùng chữ Phật Giáo Ḥa Hảo, c̣n với các tổ chức chính trị hay quân sự có nguồn gốc từ Phật Giáo Ḥa Hảo, chúng tôi hoàn toàn đồng ư với người Pháp, dùng chữ “Giáo phái Ḥa Hảo” (La sectes Ḥa Hảo) để tránh sự đồng hóa các tổ chức nay với Phật Giáo Ḥa Hảo.
Khi Đức Hùỳnh Giáo Chủ khai sáng Phật Giáo Ḥa Hảo, ngài đă hành động với tư cách một nhà lănh đạo tôn giáo, nhưng khi thành lập Lực Lượng Vơ Trang Phật Giáo Ḥa Hảo, ngài đă hành động với tư cách một công dân. Hai tư cách đó hoàn toàn khác nhau và biệt lập.
Chúng ta đă chứng kiến tại miền Nam Việt Nam trước đây cũng như ở hải ngoại hiện nay, có nhiều tổ chức hay cá nhân đă cố t́nh “mượn danh đạo tạo danh đời”, tự đồng ḥa tổ chức hay cá nhân ḿnh với tôn giáo mà ḿnh muốn lợi dụng để thu hút tín đồ của tôn giáo đó, và khi bị những người khác tấn công v́ có quan điểm hay hành động sai trái, liền hô lên rằng tôn giáo của ḿnh bị tấn công, coi tôn giáo như một thứ bia đỡ đạn.
Lịch sử nhân lại cho thấy sự lẫn lộn giữa tôn giáo và chính trị bao giờ cũng đem đến những hậu quả nghiêm trọng chẳng những cho chính tôn giáo mà c̣n cho quốc gia nữa. Do đó, các quốc gia văn minh trên thế giới đều có luật tách rời tôn giáo ra khỏi chính trị. Chúng ta không có lư do ǵ để tiếp tục duy tŕ t́nh trạng mập mờ đó.
2.- Một số điểm bị coi là sai lầm hay hoang tưởng.
- Về những nơi ông Nguyễn Ngọc Thơ đă làm Tỉnh Trưởng: Cuốn “Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí” của Chánh Đạo xuất bản năm 1993 đă ghi về ông Nguyễn Ngọc Thơ như sau: 7/1945: Tỉnh Trưởng Cần Thơ. Sau đó qua Long Xuyên, và rồi Mỹ Tho (tr. 359 – 360). Nay văn thư số 49BTSTUHN/NK/VT cho rằng ông Thơ chỉ làm Tỉnh Trưởng Long Xuyên mà thôi. Ai đúng, ai sai?
- Về nơi chết của Trần Văn Soái: Cuốn “Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí” của Chánh Đạo xuất bản năm 1993 cho biết ngày 11.2.1956, Trần Văn Soái về hàng Dương Văn Minh, Sau đó qua Pháp. Chết ở đây” (tr 447 – 449). Nay văn thư số 49 BTSTUHN/NK/VT cho rằng Trần Văn Soái đă chết tại Sài G̣n. Ai đúng, ai sai?
- Về nơi chết của Phan Công Cẩn, tức Ba Bụng: Bộ Quân Sử 4, “Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa trong giai đoạn h́nh thành 1946 – 1955” do Bộ Tổng Tham Mưu ấn hành năm 1972 có ghi rơ ở trang 458: “Về phần quân Ba Cụt, ngày 24.4.56, Phan Công Cẩn, tức Ba Bụng phó tổng tư lệnh quân đội Ba Cụt và một số đồng bọn bị quân chính phủ bắn chết tại CHÂU ĐỐC khiến cho nội bộ đă lủng củng lại càng lủng cũng thêm v́ rắn bị mất đầu.”
Nay văn thư số 49BTSTUHN/NK/VT lại cho biết Ba Bụng đă chết tại Long Xuyên. Ai đúng, ai sai?
Nói tóm lại, Tú Gàn đă viết bài “Chuyện Năm Lửa và Ba Cụt” với những tài liệu có căn cứ, chứ không phải “viết một cách hoang tưởng” như văn thư số 49BTSTUHN/NK/VT đă nói.
Với tư cách một người viết sử, chúng tôi không có quyền tin tưởng hoàn toàn vào tin tức của BTSTUHN/PGHH. Chúng tôi chỉ ghi nhận và đặt ra thêm những nghi vấn như “Ai đúng, ai sai?” để t́m câu trả lời chính xác mà thôi.
Điều đáng ngạc nhiên là các sách nói trên đă được xuất bản từ lâu, tại sao Giáo Hội PGHH không viết thư tố cáo họ “viết một cách hoang tưởng” mà đợi đến nay mới cải chính?
