Mỗi năm, đến ngày 30 tháng tư, người Việt đấu tranh
thường nh́n lại quá khứ để t́m hiểu tại sao miền Nam
Việt Nam đă bị mất một cách quá mau chóng và chúng
ta đă rút ra được bài học nào qua biến cố đau thương
này.
Gần như đa số đều đồng ư rằng miền Nam Việt Nam đă
bị mất một cách quá nhanh chóng, trước tiên là do
trách nhiệm của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, một
người đă lănh đạo quốc gia theo cảm tính, không cần
biết Đồng Minh và địch đang làm ǵ. Cho đến khi đă
tháo chạy qua Anh quốc rồi Hoa Kỳ, Tướng Thiệu vẫn
chưa nhận ra được những sai lầm của ḿnh và tưởng
rằng ông sẽ c̣n được Mỹ đưa ra đóng một vài tṛ nào
đó trong việc h́nh thành một chế độ chuyển tiếp tại
Việt Nam!
Các tài liệu của CIA và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ được
giải mă cho thấy tiến tŕnh làm mất miền Nam của
Tướng Thiệu được khỏi sự từ năm 1963, khi ông được
CIA dùng để đánh lừa và lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm. Sự nghiệp của ông đă đi lên từ đó, nhưng cũng
từ đó, miền Nam bị đưa vào một con đường định mệnh
khắc nghiệt. Những tài liệu được tiết lộ này sẽ làm
bà Nguyễn Thị Mai Anh, vợ của Tướng Thiệu, và các
tay chân thân cận của Tướng Thiệu buồn, những sự
thật lịch sử không thể che giấu được.
Trong một báo cáo mật gởi đi lúc 2 giờ chiều ngày
7.9.1963, Đại Sứ Cabot Lodge đă tường tŕnh vối Bộ
Ngoại Giao về cuộc họp giữa các viên chức Hoa Kỳ với
ông Ngô Đ́nh Nhu từ 6 đến 8 giờ 15 chiều thứ sáu
6.9.1963, trong cuộc họp này, ông Nhu có nói một câu
như sau: “Nếu tôi đi,
Quân Lực sẽ nắm chính phủ. Bọn cóc nhái của CIA và
USIS sẽ phá hoại nỗ lực chiến tranh”.
Nguyên văn câu đó như sau: “If
I leave, the Armed Forces will take over the
government. Ce grenouillards (which I translate as
“these shemers” or “these contriver”) of the CIA and
USIS will sabotage the war effort.” (FRUSS
1961 – 1963, Volume IV, tr. 131).
Trong một báo cáo mật khác gởi cho Bộ Ngoại Giao Hoa
Kỳ lúc 6 giờ 39 phút chiều 29.10.1963 (3 ngày
trước cuộc đảo chánh) Đại Sứ Lodge có báo cáo
rằng hôm 25.10.1963, ông Trần Trung Dung, cựu Phụ Tá
Bộ Quốc Pḥng đă nói với các viên chức CIA về khả
năng và ư đồ của các Tướng Lănh. Ông ta
coi đa số các Tướng Lănh
không ǵ khác hơn là “các trung sĩ mang quân phục
Tướng Lănh” (He considers majority of
General no more than sergeants in General uniforms).
Theo ông, mặc dầu chế độ cần được thay thế, nhưng
các Tướng Lănh thiếu kinh nghiệm chính trị cần thiết
để diều hành chính phủ. (FRUSS, 1961 – 1963, Volume
IV, tr. 357 – 358).
Những nhận định của ông Ngô Đ́nh Nhu và ông Trần
Trung Dung đă trở thành hiện thực và miền Nam đă mất.
Người Mỹ cũng thừa biết các tướng Việt Nam như Dương
Văn Minh, Trần Văn Đôn, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim,
Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đ́nh, Trần Thiện Khiêm, Đỗ
Mậu, Nguyễn Văn Thiệu, v.v., chỉ là “bọn cóc nhái”
của CIA hay là “những trung sĩ mang quân phục
Tướng Lănh”, nhưng họ quyết định xài, v́ chỉ có
những người như thế mới để Mỹ điều khiẻn và quyết
định hoàn toàn số phận của miền Nam Việt Nam.
Trong tác phẩm “President
Kennedy, Profile of Power”, sử gia
Richard Reeves đă ghi lại như sau:
“Người
Mỹ, v́ các mục tiêu thực tế, đă cai quản đất nước.
Các tướng lănh Việt Nam cười trước các máy quay phim,
nhưng lo lắng và chờ đợi tiền và chỉ thị từ
Washington, thủ đô mới của miền Nam Việt Nam.”
