|
Nghe đài phát thanh “Tiếng Nuớc Tôi” và
đọc trang nhà
viettan.org của đảng Việt Tân, chúng
ta có cảm tưởng như đây chỉ là những cơ quan
truyền thông nhai lại những ǵ mà đa số các cơ
quan truyền thông khác đă đọc hay đăng. Nội dung
cũng chỉ để diễn tả lại một quan điểm phổ thông
từ 34 năm qua: Việt Cộng gian ác, Việt Cộng độc
tài, Việt Cộng ngu dốt, Việt Cộng bán nước, Việt
Cộng thất bại..., thế nào chúng nó cũng sụp đổ
và chúng nó sắp sụp đổ tới nơi rồi!
Lối tuyên truyền này cho thấy các
nhà lănh đạo Việt Tân không t́m ra được những
chủ trương, những đường lối, những kế hoạch...
riêng có thể làm thay đổi đất nước, mà chỉ huà
theo đám đông. Nói cách khác, mặc đầu là một tổ
chức đấu tranh có tầm vóc lớn nhất ở hải ngoại,
Việt Tân thiếu “THINK TANKS”, tức thiếu những
“BỘ ÓC” có thể tạo cho ḿnh một thế đứng riêng
và một đường lối riêng để đưa cuộc đấu tranh
tiến tới.
BỊ
ÁP LỰC QUẦN CHÚNG
Tôi đă từng kể lại, sau
cuộc đảo
chánh lật đổ chế độ Ngô Đ́nh ngày 1.11.1963, tin
tức báo chí cũng như tin đồn ngoài phố đều nói
rằng ông Diệm và ông Nhu đă rời dinh Gia Long
bằng một đường hầm bí mật. Nhưng chúng tôi đă
lục lọi khắp nơi mà không thấy đường hầm đâu cả.
Nhiều kư giả đă vây quanh các tướng lănh đảo
chánh và yêu cầu cho đi xem đường hầm bí mật.
Cuối cùng các tướng lănh cũng cho một sĩ quan
Thủy Quân Lục Chiến dẫn chúng tôi đi. Sĩ quan
này đă cho chúng tôi quan sát khắp nơi trong
dinh Gia Long, nhưng không thấy đường hầm đâu cả.
Chúng tôi liền hỏi viên sĩ quan này:
“Ông Diệm
và ông Nhu đă ra khỏi dinh Gia Long bằng cách
nào?” Sỉ quan này nói hai ông đă ra bằng cửa
hông bên đường Pasteur bằng một chiếc xe
Citroen. V́ không thể đi ngược đường Pasteur để
xuống đường Lê Lợi được v́ đường Pasteur là
đường một chiều, tài xế đă phải lái xe đâm ngang
qua dường Pasteur để vào cổng sau của Toà Đô
Chánh rồi ra cổng đường Lê Thánh Tôn, quẹo trái
trước rạp Rex để ra đường Lê Lợi và đi vào Chợ
Lớn...
Nhưng khi tôi tường thuật lại
đúng những ǵ mắt thấy tai nghe, xác định trong
dinh Gia Long không có đường hầm bí mật nào cả,
và đưa cho ông chủ bút để đăng báo. Nhưng khi
đọc xong bài tường thuật của tôi, ông ôn tồn nói:
“Tôi biết anh viết đúng sự thật 100%, nhưng nếu
đăng lên, chúng nó (nhóm Phật Giáo đấu tranh)
sẽ
đến đốt toà báo! Thôi hăy tạm gác lại và chờ dịp
khác.”
Quả thật nhiều khi người làm báo
cũng phải đầu hàng trước áp lực của một đám đông
đang “xác tín” về một tin dối trá đă được loan
truyền!
Các nhà lănh đạo Mặt Trận Hoàng
Cơ Minh và đảng Việt Tân chắc chắn hiểu rơ hơn
chúng tôi về những áp lực quần chúng đă đè nặng
lên họ ngay từ đầu, khi lănh sứ mạng đi “giải
phóng Việt Nam.”