Vă chăng, ba sự kiện được ghi lại khác nhau nói trên, dù có sai lầm, cũng không có ǵ “nghiêm trọng” như BTSTUHN/PGHH đă la làng.
II.- Những lời lẽ và nội dung bị coi là có tính cách miệt thị, thiếu nhă nhặn
1.- Chữ “loạn quân” được xử dụng:
Chúng tôi đă nghiên cứu kỹ sự h́nh thành và tiến tŕnh hoạt động của Phật Giáo Ḥa Hảo cũng như Cao Đài, và hai giáo phái thuộc hai tôn giáo này. Lúc đầu, Giáo Phái Ḥa Hảo và Giáo phái Cao Đài đă hợp tác với Nhật để chống Pháp. Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, hai giáo phái này đă hợp tác với Việt Minh để chống Pháp. Khi bị Việt Minh phản bội, cả hai giáo phái lại trở về hợp tác với Pháp để chống Việt Minh!
Nhưng những chuyện oái oăm đă xẩy ra khi chính quyền Việt Nam muốn thống nhất quân đội và thu hồi chủ quyền nơi tay người Pháp. Lúc đó, Hoa Kỳ quyết định yểm trợ một trong ba nhân vật sau đây đứng ra lănh đạo quốc gia: Ngô Đ́nh Diệm, Phan Huy Quát hay Trần Văn Đỗ. Trong khi đó Pháp muốn đưa một trong hai tay chân bộ hạ của họ ra cầm quyền để bảo vệ quyền lợi của Pháp, đó là Nguyễn Văn Tâm hay Trần Văn Hữu.
Cuối năm 1954, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm ban hành quyết định đóng cửa các ṣng bài, ổ điếm và ở hút thuốc phiện do B́nh Xuyên khác thác kể từ ngày 1.1.1955. Mất một mối lợi quá lớn, Bảy Viễn phản ứng rất hung hăng. Pháp lợi dụng sự bất măn của Bảy Viễn, đă yểm trợ cho lực lượng B́nh Xuyên chống lại chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, Một số chi phái của hai giáo phái Ḥa Hảo và Cao Đài đă đi theo Bảy Viễn, một số đi theo Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm. Câu chuyện này khá dài ḍng. Chúng tôi xin tóm lược như sau:
Ngày 22.2.1955, do sự vận động của Bảy Viễn, một hội nghị gồm đại diện Giáo phái Cao Đài, Giáo phái Ḥa Hảo và Binh Xuyên đă được triệu tập tại Ṭa Thánh Cao Đài Tây Ninh để t́m biện pháp đối phó với ông Diệm. Hội nghị quyết định dùng quân đội để lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm. Tướng Thế đă đem ông Cao Xuân Vĩ, người của ông Diệm, đi theo để theo dơi t́nh h́nh. Bất thần, Tướng Thế từ chối kư vào tuyên ngôn chung và hẹn giải quyết xong nội bộ mới quyết định. Mặc dầu bị Tướng Thế chận một cách bất ngờ, Bảy Viễn rất khôn khéo, không có một phản ứng bất b́nh nào, và đă nói một cách nhẹ nhàng: “Anh Thế nói rất đúng! Chúng ta sẽ về dàn xếp nội bộ xong rồi mở cuộc họp trở lại.” Thế là kế hoạch đảo chánh bất thành.
Sau đ̣, Bảy Viễn vận động tổ chức một cuộc họp thứ hai tại tư dinh của Bảy Viễn ở Chợ Lớn vào ngày 3.3.1955. Hội nghị đă quyết định đảo chánh ông Diệm. Tướng Lansdale cho biết sau cuộc họp, hai tướng Nguyễn Thành Phương và Trịnh Minh Thể đă về báo cáo ngay cho ông biết và coi đó là một tṛ hề vĩ đại (a huge joke). Ông nói với Tướng Thế rằng Tướng Thế đă tuyên thệ trung thành với chính phủ, nay nếu tham gia Mặt Trận của Bảy Viễn, rất có thể bị kết tội phản nghịch và phiến loạn (treason and rebellation).
Ngày 21.3.1955, dưới sự chỉ đạo của Bảy Viễn, đại diện của Mặt Trận đă soạn một TỐI HẬU THƯ đ̣i ông Diệm phải cải tổ chính phủ trước ngày 26.3.1955. Tối hậu thư này do các nhân vật sau đây kư tên: Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Trung Tướng Trần Văn Soái, Trung Tướng Nguyễn Thành Phương, Thiếu Tướng Lê Văn Viễn, Thiếu Tướng Lâm Thành Nguyên, Thiếu Tướng Lê Quang Vinh và Thiếu Tướng Tŕnh Minh Thế. Tuy nhiên, sau đó Tướng Thế tuyên bố rút ra khỏi Mặt Trận.