(trang 651)
Trong đám “cóc nhái” của CIA, có hai tướng được CIA
tín nhiệm nhất, được xử dụng cho đền ngày miền Nam
sụp đổ và được đưa lên máy bay đặc biệt tháo chạy
với vô số vàng bạc đem theo để sống vinh thân ph́ da
ở hải ngoại, đó là Tướng Trần Thiện Khiêm và Tướng
Nguyễn Văn Thiệu.
1.- Trần Thiện Khiêm:
Tốt nghiệp Chuẩn Úy Hạ Sĩ Quan cao cấp trường Viễn
Đông khóa 1946 – 1947 và được đi tu nghiệp khóa Chỉ
Huy và Tham Mưu tại Command and General Staff
College ở Fort Leavenworth, Kansas, tại Hoa Kỳ khóa
1957 – 1958. Nhiều người tin rằng Đại Tá Khiêm đă
được tuyển dụng và huấn luyện làm nhân viên CIA
trong thời gian học ở trường này.
Khi cuộc đảo chánh ngày 11.11.1960 xảy ra, Đại Tá
Khiêm là Tư Lệnh Sư Đoàn 21 kiêm Quyền Tư Lệnh Quân
Khu 5, đă đưa quân về dẹp cuộc đảo chánh này. Tướng
Trần Văn Đôn tiết lộ rằng khi đem quân về Sài G̣n,
Đại Tá Khiêm có tiếp xúc với Đại Sứ Mỹ Durbrow và
Tướng McGarr, người cầm đầu cơ quan MACV. Hai viên
chức này không hoàn toàn ủng hộ ông Diệm, nhưng đă
khuyên không nên lật đổ ông Diệm, chỉ cho ông ấy một
bài học như vậy là đủ rồi.
Cả ông Diệm lẫn ông Nhu không hay biết Đại Tá Khiêm
đă làm việc cho CIA, nên với “công trạng” nói trên,
ngày 6.12.1962, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă kư Sắc
Lệnh thăng Đại Tá Khiêm lên Thiếu Tướng và giao cho
giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân thay thế Tướng
Nguyễn Khánh vừa được cử đi làm Tư Lệnh Quân Đoàn
II. Tướng Khiêm lại là một đảng viên Đảng Cần Lao
nên rất được ông Nhu và ông Diệm tin tưởng.
Nhưng bản phúc tŕnh mang số OCI No. 2703/63 ngày
28.8.1963 của CIA cho biết Tướng Khiêm bất măn kể từ
khi có sự bổ nhiệm mới này, v́ cũng như Khánh, Khiêm
muốn đi làm Tư Lệnh Quân Đoàn để có nhiều quyền hành
và quyền lợi hơn. Ông Diệm không biết chuyện đó, cứ
tưởng đă làm thỏa măn Tướng Khiêm và tin tưởng Tướng
Khiêm, do đó khi muốn đảo chánh lật đổ ông Diệm, CIA
đă dùng Khiêm đứng ra tổ chức và điều hành cuộc đảo
chánh mà cả ông Diệm lẫn ông Nhu không có chút nghi
ngờ nào.
2.- Nguyễn Văn Thiệu:
Sinh ngày 5.4.1923 tại Ninh Thuận. Tốt nghiệp Khóa
Bảo Đại (Khóa I) 1948 – 1949, Trường Sĩ Quan Đập Đá
ở Huế (sau này chuyển thành trường Vơ Bị Đà Lạt),
với cấp bậc Thiếu Úy.
Năm 1951, qua sự mai mối của thân phụ của Chuẩn
Tướng Lê Văn Tư, Nguyễn Văn Thiệu theo đạo Công Giáo
để lấy cô Nguyễn Thị Mai-Anh ở Mỹ Tho, con một gia
đ́nh Công Giáo danh giá. Khi theo đạo, Nguyễn Văn
Thiệu lấy tên thánh là Martino. Cô Mai-Anh sinh năm
1930, học trường bà phước ở Mỹ Tho. Hai ông bà có 4
người con.
Đại Tá Thiệu cũng đă được cho đi học Khóa Chỉ Huy và
Tham Mưu tại Command and General Staff College ở
Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ, khóa 1957 – 1958
với Trần Thiện Khiêm. Nhiều người cũng tin rằng Đại
Tá Thiệu đă được tuyển mộ làm nhân viên CIA và đă
được huấn luyện tại đây như Đại Tá Khiêm.
Năm 1959 Đại Tá Thiệu lại được đi tu nghiệp tại
Okinawa, Nhật Bản, và năm 1960 trở lại Hoa Kỳ học về
vơ khí mới ở Fort Bliss.