Với một số tiền đóng góp được dư
luận cho là khoảng trên dưới 10 triệu USD và một
buổi lễ ra mắt đầy khí thế với những tiếng gào
thét “quyết thắng” từ những con tim nồng cháy
đ̣i phải giải phóng quê hương, Phó Đề Đốc Hoàng
Cơ Minh đă ra đi như một người cỡi lên lưng cọp.
Ông thấy rơ trước mắt những khó khăn, nhưng đă
phóng lao th́ phải theo lao!
Đảng CSVN được thành lập năm 1930
với sự trợ giúp tích cực của Đệ Tam Quốc Tế để
cộng sản hoá Đông Dương, nhưng phải 15 năm sau
mới cướp được chính quyền. Đồng Minh và VNCH với
vơ khí tối tân, đă chiến đấu với Cộng Sản trong
suốt 20 năm, cuối cùng Hoa Kỳ đành trao miền Nam
cho Trung Quốc. Mặt Trận Hoàng Cơ Minh với
khoảng 200 quân t́nh nguyện được trang bị bằng
những vơ khí thô sơ, nhưng lại bị áp lực của tập
thể chống cộng đ̣i hỏi phải “giải phóng Việt
Nam” ngay!
Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh đă cho lập
trên đất Thái một Khu Chiến gióng như một chiến
khu ở Việt Nam để tập cho các chiến sĩ cách
chiến đấu và thu phục quần chúng theo kháng
chiến. Nhưng sau cuộc Đông Chiến 1 thất bại, ông
thấy con đường xâm nhập vào Việt Nam là con
đường vô vọng v́ địch đă phong tỏa hết rồi,
nhưng ông không thể rút lui được mà phải tiến
tới v́ áp lực của quần chúng đàng sau. Nếu quay
trở về, ông sẽ bị lên án là “kháng chiến cuội”
và bị đ̣i lại tiền đă đóng góp. Nhưng nếu tiến
tới sẽ bỏ mạng. Cuối cùng, ông đă chọn con đường
chết trong cuộc Đông Tiến 2. Đây là một sự lựa
chọn can đảm. Những nhà lănh đạo Mặt Trận c̣n
lại, cũng thấy không thể hoàn thành sứ mạng đă
lănh nhận nên đă cho tiến hành cuộc Đông Tiến 3
để xoá sổ kháng chiến!
Có thể kết luận rằng áp lực
của quần chúng đàng sau đă đưa lực lượng kháng
chiến của Mặt Trận đến chỗ bị tiêu diệt.
HÙA THEO ĐÁM ĐÔNG GÀO THÉT
Sau khi tổ chức kháng chiến của
Mặt Trận bị xoá sổ v́ áp lực của công luận, Mặt
Trận quay trở lại hoạt động đấu tranh chính trị.
Nhưng từ năm 1990 đến nay, người ta chưa thấy
Mặt Trận đưa ra được một đường lối nào đặc biệt
ngoài việc hùa theo đám đông gào thét. Chúng tôi
xin nêu lên hai vụ cụ thể là vụ Ải Nam Quan và
vụ Tam Sa.
Vụ biên giới: Ngày 30.12.1999
Bắc Kinh và Hà Nội đă kư kết một hiệp ước ấn
định lại biên giới trên bộ giữa Việt Nam và
Trung Quốc. Sau đó, trong đại hội đảng toàn quân
từ ngày 3 đến 11.1.2001, Lê Đức Anh đă tố Lê Khả
Phiêu 10 tội, trong đó có tội “Bán đất,
bán biển cho Trung Quốc”. Đám đàn em của
Lê Đức Anh liền thổi lớn vụ này.
Với một tổ chức có Think Tank,
công việc đầu tiên là xem lại Công Ước Thiên Tân
kư kết giữa Pháp và Trung Hoa về biên giới Việt
– Trung để xem biên giới đó đă được ấn định như
thế nào. Sau đó, so sánh hiệp ước mới với công
ước cũ xem có sự sai biệt như thế nào, có thực
hiện đúng với Quốc Tế Công Pháp hay không... để
t́m ra sự thật. Đâu có tin Lê Đức Anh được. Nếu
thấy quả thật có “dâng đất dâng biển” sẽ tố cáo
trước công luận và Việt Cộng hết căi.