Ông Diệm chẳng những không nhượng bộ mà c̣n tuyên bố: “Phải thống nhất quân đội sau khi chiến tranh chấm dứt. Không c̣n lư do tồn tại của các lực lượng vơ trang riêng biệt. Phải thống nhất hành chính, không thể nào duy tŕ t́nh trạng địa phương tự trị...”
Ngày 29.3.1955, ông Diệm quyết định cử Đại Tá Nguyễn Ngọc Lễ làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát và Công An thay thế Lai Văn Sang của B́nh Xuyên. Thế là cuộc chiến giữa lực lượng theo B́nh Xuyên và Quân Đội Quốc Gia bùng nổ. Các tướng Trần Văn Soái, Lâm Thành Nguyên và Lê Quang Vinh (Ba Cụt) đi theo Bảy Viễn và Pháp chống lại chính phủ quốc gia, c̣n các tướng Nguyễn Giác Ngộ, Nguyễn Thành Phương và Tŕnh Minh Thế đi theo chính phủ và Quân Đội Quốc Gia.
Theo Bảy Viễn và Pháp chống lại chính phủ Quốc Gia và Quân Đội Quốc Gia mà không phải là phản nghịch (treason) và phiến loạn (rebellion) th́ là cái ǵ?
H́nh luật của Mỹ coi phiến loạn (rebellion) là sự kháng cự có tổ chức, bằng vũ lực và vũ khí, chống lại luật pháp hay các hoạt động của chính phủ (organized resistance, by force and arms, to the law or operations of the government).
H́nh luật VNCH quy định về tội phản nghịch và phiến loạn rất rơ ràng. Theo điều 111 của H́nh Luật VNCH, bị coi là phạm tôi phản nghịch và bị phạt tử h́nh, người Việt Nam nào mang khí giới chống lại VNCH.
Điều 130 c̣n quy định thêm: Những người có các hành vi sau đây sẽ bị phạt tử h́nh:
1.- Người nào không có quyền hay không có duyên cớ chính đáng mà đứng chỉ huy một đơn vị quân đội bất luận thuộc binh chủng nào, một thành tŕ, một đồn bót, một hải cảng, một phi cảng, một thị trấn;
2.- Người nào bất chấp lệnh chính phủ, vẫn tiếp tục giữ một quyền chỉ huy quân sự;
3.- Người chỉ huy nào, bất chấp lệnh phải phân tán hay giải tán đạo binh hay bộ đội của ḿnh, mà vẫn tiếp tục tụ binh.
Bộ Quân Luật cũng có những điều khoản tương tự và Ba Cụt đă bị tuyên án tử h́nh do những điều luật này.
Ngày 10.6.1955, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đă kư Dụ số 43, đặt Trần Văn Soái và Lê Quang Vinh ra ngoài ṿng pháp luật.
Văn thư số 49BTSTUHN/NK/VT lư luận rằng Tướng Trần Văn Soái và Tướng Lê Quang Vinh “không hợp tác với Chính phủ đương thời v́ họ không đồng ư với chế độ độc tài, bất công thời đó, chớ không phải chống Chính phủ như Chính phủ đă cố t́nh gán cho họ.” Nhưng lập luận như vậy là ngụy biện. Lúc đó ông Diệm mới về nước, công an và mật vụ đều nằm trong tay của Pháp và B́nh Xuyên, quyền hành cũng chưa có. Thấy ông Diệm không có cận vệ rất nguy hiểm, Tướng Lansdale phải tổ chức cận vệ giúp. Vậy lúc đó ông Diệm lấy ǵ để “độc tài” và “bất công”?
2.- Không gọi bằng “Ông” là “miệt thị, ngă mạn, bất nhă”?
Về điểm này, chỉ cần lật bộ “Việt Nam sử lược” của sử gia Trần Trọng Kim ra xem là thấy ngay:
Các đầu đề của mỗi chương hay các đề mục, tuy là tên các vua, sử gia Trần Trọng Kim đều viết TRỐNG, như Lư Thần Tông (1128 – 1133), Trần Anh Tông (1293 – 1314), v.v. Ở bên trong, tên các quan lớn trong triều đ́nh cũng thường được viết TRỐNG, không có chữ “ông” ở trước, chẳng hạn như đoạn nói về vua Hàm Nghi đă viết như sau: “Vua Kiến phúc mất, đáng lẽ ra con nuôi thứ hai của vua Dục đức là ông Chánh mông lên nối ngôi th́ phải. Nhưng Tường và Thuyết không muốn lập người lớn tuổi, sợ ḿnh mất quyền...” (Quyển II, tr. 212). Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lúc đó đang là Quan Phụ Chính, mà sử gia Trần Trọng Kim chỉ gọi trống là Tường và Thuyết”, như vậy là “miệt thị, ngă mạn, bất nhă”?