HÀNH TR̀NH CỦA KẺ PHẢN
BỘI
Năm 1962, có lẽ do sự sắp xếp của CIA, Đại Tá Thiệu
đă xin gia nhập Đảng Cần Lao để được ông Nhu tin
tưởng hơn. Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng
Đặc Biệt và là Quân Ủy Trưởng của Đảng Cần Lao,
nhưng lại không có một ư niệm căn bản về an ninh và
t́nh báo, nên đă đón nhận Đại Tá Thiệu một cách hoan
hỷ. Như vậy, cả hai tên “cóc nhái” lớn nhất của CIA
đều đă trở thành đảng viên Đảng Cần Lao.
Trong kế hoạch xây dựng Ấp Chiến Lược, Đại Tá Thiệu
đă có nhiều ư kiến rất xuất sắc nên được ông Nhu
khen ngợi. Sau đó, Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu được cử
đi làm Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh ở Huế. Đầu năm
1963, khi thấy t́nh h́nh lộn xộn, Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm đă đưa Đại Tá Thiệu về làm Tư Lệnh Sư Đoàn
5 đóng ở Biên Ḥa thay thế Đại Tá Nguyễn Đức Thắng,
mặc dầu về quân sự Đại Tá Thắng có nhiều kinh nghiệm
hơn Đại Tá Thiệu nhiều. Đây cũng là lư do đă khiến
Đại Tá Thắng bất măn. Do đó, khi được phe đảo chánh
móc nối, Đại Tá Thắng nhận lời ngay.
Đại Tá Thiệu được ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu trao nhiệm
vụ giải cứu thủ đô khi có đảo chánh. Ông Nhu không
hề hay biết Đại Tá Thiệu là người của CIA.
Bản báo cáo ngày 29.10.1963 của Hilsman, Phụ Tá Bộ
Ngoại Giao về Viễn Đông Vụ, cho biết lực lượng đứng
về phe đảo chánh lúc đó gồm có:
(1) Hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến.
(2) Không Quân,
(3) Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung của Tướng Mai
Hữu Xuân.
(4) Sư Đoàn 5 ở Biên Ḥa, cách Sài G̣n khoảng 20 dặm.
V́ biết rơ hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến không
thể khống chế Liên Binh Pḥng Vệ Phủ Tổng Thống,
Tướng Trần Văn Đôn đă liên lạc với Thiếu Tá Vĩnh Lộc
chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp ở Vũng
Tàu, yêu cầu đưa Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù đang được thụ
huấn tại đây và một đơn vị thiết giáp do Thiếu Tá
Nguyễn Văn Toàn và Đại Tá Phan Ḥa Hiệp chỉ huy, về
Sài G̣n tiếp ứng khi cuộc đảo chánh bắt đầu.
Lúc đó ở Sài G̣n, ngoài Liên Binh Pḥng Vệ Phủ Tổng
Thống gồm khoảng 2.500 quân với vơ khí tối tân, c̣n
có khoảng 1.840 quân thuộc Lực Lượng Đặc Biệt rất
thiện chiến, khó đánh thắng được. Vậy vấn đề là làm
sao di chuyển được Lực Lượng Đặc Biệt ra khỏi Sài
G̣n và đưa Sư Đoàn 5 của Đại Tá Thiệu và thay.
Một tuần trước ngày đảo chánh xẩy ra, Tướng Trần Văn
Đôn đă vào tŕnh Tổng Thống Diệm rằng các tin t́nh
báo cho biết một số đơn vị Việt Cộng đă xâm nhập vào
vùng ven đô. Đặc biệt tại khu Hố Ḅ ở Củ Chi, Gia
Định, phía Tây và Tây Bắc Sài G̣n. Tướng Đôn xin
Tổng Thống Điệm cho xử dụng Lực Lượng Đặc Biệt và Sư
Đoàn 5 để mở cuộc hành quân tảo thanh Việt Cộng.
Ngày 31.10.1963, Tổng Thống Diệm đă kư Sự Vụ Lệnh
cho phép mở cuộc hành quân tảo thanh Việt Cộng ở khu
Hố Ḅ.
Việc thực hiện kế hoạch đánh lừa ông Diệm này khá
tinh vi. Chúng tôi chỉ tóm lược các nèt chính: Có Sự
Vụ Lệnh nói trên, Đại Tá Lê Quang Tung được lệnh xử
dụng Lực Lượng Đặc Biệt mở cuộc hành quân giải tỏa
khu Hố Ḅ, tức đem Lực Lượng Đặc Biệt ra khỏi Thủ Đô.
Trong khi đó Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu được chỉ thị
đưa Sư Đoàn 5 về Sài G̣n mở “mở cuộc hành quân
ven đô”
với cái tên là “Cuộc Hành Quân Rừng Sát”.
Theo kế hoạch, Trung Đoàn 7 sẽ về đóng tại Hàng Xanh,
Trung Đoàn 8 đóng tại cầu B́nh Lợi và Trung Đoàn 9
đóng ở cầu Bến Lức. Đây là lực lượng chính của quân
đảo chánh.
