Viết cho trong nước
Tú Gàn
Saigon Nhỏ ngày 9.3.2007
Báo Tiền Phong ở trong nước số ngày Chủ Nhật 18.2.2007 có đăng bài phỏng vấn ông Nguyễn Phú B́nh, Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao Việt Nam, Chủ Nhiệm Ủy Ban về Người Việt Nam ở Nước Ngoài, về vấn đề thu hút Việt kiều trở về, trong đó có đề cập đến vấn đề song tịch của người Việt hải ngoại. Ông B́nh cho biết như sau:
“Chúng tôi cũng đă nhận được nhiều phản ánh của bà con về vấn đề hai quốc tịch. Vấn đề này cũng đang được xem xét, trong đó việc hồi hương sẽ thuận lợi hơn. Nếu trước đây qui định rằng người muốn hồi hương phải trở về quốc tịch VN, bây giờ vấn đề đó không đặt ra. Về kỹ thuật, các cơ quan hữu quan sẽ tính toán cụ thể hơn...
“Luật pháp Việt Nam chỉ công nhận một quốc tịch. Chúng tôi cho rằng, đă đến lúc các cơ quan pháp luật phải nghiên cứu để tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam mang hộ chiếu nước ngoài những vẫn có quyền được giữ quốc tịch VN, miễn là luật pháp nước đó không cấm việc mang hai quốc tịch. Nếu luật không cho phép, chúng ta cũng có thể đề nghị Chính phủ sửa đổi. Vấn đề này ngày càng nhận được nhiều sự ủng hộ.”
Đọc những lời phát biểu trên, chúng tôi thấy Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyển Phú B́nh không nắm vững các nguyên tắc căn bản về luật quốc tịch được quốc tế công nhận, và cũng không nhận thấy được những rắc rối và phi lư do Luật Quốc Tịch Việt Nam đang gây ra cho những người Việt đă gia nhập các quốc tịch khác và những lời than phiền của họ.
Như chúng tôi đă đề cập trong bài “Những điểm bất thường trong Luật quốc tịch VN”, được đăng trên Saigon Nhỏ số ra ngày 2.1.2007, người Việt hải ngoại đang có hai than phiền chính liên qua đến Luật Quốc Tịch Việt Nam:
Than phiền thứ nhất: Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều công nhận chế độ song tịch hay đa quốc tịch (Úc có 25% dân số có hai quốc tịch), và khi có tranh chấp về quốc tịch, “Công Ước Hague ngày 12.4.1930 về một số vấn đề liên quan đến sự tranh chấp về luật quốc tịch” (Convention on Certain Questions relating to the Conflict of Nationality Laws), sẽ được áp dụng đề giải quyết. Trong khi đó, Luật Quốc Tịch Việt Nam hiện nay không chấp nhận chế độ song tịch hay đa tịch, và vẫn coi tất cả mọi người Việt đă có các quốc tịch khác như là người Việt Nam, phải bị chi phối bởi luật lệ và quyết định của chính quyền Việt Nam, kể cả khi đang ở ngoại quốc (như trường hợp cô Lisa Pham). Điều này hoàn toàn trái với các công ước, các án lệ, các học lư và các tập tục quốc tế về quốc tịch.
Than phiền thứ hai: Luật Quốc Tịch Việt Nam đă đặt ra những điều kiện và thủ tục xin thôi quốc tịch Việt Nam một cách phi lư và rắc rối chưa từng thấy ở bất cứ nước nào trên thế giới: Xin thôi quốc tịch mà phải sưu tra và công bố lư lịch gióng như khi xin nhập quốc tịch!
Thứ Trưởng Nguyển Phú B́nh chẳng những không thấy được những than phiền này mà c̣n nói ngược lại rằng người Việt hải ngoại đang than phiền v́ không được giữ quốc tịch Việt Nam khi gia nhập các quốc tịch khác! Không thấy vấn đề làm sao t́m ra giải pháp đúng được?
Thật ra, vấn đề quốc tịch chỉ là một điểm nhỏ trong những bế tắc đă và đang gây rắc rối cho chế độ khi muốn hội nhập vào cộng đồng quốc tế. Muốn khai thông phải có một chính sách toàn bộ.