Tuy nhiên Mặt Trận đă không làm
như thế! Mặt Trận tưởng “thời cơ đă đến, đă đến”
và phải “chớp thời cơ”, nên đă tổ chức “Hội
Nghị Diên Hồng Hải Ngoại Bảo Toàn Đất Tổ”
vào hai ngày 28 và 29.12.2002 tại Weat Coast
Anaheim Hotel, thành phố Anaheim, California, để
thảo luận “Quan điểm của Hội Nghị trước vấn
đề Hiệp Ước Biên Giới” và t́m cách “bảo toàn
đất tổ”. Hội nghị đă diễn ra không khác ǵ Hội
Nghị Trung Ương Đảng của đảng CSVN. Các đại biểu
chỉ được triệu tập tới để biểu quyết một nghị
quyết đă được soạn sẵn, trong đó không đưa ra
được sự kiện mới nào và sau những lời lẻ dao to
búa lớn, Mặt Trận chỉ “bảo toàn đất tổ” bằng
tuyên ngôn, tuyên cáo và kháng thư! Thành ra đầu
voi đuôi chuột.
Vụ Tam Sa:
Ngày 3.12.2007 Quốc Vụ Viện Trung Quốc phê chuẩn
việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện
Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để trực tiếp quản lư
ba quần đảo Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa. Các
nhà ngoại giao Trung Quốc đă nhắc đến Công
hàm ngày 14.9.1959 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng
như một văn kiện nh́n nhận chủ quyền của Trung
Quốc về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Căn cứ vào Công hàm nói trên,
nhiều tổ chức đă lên án Việt Cộng dâng đất dâng
biển cho Trung Quốc. Mặt Trận cũng hùa theo và
la rất lớn!
V́ không có Think Tank, Mặt Trận
không hiểu rằng la như thế rất tai hại v́ nếu
cho rằng Công hàm nói trên có giá trị chuyển
nhượng đất và biển, chúng ta coi như đă mất
Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng sự thật không phải
như vậy. Theo Hiệp Định Genève năm 1954, Hoàng
Sa và Trường Sa đều thuộc chủ quyền của VNCH v́
nằm ở phía nam vĩ tuyến 17. Một nguyên tắc căn
bản của luật pháp là “Nemo dat quod non
habet”, tức không ai có thể cho cái ḿnh
không có. Như vậy Phạm Văn Đồng lấy tư cách ǵ
để dâng hai quần đảo nói trên của VNCH cho Trung
Quốc? Nếu Phạm Văn Đồng bán được như thế, Mặt
Trận cũng có thể bán Toà Bạch Ốc cho Trung Quốc
lấy khoảng 500 triệu USD, khỏi phải đi bán phở
nữa.
Trong trường hợp này, thay v́ tố cáo đảng
CSVN dâng đất dâng biển cho Trung Quốc, chúng ta
phải tố cáo tṛ đàng điếm của Hà Nội và xác định
với Trung Quốc và dư luận quốc tế rằng Công hàm
nói trên của Phạm Văn Đồng vô giá trị, và Hoàng
Sa và Trường Sa vẫn là của Việt Nam.
Mặt Trận có thấy thiếu Think Tank
và cứ hùa theo đám đông la hét nó tai hại như
thế nào chưa?
Nh́n chung, mỗi khi có biến cố ǵ
xẩy ra, v́ thiếu Think Tank, Mặt Trận không thể
xác định được quan điểm, lập trường, đường lối
và kế hoạch riêng của ḿnh mà chỉ chạy theo
tiếng la ngoài phố và “chớp thời cơ”. Từ vụ Thái
B́nh - Xuân Lộc, vụ Trần Trường, vụ Cha Lư, vụ
biên giớí... đến vụ dân oan, Mặt Trận không chủ
động được ǵ hết mà chỉ ăn theo!