Sáng ngày 1.11.1963, khi Đại Sứ Lodge đưa Đô Đốc
Felt, Tư Lệnh Thái B́nh Dương, vào Dinh Gia Long
thăm ông Diệm để cầm chân ông Diệm cho các tướng họp
làm đảo chánh, Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu được CIA giao
cho vào gặp ông Nhu để cầm chân ông Nhu. Đại Tá
Thiệu đă tŕnh bày cho ông Nhu biết Sư Đoàn 5 đang
mở cuộc hành quân ven đô để tảo thanh Việt Cộng. Ông
Nhu thấy yên tâm khi để cho Lực Lượng Đặc Biệt rời
khỏi Sài G̣n, v́ đă có Sư Đoàn 5 của Đại Tá Thiệu
“bảo vệ” thủ đô!
Khi cuộc đảo chánh xẩy ra, Trung Tá Lê Như Hùng,
Tham Mưu Trưởng Biệt Bộ tại Phủ Tổng Thống, gọi cho
Đại Tá Thiệu ở Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5. Nơi đây cho
biết Đại Tá Thiệu đang đi hành quân. Trong khi đó,
Tướng Trần Văn Đôn ra lệnh cho Đại Tá Thiệu tấn công
vào Thành Cộng Ḥa, nhưng Đại Tá Thiệu trả lời chưa
chuyển quân tới Sài G̣n được, mặc dầu lúc đó Trung
Đoàn 7 đang có mặt trên xa lộ Biên Ḥa. Đại Tá Thiệu
muốn xem t́nh h́nh như thế nào rồi mới quyết định
hành động. Nếu quân đảo chánh thua, ông sẽ biến Sư
Đoàn 5 thành lực lượng giải cứu chính phủ. Nếu quân
đảo chánh thắng, ông sẽ nhảy vào ăn có để lập công.
Đàng nào ông cũng được lợi.
Cho đến đêm mồng 1 rạng ngày 2.2.1963, Tiểu Đoàn 1
Thủy Quân Lục Chiến của Đại Úy Trần Văn Nhựt và Tiểu
Đoàn 6 Nhảy Dù từ Trung Tâm Vạn Kiếp đến, vẫn không
phá vỡ được Thành Cộng Ḥa, Tướng Đôn đă ra lệnh cho
Đại Tá Thiệu phải cho Sư Đoàn 5 yểm trợ ngay. Đại Tá
Thiệu đă ra lệnh cho Trung Đoàn 7 do Thiếu Tá Vũ
Ngọc Tuấn chỉ huy, Đại Đội 5 Thám Báo và một pháo
đội hỗn hợp mở cuộc tấn công yểm trợ.
Chiều 2.11.1963, khi ông Diệm và ông Nhu đă bị giết,
Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm đă đích thân lên Bộ Tư
Lệnh Sư Đoàn 5 ở Biên Ḥa gắn lon Thiếu Tướng ngay
cho Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu.
Sau cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963, CIA để cho nhóm
được coi là thân Pháp như Dương Văn Minh, Lê Văn
Kim, Mai Hũu Xuân... điều hành chính phủ lâm thời.
Tướng Mai Hữu Xuân được Tướng Dương Văn Minh giao
cho giữ cùng một lúc ba chức vụ quan trọng nhất là
Đô Trưởng Sài G̣n, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia
và Giám Đốc Trung Ương T́nh Báo. Với quyền lực rộng
rải này, Mai Hữu Xuân đă cho đàn em đi lùng bắt
những viên chức cao cấp của chế độ cũ và những thành
phần bị coi là kinh tài cho Đảng Cần Lao để khảo của.
Mai Hữu Xuân c̣n thương lượng với Việt Cộng để lấy
tiền và phóng thích các cán bộ cao cấp của họ.
Trường hợp của Mười Hương, trùm điệp báo tại miền
Nam của Hà Nội là một thí dụ điển h́nh.
Mỹ để cho t́nh h́nh Miền Nam suy sụp rồi ngày
30.1.1964, sai bọn cóc nhái của ḿnh là Trần Thiện
Khiêm và Nguyễn Khánh, lật đổ nhóm Dương Văn Minh và
lên nắm chính quyền.
Theo kế hoạch của CIA, Tướng Khánh sẽ làm Quốc
Trưởng bù nh́n, c̣n Tướng Trần Thiện Khiêm làm Thủ
Tướng nắm thực quyền. Nhưng Tướng Khánh không muốn
làm Quốc Trưởng bù nh́n, nên đă kiêm luôn Thủ Tướng
và đẩy Tướng Khiêm đi ra ngoại quốc.
Sự lộng hành của Tướng Khánh đă gây ra những cuộc
rối loạn tại miền Nam, khiến phong trào Phật Giáo
nổi lên cướp chính quyền và đ̣i chấm dứt chiến tranh.