CHỈ NHAI LẠI CÁI CŨ
Nhật báo Nhân Dân số ngày 16.2.2007, có đưa ra một bài nhận định dưới đầu đề “Vận hội và tư duy”, đề cập đến những cơ hội và những thách thức khi Việt Nam gia nhập vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO). Chúng tôi xin trích lại dưới đây một số đoạn chính:
“Với việc chính thức trở thành thành viên đầy đủ của Tổ chức Thương mại thế giới vào đầu năm 2007 này, những cơ hội và thách thức của thời kỳ hội nhập đă thật sự mở ra và hiện hữu trong đời sống của cả quốc gia, cũng như của mỗi người dân đất Việt.
“Tổng ḥa của tất cả những cơ hội và những thách thức nói trên hợp thành vận hội mới của dân tộc. Vận hội mới đ̣i hỏi những cố gắng mới. Bởi v́ rằng, vận hội mới chỉ là một lời hứa về tương lai. Tương lai đó sẽ tốt đẹp đến đâu c̣n phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của chúng ta tận dụng những cơ hội và hóa giải những thách thức của thời đại như thế nào...
“Sẽ có rất nhiều việc cần phải làm ở đây, như cải cách hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực của hệ thống, đổi mới các thiết chế cơ bản của nền quản trị quốc gia, cải cách hệ thống tư pháp và cải cách hành chính... Tuy nhiên, để làm được tất cả những điều trên, trước hết chúng ta Phải Có Được Một Tư Duy Mới...
Tuy nhiên, đây không phải là một suy tư hay một chủ trương ǵ mới lạ. Từ năm 1986, khi bắt đầu đổi mới, trong bài diễn văn khai mạc đọc tại Đại hội Đảng kỳ VI vào ngày 15.12,1986, Ông Nguyễn Văn Linh cũng đă đưa ra luận điển tương tự như thế. Ông Linh nói:
"Muốn thấy đúng những sự thật về kinh tế xă hội của nước ta là phải đổi mới. Chỉ có đổi mới th́ mới phát huy được những nhân tố mới để sửa chữa những sai lầm trầm trọng hiện nay. Và muốn đổi mới thắng lợi th́ phải đấu tranh chống cái cũ, chống cái bảo thủ tŕ trệ, chống giáo điều rập khuôn, chống chủ quan nóng vội, chống tha hóa biến chất, chống những thói quen lỗi thời dai dẳng. Đây là một cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ diễn ra trên mọi lĩnh vực và trong bản thân từng người chúng ta.”
Sau đó, ông Nguyễn Văn Linh đă kêu gọi “đổi mới tư duy”.
Lúc đó chúng tôi đă đặt câu hỏi: Đảng viên và cán bộ đă được đào tạo để trở thành những bánh xe trong một bộ máy, Đảng lắp vào chỗ nào và cho chạy như thế nào là do quyền của Đảng, họ làm ǵ có tư duy mà bảo đổi mới?
Từ khởi ông Linh khởi xướng đổi mới đến nay, quả thật đă có nhiều thay đổi diễn ra trên đất nước, nhưng tư quy của đảng viên và cán bộ vẫn không thay đổi. Tất cả những ǵ ông Nguyễn Văn Linh liệt kê trong bài diễn văn đọc hôm 15.12.1986 trước Đại Hội VI vẫn c̣n như cũ và có nhiều điểm c̣n trầm trọng hơn: bảo thủ, tŕ trệ, giáo điều rập khuôn, chủ quan nóng vội, tha hóa biến chất, những thói quen lỗi thời dai dẳng, v.v.
NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI
Trên Saigon Nhỏ số ra ngày 23.2.2007, chúng tôi có nhắc lại lời của cụ Phan Khôi viết trên tờ Trung Lập ở Sài G̣n năm 1930:
“Nhựt Bổn nhờ biết cải cách tận gốc, cải cách từ học thuật tư tưởng cho nên được thành công. C̣n ta, không nhè chỗ gốc ấy mà đánh đổ, cứ toan bắt chước người Tây, làm theo cái ngọn, cho nên cuộc duy tân cải cách của ta không được thiệt hiện ra là phải lắm.”