Trong các sách của Chánh Đạo về lịch sử, tên các nhân vật, kể cả các nhân vật của Giáo phái Ḥa Hảo, đều gọi trống. Thí dụ trong cuốn “Việt Nam Niên Biểu 1939 – 1975”, xuất bản năm 2000, ở trang 69 đă ghi về các nhân vật thuộc Giáo phái Ḥa Hảo như sau:
5.6.1955. Cần Thơ: QĐVN tấn công Cái Vồn, mở đầu chiến dịch Đinh Tiên Hoàng. Chiến dịch này nhằm tiêu diệt các lực lượng giáo phái Ḥa Hảo.
NĂM LỬA chạy thoát khỏi Cái Vồn.
BA CỤT chạy thoát khỏi Thố Nốt (Long Xuyên).
HAI NGOÁN đầu hàng ở Chợ Mới (Long Xuyên).
Chánh Đạo cũng gọi là “giáo phái Ḥa Hảo” và cũng viết trống tên các nhân vật của giáo phái Ḥa Hảo, tại sao BTSTUHN/PGHH không ra văn thư phản kháng mà chỉ phản kháng Tú Gàn?
Muốn biết tiếng tăm của “Ông Năm Lửa” và “Ông Ba Cụt” oai hùng như thế nào, đọc giả chỉ cần đọc một đoạn dưới đây của Hứa Hoành mô tả “Ông Năm Lửa”, Tổng Tư Lệnh Vơ Trang Quân Đội Ḥa Hảo, trong cuốn “Nam Kỳ Lục Tỉnh” (tập III) th́ rơ ngay:
“Ông Năm Lửa tên thật là Trần Văn Soái, quê ở Ô Môn, tỉnh Cần Thơ. Nơi đây cũng là chỗ chôn nhau cắt rốn của ông Lê Quang Vinh tự Ba Cụt, một lănh tụ khác của quân đội Phật Giáo Ḥa Hảo. Biệt danh “Năm Lửa” nói lên bản tính của ông... Xuất thân từ giới anh chị, du đảng, Năm Lửa có tính bộc trực ngay thẳng đến độ thô kếch sổ sàng, coi việc chửi thề rất tự nhiên, để biểu lộ ḷng căm tức...
“Ngày 18.5.1947, lúc đó chính phủ Nam Kỳ do Bác Sĩ Lê Văn Hoạch làm Thủ Tướng, Năm Lửa đưa quân về với Pháp bằng một hiệp ước...
“Có một giai thoại kể rằng, hiệp ước hợp tác vừa kư xong, sáng hôm sau Năm Lửa đội mũ képi gắn một sao, hiên ngang cầm baton đi ngang qua mấy tên sĩ quan Pháp. Bọn sĩ quan và lê dương nh́n ông nhưng không chào kính. Tức giận, ông kêu một sĩ quan lại chỉ vào ngôi sao trên kết, rồi hỏi:
- Mầy biết cái này là ǵ không?
- Tôi không biết, tên sĩ quan trả lời.
- Tao là Thiếu Tướng. Năm Lửa đổ quạu trả lời!
- Thiếu Tướng phải gắn hai sao. Trong quân đội Pháp không có cấp bậc nào gắn một sao cả...
Lúc đó Năm Lửa mất mặt, và bọn sỹ quan ph́ cười!
Chuyện “oai hùng” của Năm Lửa và Ba Cụt dài lắm, lúc khác Tú Gàn sẽ kể thêm.
T́nh trạng “mượn danh đạo tạo danh đời”, đồng hóa tổ chức chính trị phát xuất từ một tôn giáo với tôn giáo đó và mượn tôn giáo làm bia đỡ đạn vẫn c̣n, nên rối loạn vẫn tiếp tục xẩy ra, gây tổn hại cho cả tôn giáo lẫn đất nước. Phật Giáo Ḥa Hảo là tổ chức có nhiều kinh nghiệm về vấn đề này hơn ai hết. Chúng tôi tin rằng các chức sắc trong Giáo Hội PGHH cũng nghĩ rằng t́nh trạng đó phải chấm dứt càng sớm cáng tốt.
Văn thư số 49BTSTUHN/NK/VT của Ban Trị Sự có cho biết: “Chúng tôi sẽ có bài nhận định phân tích đầy đủ, rơ ràng hơn.” Chúng tôi đă đọc phần “sử liệu” công bố trên Website hoahao.org rồi. Chúng tôi rất mong được sớm nhận được bài “nhận định” này để học hỏi thêm.
Tú Gàn