Hôm 20.12.1964, Đại Sứ Hoa Kỳ tại miền Nam là Tướng
Maxwell Taylor đă gọi Tướng Khánh và một số tướng
trẻ vào ăn cơm tại nhà Tướng Westmoreland. Trong
buổi ăn, ông đă “xát xà pḥng” như sau: “Đêm
nay tại nhà Tướng Westmoreland, tôi nói rơ cho các
anh rằng Hoa Kỳ không c̣n muốn dung thứ cho những âm
mưu gây ra bất ổn nữa.”
Sáng hôm sau, Tướng Khánh nói với báo chí:
“Thà thanh bạch trong độc
lập c̣n hơn tủi nhục trong nô lệ ngoại bang.”!
Nhưng rồi Tướng Khánh cũng phải bị thay thế. Ngày
20.2.1965 Hội Đồng Quân Lực họp và quyết định cử
Tướng Trần Văn Minh làm Tư Lệnh Quân Lực VNCH thay
thề Tướng Khánh. Ngày 11.2.1965 Tướng Khánh bị đưa
đi làm Đại Sứ Lưu Động.
Nhưng lúc này, CIA cũng chưa muốn đưa gà Mỹ ra nắm
các chức vụ then chốt, v́ t́nh h́nh c̣n quá lộn xộn.
CIA quyết định dùng một con bài thí để dọn đường,
đó là Tướng Nguyễn Cao Kỳ.
Ngày 14.6.1965, Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia được thành
lập do Tướng Thiệu làm Chủ Tịch, nhưng mọi quyền
hành lại nằm trong tay Tướng Nguyễn Cao Kỳ, phụ
trách về Hành Pháp. Ngày 19,6,1965, ban hành Ước
Pháp mới. Các tướng Nguyễn Văn Thiệu, Phạm Xuân
Chiểu và Nguyễn Cao Kỳ họp thành Ủy Ban Lănh Đạo
Quốc Gia. Riêng Tướng Nguyễn Cao Kỳ phụ trách Ủy Ban
Hành Pháp Trung Ướng, tức chính phủ. Nhiệm vụ chính
của Tướng Kỳ là ổn định t́nh h́nh, trong đó việc dẹp
loạn quân Phật Giáo là chính.
Ngày 3.9.1967 bầu cử Tổng Thống VNCH, Tướng Thiệu và
Tướng Kỳ bị ép đứng chung cùng một liên danh. Ngày
5.9.1967, Liên Danh Thiệu – Kỳ được tuyên bố đắc cử,
Tướng Thiệu làm Tổng Thống, c̣n Tướng Kỳ làm Phó
Tổng Thống. Nhưng sau đó, vai tṛ của Tướng Kỳ bị
làm cho yếu dần. Tháng 5 năm năm 1968, Tướng
Khiêm được đưa về làm Tổng Trưởng Quốc Pḥng.
Tháng 6 năm 1968, báo Mỹ cho Tướng Kỳ “đi buôn thuộc
phiện lậu”. Thế là đời Tướng Kỳ bắt đầu đi đong.
Tháng 9 năm 1969, Tướng Khiêm trở thành Thủ Tướng.
Thế là hai con gà Mỹ Nguyễn Văn Thiệu và Trần
Thiện Khiêm trở thành Tổng Thống và Thủ Tướng “muôn
năm”, nếu miền Nam không mất. Thành ra “Mưu sự
tại Phật Giáo, thạnh sự tại CIA”!
Mặc dầu được chọn làm gà Mỹ, Tổng Tống Thiệu gần như
không biết chút ǵ về Đồng Minh.
Khi biến cố Tết Mậu Thân xẩy ra, ông đang ở nhà vợ
tại Mỹ Tho. Tướng Kỳ phải lên đài phát thanh báo
động cuộc tấn công của Việt Cộng đang diễn ra và ra
lệnh cho quân đội chiến đấu chống lại Cộng Sản.
Các nhà b́nh luận theo cảm tính thường cho rằng t́nh
báo VNCH và Hoa Kỳ không hay biết ǵ kế hoạch tấn
công Tết Mậu Thân của Việt Cộng nên để xẩy ra những
thiệt hại đáng kể. Hoa Kỳ cũng không ước lượng chính
xác các thiệt hại nặng của Việt Cộng trong Tết Mậu
Thân để có biện pháp thanh toán. Nhưng nói như vậy
là lầm. Các tài liệu cho thấy các cấp chỉ huy của
Hoa Kỳ đă được thông báo khá nhiều tin tức về Việt
Cộng sẽ tấn công, như cứ phớt lờ đi v́ hai mục tiêu:
1.- Mục tiêu thứ nhất:
Để cho Việt Cộng xuất đầu lộ diện rồi diệt, làm tiêu
hao lực lượng của địch, đẩy Hà Hội đến chỗ phải chấp
nhận một giải pháp chính trị.