“Cái óc của con người ta không có thể trong một lúc mà đựng được hai thứ mới và cũ. Vậy nên hễ muốn duy tân theo mới th́ cần phải rửa cho sạch hết cái óc cũ ấy đi, rồi mới tiếp nhận những cái mới được.”
Cái cũ mà cụ Phan Khôi đ̣i phải “rửa cho sạch hết” thời đó để đưa đất nước đi lên là chế độ phong kiến với những tàn tích của nó. Cái cũ mà chúng ta cần phải “rửa cho sạch hết” ngày nay là chủ nghĩa cộng sản lỗi thời với những tàn tích của nó.
Một trong những trở ngại chính đưa đến sự bế tắc của mọi nỗ lực cải cách hiện nay là chủ trương “Đảng lănh đạo”. Nhật báo Nhân Dân nói rằng “Sẽ có rất nhiều việc cần phải làm ở đây, như cải cách hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực của hệ thống, đổi mới các thiết chế cơ bản của nền quản trị quốc gia, cải cách hệ thống tư pháp và cải cách hành chính...” Chuyện này Đảng CSVN đă nêu lên cách đây gần 20 năm, nhưng đến nay vẫn không làm được. Tại sao?
Tại v́ có sự mâu thẩn giữa cái cũ và cái mới, và hai cái này không bao giờ dung nạp nhau đúng như cụ Phan Khôi đă nhận xét:
Canh tân theo hướng Đại Hội VI và nhật báo Nhân Dân đă đưa ra là canh tân theo chủ trương “thượng tôn luật pháp”. Nhưng khi đă coi luật pháp là trên hết, th́ không thể có “Đảng lănh đạo” đứng trên đầu trên cổ được, v́ “Đảng lănh đạo” có nghĩa là “Miệng tao là luật”, lúc đó luật pháp sẽ không c̣n nữa. Vậy phải chọn: Hoặc là “Đảng lănh đạo” hoặc là “thượng tôn luật pháp”. Hai thứ đó không bao giờ dung nạp nhau. Vậy muốn thực hiện một chế độ “thượng tôn luật pháp” để hội nhập vào cộng đồng thế giới th́ phải thủ tiêu chủ trương “Đảng lănh đạo”. Chủ trương đánh đu giữa “Đảng lănh đạo” và “thượng tôn luật pháp” như Đảng CSVN đă làm từ 1986 đến nay là nguyên nhân đưa đến những thất bại trong các nỗ lực cải cách, nhất là trong vấn đề chống tham nhũng. Những phân tích tiếp theo của chúng tơi sẽ xác định điều đó.
DĨ ĐẢNG TRỊ QUỐC
Chủ trương “Đảng lănh đạo” đầu tiên không phải là sáng kiến của các nhà lănh đạo Cộng Sản mà là sáng kiến của nhà cách mạng Trung Hoa Tôn Dật Tiên (c̣n gọi là Tôn Văn), nhưng sau đó bị biến thể dần.
Năm 1892, Tôn Dật Tiên đến Áo Môn và thành lập Hưng Trung Hội với chủ trương “Đánh đổ giặc Thát, khôi phục Trung Hoa, lập chủ nghĩa hợp quần”, và giao Trịnh Sĩ Lương cầm đầu để kết nạp đảng viên và bắt đầu hoạt động. Năm 1905, Tôn Dật Tiên đến Nhật và đổi Hưng Trung Hội thành Trung Hoa Cách Mạng Đồng Minh Hội, khởi xướng Chủ Nghĩa Tam Dân: Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Ông soạn “Cách mạng phương lược” quy định cách mạng được tiến hành theo ba thời kỳ: quân pháp, ước pháp và hiến pháp. Từ 1907 đến 1908 Tôn Dật Tiên đă lănh đạo sáu cuộc khởi nghĩa vũ trang, nhưng thất bại.
Ngày 10.10.1911, cuộc cách mạng Tân Hợi bùng nổ, Tôn Dật Tiên trở về nước và được bầu làm Lâm Thời Đại Tổng Thống, ban hành “Ước pháp lâm thời”, thành lập Trung Hoa Dân Quốc, nhưng thành quả cách mạng này đă bị nhóm quân phiệt cướp mất. Năm 1912, Tôn Dật Tiên biến Trung Hoa Cách Mạng Đồng Minh Hội thành Quốc Dân Cách Mạng Đảng, sau đổi thành Trung Hoa Quốc Dân Đảng để tranh đấu bảo vệ “ước pháp” của cách mạng và thực hiện Chủ Nghĩa Tam Dân.