Người ta nhớ lại, hôm trước Tết, Sư Đoàn 1 Không Vận
của Hoa Kỳ đă được chuyển từ An Khê ra Huế. Chính sư
đoàn này đă giúp Quân Lực VNCH giải tỏa thành phố
Huế. Theo tài liệu thống kê của Quân Lực VNCH, trong
cuộc tấn công đợt 1, Việt Cộng đă bị tử thương
58.373 tên, và bị bắt 9761 tên. Đây là một con
số thiệt hại quá lớn.
Cái tai hại lớn nhất của VNCH là không khai thác
được các vụ thảm sát ở Huế để đánh động lương tâm
nhân loại. Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đă giao
cho sử gia Phạm Văn Sơn biên soạn một cuốn sách dày
với đầu đề “Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa của
Việt Cộng Mậu Thân 1968”, trong đó chỉ mô tả các
trận đánh với các thắng lợi của quân ta, c̣n phần
nói về thảm sát rất ít, thành ra không có tác dụng
tâm lư như cuốn “The Killing Fields” của Cam-bốt.
2.- Mục tiêu thứ hai:
Nói với dư luận Mỹ rằng không thể thắng được cuộc
chiến Việt Nam và người Mỹ phải rút ra. Trong cuốn
“The
Tet Offensive: Intelligence Failure in War”,
James J. Wirtz đă viết:
“Cuộc
tấn công Tết là một trận đánh quyết định của chiến
tranh Việt Nam, bởi v́ ảnh hưởng sâu rộng của nó đối
với các thái độ của người Mỹ trong việc dính líu đến
Đông Nam Á. Sau Tết, nhiều người Mỹ trở nên bị vỡ
mộng... Đối với công chúng Mỹ và ngay cả các thành
phần của chính quyền, cuộc tấn công Tết chứng minh
rằng sự can thiệp của Hoa Kỳ... đă gây ảnh hưởng
không đáng kể trên ư muốn và khả năng của Việt Cộng
và Bắc Việt.”
Năm 1968 tôi đang ở Mỹ. Sau khi đọc báo Mỹ và đi nói
chuyện với nhiều nhóm, tôi thấy rằng có dấu hiệu cho
thấy Mỹ đang chuẩn bị dư luận để rút quân khỏi Việt
Nam. Khi trở lại Việt Nam, trong một cuộc họp báo
tại Dinh Độc Lập, tôi có báo cho Tổng Thống Thiệu
biết tôi ở Mỹ mới về và được biết Mỹ đang chuẩn bị
rút khỏi Việt Nam. Xin Tổng Thống cho biết chúng ta
sẽ phải làm ǵ. Nhiều người tỏ vẻ ngạc nhiên, c̣n
ông Thiệu nói chính phủ sẽ xem xét vấn đề này.
Ngày 18.7.1968 Tổng Thống Thiệu lên đường qua
Honolulu hội kiến với Tổng Thống Johnson, Khi rới
phi trường Tân Sơn Nhứt, ông nói với các kư giả: “Tôi
không đi Hạ Uy Di để bán đứng đất nước, để nhượng
thêm đất đai, hoặc để chọn một giải pháp liên hiệp
với Cộng Sản.”
Hôi 19.7.1968, khi hội kiến với Tổng Thống Johnson,
ông Johnson cũng chỉ hứa một cách lấy lệ rằng Hoa Kỳ
vẫn ủng hộ VNCH chống xâm lăng và bảo vệ tự do,
Ông Búi Diễm đă được Tổng Thống Thiệu bổ nhiệm làm
Đại Sứ Đặc Mệnh Toàn Quyền tại Hoa Kỳ để t́m hiểu
chính sách của Hoa Kỳ và vận động hậu trường cho
Việt Nam. Nhưng qua cuốn hồi kư của ông, chúng ta
thấy ông chẳng biết ǵ hết.
V́ không nhận ra được chính sách và đường lối của
Hoa Kỳ, nên chính phủ VNCH không nghĩ đến việc t́m
một giải pháp thích hợp với t́nh thế để cứu miền Nam
Việt Nam.
Như chúng tôi đă tŕnh bày nhiều lần, sau khi kư
Hiệp Định Paris năm 1973 và quân Mỹ đă rút khỏi Việt
Nam, Hà Nội đă thiết lập một kế hoạch đánh chiếm
miền Nam như sau:
Tái lập lại quốc lộ 14 do Pháp thiết lập, thường
được gọi là đường Đông Trường Sơn, để chuyển
quân, vơ khí và tiếp liệu vào mật khu B́nh Long và
Phước Long rồi từ đó đánh thẳng vào Sài G̣n, bỏ qua
các tỉnh miền Trung.
Để thức hiện kế hoạch này, Hà Nội phải chiếm ba nơi
bằng mọi giá:
(1) Phước Long làm nơi đổ quân, vũ khí và
tiếp liệu từ Bắc đưa vào.
(2) Cái chốt Thường Đức ở phía tây Đà Nẵng.
Không phá được cái chốt này, không thể đưa quân, vơ
khí và tiếp liệu xuống mật khu Hiệp Đức ở phía tây
Quảng Nam và Quảng Ngăi rồi chuyển lên Kontum.
(3) Cái chốt Đức Lập ở phía tây Ban Mê Thuộc
để mở đường từ Kontum xuống Phước Long.
Thời Pháp, thời Đệ Nhất Cộng Ḥa và thời Mỹ các nhà
lănh đạo quân sự đă quyết định bảo vệ ba yếu điểm
này bằng mọi giá để chận đường xâm nhập của Cộng
quân. Nhưng “các trung sĩ trong quân phục Tướng
Lănh” do Mỹ đưa lên không hề biết được tầm quan
trọng của ba yếu điểm nói trên và kế hoạch của Hà
Nội, nên chẳng những không t́m cách bảo vệ mà c̣n để
cho mất v́ coi ba yếu điểm đó chẳng có ǵ quan trọng!
Tôi nhớ vào khoảng tháng 4 năm 1974, tôi đang ngồi
uống cà phê ở đường Tự Do, Sài G̣n, một người bạn
đền hỏi tôi có muốn đi Đà Nẵng không, có chuyện quan
trọng lắm. Tôi đồng ư. Chỉ ba tiếng đồng hồ sau
chúng tôi đă có mặt tại Đà Nẵng, từ đó chúng tôi
được đưa bằng trực thăng lên Thướng Đức. Thuyết
tŕnh về t́nh h́nh Thường Đức, thuyết tŕnh viên cho
biết bây giờ Cộng quân đă đặt ống dẫn dầu đến A Sao,
A Lưới, ở bên kia đèo Hải Vân. Họ sắp chọc thủng
Thường Đức để đưa dầu xuống mật khu Hiệp Đức ở Quảng
Nam và Quảng Ngăi. Sau đó, chúng tôi được trực thăng
chở đi xem các đường mới Cộng quân đang làm chằng
chịt để tiến quân vào Thường Đức. Chúng tôi hỏi Quân
Đoàn tính sao. Thuyết tŕnh viên cho biết đang đợi
quyết định của Tướng Ngô Quang Trưởng. Muốn giữ
Thường Đức phải có ít nhất một liên đoàn Biệt Động
Quân. Nhưng sau đó tôi nghe nói Tưởng Trưởng chỉ cho
Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân thủ ở đó.
V́ nhu cầu chiến lược, Hà Nội đă huy đợng 3 Sư Đoàn
đặt dưới quyền chỉ huy của Tướng Hoàng Đan để chiếm
Thường Đức. Lúc 8 giờ 30 sáng 7.8.1974, Thượng Đức
hoàn toàn bị thất thủ. Tướng Trưởng ra lệnh cho Sư
Đoàn Dù chiếm lại, nhưng mặc dầu đă có gắng và tổn
thất nặng, Sư Đoàn Dù chỉ chiếm lại được một số đồi
xung quanh.
2.- Đánh chiếm Phước Long
Sư Đoàn 5 biết Cộng quân đang chuẩn bị đánh chiếm
Phước Long từ ba tháng trước. Sư Đoàn đề nghị
đưa hai trung đoàn đến bảo vệ Phước Long. V́ Tổng
Thống Thiệu đă ra lệnh rằng các cuộc hành quân từ
cấp trung đoàn trở lên phải có lệnh của Tổng Thống
(v́ sợ đảo chánh), Bộ Tổng Tham Mưu đă chuyển
đề nghị bảo vệ Phước Long đến Phủ Tổng Thống, nhưng
ông Thiệu cho ngâm ở đó.
Khi địch bắt đầu mở cuộc tấn công vào tỉnh lỵ Phước
Long, Quân Đoàn III lại xin Tổng Thống Thiệu cho
biết quyết định về kế hoạch pḥng thủ Phước Long.
Tổng Thống Thiệu chỉ ra lệnh vắn tắt: “Cho thả
hai đại đội Biệt Kích Dù xuống Phước Long.”
Ngày 6.1.1975, Phước Long hoàn toàn bị thất thủ.
Tướng Dư Quốc Đống có xin Tổng Thống Thiệu cho mượn
Sư Đoàn Dù để phối hợp chiếm lại, nhưng ông Thiệu
trả lời: “Để xem Mỹ nó làm ǵ?”(!)