Về tương quan với chính quyền, Tôn Dật Tiên chủ trương “dĩ đảng trị quốc”, tức lấy đảng trị nước. Tuy nhiên, Quốc Dân Đẳng không kiểm soát chính phủ chặt chẽ như Đảng Cộng Sản sau này. Giữa Đảng và Chính Phủ có Chánh Trị Hội Nghị để trao đổi. Các đảng bộ không trực tiếp can dự vào các công việc của chính quyền, nhưng có quyến giám sát, yêu cầu giải thích hay đưa ra những đề nghị thay đổi, và tŕnh lên Chấp Hành Ủy Viên Hội cấp trên xin với cơ quan chính phủ cấp trên biện lư. Nhưng sự nghiệp chưa thành th́ Tôn Dật Tiên qua đời ngày 12.3.1925. Tưởng Giới Thạch lên thay thế và tiếp nối công tŕnh của ông.
Phải đến ngày 23.7.1921, với sự giúp đỡ của Cộng Sản Quốc Tế, Trung Quốc Cộng Sản Đảng mới ra đời và do Trần Độc Tú lănh đạo, lấy chủ nghĩa Mark – Lénine để chỉ đạo hành động. Đến tháng 6 năm năm 1922, Đảng Cộng Sản Trung Quốc quyết định đặt trực thuộc Đệ Tam Quốc Tế (Komintern) và trở thành Phân Bộ Trung Quốc của Pḥng Thông Tin Đệ Tam Quốc Tế.
Khi cướp được chánh quyền, các đảng cộng sản trên toàn thế giới đều bắt chước Tôn Dật Tiên, áp dụng chủ trương “Dĩ đảng trị quốc”, tức “Đảng lănh đạo”. Nhưng chủ trương “Đảng lănh đạo” của Tôn Dật Tiên hoàn toán khác với “Đảng lănh đạo” của các đảng cộng sản.
1.- Chủ trương “Đảng lănh đạo” của Tôn Dật Tiên vẫn chấp nhận sự tồn tại của các đảng đối lập. Ngoài Trung Hoa Quốc Dân Đảng c̣n có ba đảng khác vẫn tiếp tục hoạt động, đó là Đảng Cộng Ḥa, Đảng Dân Chủ và Đảng Thống Nhất. Cả ba đảng về sau họp lại thành Đảng Tiến Bộ do Lương Khải Siêu lănh đạo. Đảng Cộng Sản trái lại, không chấp nhận cảng đảng đối lập thật, chỉ dựng ra các đảng đối lập cuội.
2.- Chủ trương “Đảng lănh đạo” của Tôn Dật Tiên không kiểm soát chính quyền chặt chẽ. Đảng chỉ quan sát và đưa ra khuyến cáo để chính quyền sửa đổi mà thôi. C̣n chủ trương “Đảng lănh đạo” của Đảng Cộng Sản là đảng nắm giữ chính quyền từ trên xuống dưới.
3.- Chủ trương “Đảng lănh đạo” của Tôn Dật Tiên chỉ áp dụng trong thới kỳ quân pháp và ước pháp, tức chỉ áp dụng trong thời kỳ chuyển tiếp. Đến thời kỳ hiến pháp, quyền lănh đạo được trao lại hoàn toàn cho những người được dân bầu. Trái lại, Đảng Cộng Sản đă ôm chặt chính quyền từ thời kỳ quân pháp, qua thời kỳ ước pháp, đến cả thời kỳ hiến pháp, và trở thành một đảng độc tài toàn trị với chiêu bài hoa mỹ là “Đảng lănh đạo, nhà nước quản lư, nhân dân lăm chủ.” T́nh trạng suy thoái và hư nát phát xuất từ đó và trở thanh hết phương cứu chửa.
MIỆNG TAO LÀ PHÁP LUẬT!