Ngày 2.3.1975, cơ quan t́nh báo Hoa Kỳ tại Nha Trang
báo cho Tướng Phú biết Cộng Quân sắp đánh Ban Mê
Thuột, nhưng Tướng Phú không tin. Ngày 9.3.1975 khi
Cộng Quân đă tấn công Quận Đức Lập ở phí tây nam Ban
Mê Thuột và các toán thám báo cho biết Cộng quân với
xe tăng đang vây kín Ban Mê Thuột. Tướng Phú họp Bộ
Tư Lệnh Quân Đoàn II và nhận định rằng sau Đức Lập,
địch sẽ tấn công Buôn Hô, cách Ban Mê Thuật khoảng
30 cây số về phía Bắc. Tướng Phú ra lệnh cho Liên
Đoàn 21 Biệt Động Quân đổ xuống Buôn Hô.
Tối 10.3.1975, được tin Việt Cộng đánh vào Ban Mê
Thuột, Tướng Phú vẫn vẫn nghĩ rằng Cộng quân chỉ giả
vờ đánh Ban Mê Thuột và bất thần quay về đánh Pleiku!
Với kế hoạch nói trên, Cộng quân hy vọng trong năm
1976 sẽ đưa óng dầu từ Kontum xuống Phước Long và
năm 1977 có thể tấn công thẳng vào Sài G̣n. Nhưng
nhờ “trung sĩ mặc quân phục Tướng Lănh”
Nguyễn Văn Thiệu không biết ǵ về quân sự, Cộng quân
chiếm miền Nam nhanh hơn.
Tổng Thống Thiệu có hai đặc tính chính: Thứ nhất là
đa nghi. Mắt ông luôn nh́n láo liên. V́ ông đă được
CIA dùng để đánh lừa và lật đổ ông Diệm nên ông rất
sợ bị đảo chánh. Ông ra lệnh khi mở cuộc hành quân
từ cấp trung đoàn trở lên đều phải xin phép Tổng
Thống, thành ra Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH đi chơi
và đi học luật!
Đặc tính thứ hai của ông Thiệu là độc đoán và hành
động theo cảm tính, nhưng khả năng về quân sự và
chính trị quá yếu kém nên đă gây tai họa. Mọi vấn đề
đều có giao cho cấp dưới nghiên cứu và tŕnh bày ư
kiến, nhưng rồi ông vứt đó và hành động theo cảm
tính của ḿnh.
Ông tuyên bố Mỹ không viện trợ nữa th́ ta “đánh
giặc theo kiểu nhà nghèo”. “Kiểu nhà nghèo”
mà ông nói ở đây là thu nhỏ lănh thổ lại. Ông đă mời
Chuẩn Tướng Ted Sarong, một chuyên viên du
kích chiến của Úc, hợp tác với Tướng Đặng Văn Quang
lập kế hoạch bỏ Vùng I và Vùng II và thiết lập một
pḥng tuyến mới từ Tây Ninh đến Nha Trang. Kế hoạch
này được gọi là kế hoạch “Đầu Bé Đít To”
Tôi nhớ năm 1974, khi kế hoạch này được tiết lộ ở
Sài G̣n, các giới đều cho rằng kế hoạch đó không thể
thực hiện v́ các lư do sau đây:
(1) Nếu phải rút quân ra khỏi Vùng I và Vùng II, sẽ
rút cách nào? Nếu rút theo kiểu “tái phối trí” về
quân sự, chắc chắn rối loạn sẽ xẩy ra. Cộng quân sẽ
lợi dụng và tiến chiếm toàn miền Nam.
(2) Sau khi rút, khó có thể lập một pḥng tuyến mới
từ Nha Trang đến Tây Ninh v́ thiếu những địa thế
pḥng ngự tự nhiên. Bất cứ chỗ nào trên pḥng tuyến
này cũng đều có thể bị địch chọc thủng một cách dễ
dàng.
Mọi người tin rằng ông Thiệu sẽ bỏ kế hoạch đó.
Nhưng vốn là một người độc đoán và hành động theo
cảm tính, nên sau khi Ban Mê Thuột bị mất, ông Thiệu
đă tự ư “tái phối trí” theo kế hoạch Ted Sarong –
Đặng Văn Quang, rút quân khỏi Vùng II và Vùng I,
đưa về lập tiền đồn tại Tuy Ḥa, làm sụp đổ cả miền
Nam trong ṿng chỉ có 40 ngày! Kế hoạch “Đầu Bé Đít
To” trở thành kế hoạch tự sát!
Chuyện của anh chàng “trung sĩ trong quân phụ
Tướng Lănh” Nguyễn Văn Thiệu c̣n dài. Trên
đây chỉ là vài nét đại cương.