Câu chuyện Công An thẩm vấn Luật sư Lê Chí Quang ngày 5.9.2001 được Tiến sĩ Nguyễn Thang Giang kể lại sau đây đă thể hiện một cách rơ nét nhất chế độ “Đảng lănh đạo” của CSVN:
Cuộc thẩm vấn Lê Chí Quang chỉ xoay quanh lá đơn xin thành lập Hội Chống Tham Nhũng của các ông Phạm Quế Dương và Trần Khuê, nhưng anh bị câu lưu suốt 3 tiếng đồng hồ nên rất bất b́nh. Càng bất b́nh hơn khi thái độ của công an Tâm tỏ ra xấc xược và vô văn hóa đến mức không tưởng tượng nổi. Đây là đoạn đối thoại lúc họ chia tay nhau:
- Tao tha cho mày v́ mày ốm yếu chứ không, tao đă bắt mày rồi. Nhưng tao cấm mày ra khỏi nhà.
- Có văn bản pháp luật nào cấm tôi ra khỏi nhà không?
- Tao không cần văn bản nào cả
- Vậy là văn bản miệng à?
- Đúng. Miệng tao là pháp luật.
- Vậy th́ tôi vẫn cứ ra khỏi nhà nếu tôi muốn.
- Tao sẽ bắt mày ngay nếu mày ra khỏi nhà, mày đừng thách tao!
Nói một cách vắn tắt, trong chế độ “Đảng lănh đạo” hiện nay, lệnh của Đảng nằm trên hiến pháp và các văn bản luật pháp đă được nhà nước ban hành. V́ coi pháp luật là hàng thứ yếu, nên những hậu quả sau đây đă xẩy ra:
1.- Dùng nghị quyết của Đảng để quy định, sửa chữa hiến pháp và luật pháp quốc gia, mặc dầu Đảng không có quyền lập hiến, lập pháp hay lập quy. Những văn kiện như thế quá nhiều, không thể kể ra hết được.
2.- Không nắm vững hệ cấp pháp lư (legal hierachy) từ cao đến thấp nên dùng văn kiện cấp dưới để thay thế văn kiện cấp trên. Sau đây là một thí dụ cụ thể: Ngày 14.6.1955, Hồ Chí Minh ban hành Sắc Lệnh số 234/SL về tôn giáo. Sắc Lệnh gồm 5 chương, 16 điều, được áp dụng cho đến đầu năm 1991. Bỗng nhiên ngày ngày 21.3.1991 Hội Đồng Bộ Trưởng ban hành Nghị Định số 69/HĐBT, rồi sau đó là Nghị Định số 26/1999/CP ngày 19/04/1999 để thay thế và hủy bỏ Sắc Lệnh số 234/SL.
Như chúng ta biết, theo hệ cấp pháp lư, Nghi Định có giá trị thấp hơn Sắc Lệnh, vậy mà Hội Đồng Chính Phủ lại dám dùng Nghị Định để hủy bỏ và thay thế Sắc Lệnh. Măi đến năm 2003 Quốc Hội mới ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo số 21/2004/PL.UBTVQH11 ngày 26/11/2003 để điều chỉnh. Những chuyện nghịch đời như vậy quá nhiều.
3.- Không phân biệt được quyền lập pháp và quyền lập quy. Quyền lập pháp và quyền lập quy là những khái niệm sơ đảng được dạy ở năm thứ nhất của trường luật. Quyền lập pháp là quyền làm ra luật, c̣n quyền lập quy là quyền ấn định thể thức thi hành luật. Văn kiện lập pháp được tiếng Anh gọi là Statute và văn kiện lập quy được gọi là Regulation. Văn kiện lập pháp ở Việt Nam thường được gọi là Dụ, Luật, Sắc Luật hay Pháp Lệnh. Văn kiện lập quy thường được thực hiện dưới h́nh thức Sắc Lệnh, Nghị Định hay Quyết Định. Học lư và án lệ xác định rơ phạm vi nào thuộc quyền lập pháp, phạm vi nào thuộc quyền lập quy, nhưng nhà cầm quyền Việt Nam không cần biết những quy định đó, khi nào muốn ra Pháp Lệnh là ra, khi nào thích làm Nghị Định th́ làm. Thí dụ vấn đề quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo, là vấn đề thuộc quyền lập pháp, nhưng Hội Đồng Bộ Trưởng lại dùng Nghị Định để ấn định như đă nói trên.
4.- Văn kiện luật pháp chỏi nhau: Tờ Thanh Niên ngày 18.8.2006 có viết: Chuyện "chỏi" nhau giữa luật, nghị định và các văn bản hướng dẫn không phải là hiếm và đă được nhắc nhở rất nhiều lần. Tuy nhiên hiện nay, việc "chỏi" nhau giữa Luật Nhà ở và Thông tư 04 của Liên bộ (Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên - Môi trường) đang gây ra t́nh trạng dở khóc dở cười cho cả doanh nghiệp (DN) kinh doanh nhà ở và các pḥng công chứng.
Theo quy định tại điều 93, khoản 3, mục b Luật Nhà ở, trong trường hợp bên bán, bên cho thuê nhà ở là tổ chức có chức năng kinh doanh nhà ở th́ hợp đồng về nhà ở không cần chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của UBND xă đối với nhà ở tại nông thôn. Tuy nhiên, tại Thông tư số 04 có hiệu lực từ ngày 3.8.2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên - Môi trường về "Hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng văn bản thực hiện quyền lợi của người sử dụng đất" lại quy định "Hợp đồng, văn bản về bất động sản mà bên có bất động sản là tổ chức trong nước, người VN định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài th́ công chứng tại pḥng công chứng". Luật quy định một đằng, thông tư hướng dẫn một nẻo khiến cho các DN kinh doanh nhà ở và các pḥng công chứng đang gặp khó khăn v́ không biết nên làm theo luật hay theo thông tư.
4.- Không phân biệt được thẩm quyền và chức năng của cơ quan tư pháp: Điều 126 Bộ Luật Tố Tụng H́nh Sự của Việt Nam cho phép Công An được quyền khởi tố các bị can. Điều này quy định như sau: “Khi có đủ căn cứ để xác định một người đă thực hiện hành vi phạm tội th́ cơ quan điều tra có quyền ra quyết định khởi tố bị can.”
Như chúng ta đă biết, trên nguyên tắc, các công an hay cảnh sát tư pháp (có tuyên thệ trước ṭa) chỉ là những người phụ tá pháp lư, tức giúp cơ quan tư pháp mở các cuộc điều tra và t́m bắt thủ phạm. Những tài liệu họ thu thập được cũng như những biên bản họ lập đều chỉ được coi là những tài liệu hay những thông tin để giúp ṭa xử lư biến cố xẩy ra. Những tài liệu đó chỉ được coi là có giá trị cho đến khi có phản chứng. Khi điều tra, nếu phải thực hiện những hành vi xâm phạm quyền công dân, công an hay cảnh sát tư pháp phải xin lệnh ṭa.
Trước khi quyết định có truy tố bị can hay không, và nếu truy tố, sẽ phải truy tố về tội danh ǵ, công tố viện hay thẩm phán phải lấy lời khai của bị can và nếu cần phải đưa bị can ra trước một phiên ṭa điều trần để quyết định. Nói một cách vắn tắt, công an hay cảnh sát tư pháp chỉ là những viên chức phụ tá pháp lư, không thể trao quyền truy tố cho họ được. Trao quyền như vậy là thiết lập chế độ công an trị và biến công an thành một kẻ vừa đá bóng vừa thổi c̣i. Chuyện đó không thể chấp nhận được.
5.- Biến ṭa án và thẩm phán thành công cụ bảo vệ chế độ chứ không phải bảo vệ công lư: Điều 1 Luật số 33/2002/QH10 ngày 2.4.2002 về tổ chức ṭa án nhân dân đ̣i hỏi trong phạm vi chức năng của ḿnh, Toà án có nhiệm vụ “bảo vệ chế độ xă hội chủ nghĩa”.
Điều 23 của Luật số 02/2002/PL-UBTVQH11 ngày 4.10.2002 về thẩm phán và hội thẩm toà án nhân dân có quy định: “Trong trường hợp cần thiết, người công tác trong ngành Toà án nhân dân hoặc người do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền điều động đến công tác tại ngành Toà án nhân dân tuy chưa có đủ thời gian làm Thẩm phán Toà án nhân dân cấp dưới hoặc chưa có đủ thời gian làm công tác pháp luật, nhưng có đủ các tiêu chuẩn khác quy định tại Điều 20 hoặc Điều 21 hoặc Điều 22 của Pháp lệnh này, th́ có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện hoặc Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.”
Như chúng tôi đă nói nhiều lần, luật là một ngành rất phức tạp và càng ngày càng trở nên phức tạp hơn. Trong thời phong kiến, muốn được cử làm Án sát, phải đậu ít nhất cử nhân. Dưới thời Pháp thuộc và VNCH, muốn làm luật sư phải học 4 năm cử nhân rồi đi tập sự với một văn pḥng luật sư ít nhất 3 năm mới được xin thi làm luật sư thiệt thọ. Thi ba lần mà không đậu, phải bỏ nghề. Ở Mỹ, sau khi học xong 4 năm cử nhân luật và thi vào đậu Luật Sư Đoàn th́ chỉ có thể ra làm về đụng xe hay ly dị mà thôi. Muốn làm những vụ khó hơn, phải đi làm cho các Law Firm ít nhất là hai năm để học nghề mới có thể ra mở văn pḥng độc lập được.
Ấy thế mà ở Việt Nam, chỉ cần có tŕnh độ khoảng lớp 8, không cần học luật ngày nào, được đưa vào một trường pháp lư dạy qua loa về hỏi cung và gơ búa là được cho làm thẩm phán ngồi xét xử. Mọi việc trước đây đă do Ban Nội Chính và Ban Hướng Án lo hết rồi, chỉ cần biết đọc án là được. Với một chế đô tư pháp như thế, không cần những người có học thức và biết luật, chỉ cần những người biết tuân lệnh. Nói cách khác, người làm thẩm phán phải “Hồng” hơn “Chuyên”.
Ngày nay chế độ tư pháp có cải tiến, nhưng “Hồng” vẫn được coi trọng hơn “Chuyên”. Hàng ngàn người tốt nghiệp cử nhân luật ra phải đi buôn, đi làm áp-phe, làm cho các hăng ngoại quốc, c̣n cơ quan tư pháp vẫn tiếp tục tuyển chọn những người do “tổ chức có thẩm quyền điều động đến công tác tại ngành Toà án nhân dân” mặc dầu “chưa có đủ thời gian làm công tác pháp luật” để làm “Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện hoặc Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao”!
Ban Bí Thư Trung Ương Đảng đă ban hành Chỉ thị số 34 - TC/TW ngày 18-3-1994 về "Sự lănh đạo của Đảng đối với việc tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán Toà án nhân dân, Thẩm phán Toà án quân sự các cấp" đă dành quyền tuyển chọn thẩm phán cho các Đảng bộ để bảo đảm có những thẩm phán “Hồng” hơn “Chuyên”.
Ngày 14.10.2006 vừa qua, trong cuộc phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do, Luật sư Bùi Quang Nghiêm, Phó chủ nhiệm đ̣an Luật sư thành phố Sài G̣n đă cho biết như sau: “Thẩm phán mặc dù trong tay có những công cụ pháp luật rất rơ ràng nhưng những thư tay, những chỉ đạo của chính quyền làm cho thẩm phán xét xủ không đúng luật.”
Về vấn đề đào tạo luật sư, Luật sư Phạm Thị Vạn Thanh thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng cho rằng có nhiều cử nhân luật ra trường không nắm vững những khái niệm cơ bản của luật pháp. Nguyên do là do việc đào tạo tại trường Luật vẫn c̣n nhiều điều không hợp lư dẫn đến t́nh trạng kiến thức cũng như khả năng của sinh viên tốt nghiệp thấp.
Phải nắm được các quy định về tổ chức ṭa án Việt Nam hiện nay như vậy chúng ta mới hiểu được tại sao ông Nguyễn Văn Hiện, Chánh Án Ṭa Án Nhân Dân Tối Cao, được cử ra điều trần trước Quốc Hội, lại có tŕnh độ pháp lư yếu kém đến mức như vậy. Ông ta đă đ̣i buộc "Bị can bị cáo dưới góc độ của người công dân tốt th́ dù có vi phạm pháp luật cũng phải thành khẩn khai báo!"
Tôi nhớ khi c̣n ở Việt Nam, mỗi khi có một vụ án khá lớn, tôi thường đến Ṭa Sài G̣n nghe xem thiên hạn làm ăn như thế nào. Tôi thấy trên ṭa giống hệt một màn tuồng cải lương, ở dưới mấy anh luật sư và người xem kháo nhau: “Thằng cha đó biết ǵ mà xử? Chỉ đớp như máy!”
Ngày nay đọc báo trong nước th́ được biết nhà chức trách đă phát hiện nhiều thẩm phán dùng chứng chỉ lớp 8 hay lớp 10 giả. C̣n chuyện xử sai và ăn hối lộ th́ hết biết. Chúng tôi chưa từng thấy tại quốc gia nào trên thế giới, cơ quan tư pháp phải lập ra “thủ tục giám đốc thẩm” để xét lại những sự vi phạm luật pháp nghiêm trọng trong việc xử án. Chỉ Việt Nam mới phải làm như vậy v́ số vụ xử sai quá nhiều. Ông Nguyễn Văn Hiện cho Quốc Hội biết trong năm 2006 vẫn c̣n 2.584 bản án, quyết định bị hủy để giải quyết lại; 9.486 bản án, quyết định của ṭa cấp sơ thẩm bị sửa, và 1.300 vụ án quá hạn luật định, chủ yếu là ở phía Nam, riêng Sài G̣n 800 vụ. Trong số bản án bị sai, sửa, nguyên nhân chủ quan chiếm đến 30%.
Mới đây, thông tấn xă AFP cho hay hôm 22.2.2007, Ṭa án Nhân dân tỉnh Lâm Đồng đă ra quyết định tạm đ́nh chỉ công tác đối với Thẩm phán Nguyễn Thanh Hải v́ đă có hành vi nhận hối lộ. Ông này đă bị khởi tố cùng Luật sư Lưu Đ́nh Nghĩa, sau khi hai ông bị bắt quả tang đang nhận tiền chạy án. Luật sư Nghĩa đă nhận tội, c̣n Thẩm phán Hải vẫn cho ḿnh vô tội.
Khi làm Thẩm phán tại huyện Di Linh, Luật sư Nghĩa đă bị dân chúng tố cáo nhiều lần nên đă xin nghỉ việc, sau chuyển sang hành nghề Luật sư. C̣n Thẩm phán Hải cũng cũng từng bị kỷ luật khi công tác ở ṭa cấp huyện.
Ông Bùi Thanh Long Chánh án của Ṭa án Nhân dân tỉnh Lâm Đồng, cho hay có nhiều thông tin cho biết có những vị Thẩm phán ṭa Lâm Đồng liên hệ với Luật sư nhận tiền chạy án, nói có chia cho ông và bà Điệp, Phó chánh án.
Ông Chánh án Bùi Thanh Long khẳng định có lẽ bọn xấu mượn danh ông để trục lợi, và ông mong cơ quan điều tra làm rơ các vụ việc đó.
Có Luật sư đă cho đài BBC biết rằng thẩm phán không nắm vững về luật pháp và đa số chỉ lo kiếm ăn nên căi chẳng ích lợi ǵ. Đa số các luật sư, thay v́ tranh căi về luật lư, lại chỉ làm trung gian giữ thân chủ và chánh án để lo chay án. Tin về vụ Luật sư Lưu Đ́nh Nghĩa và Thẩm phán Nguyễn Thanh Hải bị bắt v́ chạy án vừa nói là một trong những vụ điển h́nh.
CON ĐƯỜNG ĐỂ ĐI TỚI
Một vài phân tích sơ khởi trên đây cho thấy nguyên nhân chính đưa đến những bế tác hiện nay của chế độ, là chủ trương “dĩ đảng trị quốc” hay “Đang lănh đạo” hay “miệng tao là pháp luật”. Muốn mở một lối thông để đi tới, cái trước tiên là phải chấm dứt chủ trương “Đảng lănh đạo.” Phải nhổ cái chốt này mới có lối đi thông qua. Chưa nhổ cái chốt này, bế tắc vẫn c̣n tồn tại.
Tú Gàn