Một tổ chức không có Think Tank
th́ chỉ múa rối chứ không thể đấu tranh thắng
lợi được.
KHÁI LƯỢC VỀ KHU CHIẾN
Câu chuyện hôm nay chúng tôi muốn
nói với Mặt Trận và đảng Việt Tân là cái chết
không b́nh thường của Trung Tá Lê Hồng, bí danh
là Đặng Quốc Hiền, Tư Lịnh Lực Lượng Vơ Trang
Kháng Chiến. Tuy nhiên, để độc giả dễ theo dơi,
trước hết chúng tôi xin nói qua về Khu Chiến của
Mặt Trận ở biên giới Thái – Lào.
Để “giải phóng Việt Nam”. Mặt
Trận đă cho thiết lập ở một vùng rừng núi trên
đất Thái, sát với biên giới Lào và ngang với hai
tỉnh Kontum và Pheiku của Việt Nam một Khu Chiến
gồm 4 căn cứ, được đặt tên là căn cứ 81, căn cứ
82, căn cứ 83 và căn cứ 84 để làm nơi huấn luyện
quân sĩ và làm bàn đạp tiến vào Việt Nam.
Lực Lượng Vơ Trang Kháng Chiến
được chia từ thấp đến cao như sau:
Toàn.
Dân Đoàn.
Quyết
Đoàn.
Tâm Đoàn.
Kháng Đoàn.
Chiến Đoàn.
Đây là những tên lấy từ khẩu hiệu
do Mặt Trận đặt ra là TOÀN DÂN QUYẾT TÂM KHÁNG
CHIẾN.
V́ số quân tuyển mộ được quá ít
oi, chưa đến 200 người, nên Mặt Trận lấy Quyết
Đoàn làm đơn vị căn bản. Mỗi Quyết Đoàn có
khoảng 40 chiến sĩ và được chia ra làm 3 Dân
Đoàn. Như vậy có thể coi Quyết Đoàn như một
Trung Đội. Mặc dầu đă cố gắng rất nhiều, Mặt
Trận cũng chỉ thành lập được 4 Quyết Đoàn mà
thôi.
Theo kháng chiến quân Phạm Hoàng
Tùng, vơ khí được cấp cho mỗi Quyết Đoàn chỉ là
những loại vũ khí nhẹ và thô sơ như những khẩu
AK.47 cũ kỹ của Trung Quốc hay Tiệp Khắc, thêm
vào 3 đến 4 hỏa tiễn cầm tay loại B.40 và B.41,
vài khẩu M. 72 và một số ḿn claymore.
Ở Cấp Tâm Đoàn chỉ có vài đơn vị
căn bản, một số đơn vị chỉ có vài cán bộ nồng
cốt. Cấp Kháng Đoàn số cán bộ c̣n ít hơn: Lúc
nào người ta cũng thấy chỉ có hai người là anh
Nguyễn Huy (tên thật là Nguyễn Trọng Hùng) và
anh Lê Phú Sơn. Không thấy sự hiện diện của cấp
Chiến Đoàn.
Trung Tá Lê Hồng, có bí danh là
Đặng Quốc Hiền, vốn là Lữ Đoàn
Phó Lữ Đoàn Dù của VNCH từ Hoa Kỳ đến và được
Tướng Hoàng Cơ Minh phong lên cấp tướng và giao
cho làm Tư Lệnh Lực Lượng Vơ Trang Kháng
Chiến. Thiếu tá Dương Văn Tư được cử
làm Tư Lịnh Phó.
Các lực lượng chính của Lực Lượng
Vơ Trang Kháng Chiến đều được đóng ở căn cứ 81.
Căn cứ này là một căn cứ quan trọng nhất được
thiết lập trên một đỉnh núi cao nhất của Khu
Chiến để án ngử mặt Đông, nơi du kích Lào và bộ
đội Việt Cộng có thể vượt qua biên giới Lào –
Thái để quấy phá.
Căn cứ 81 được bao bọc chung
quanh bằng 4 tiền đồn ở bốn hướng Đông, Tây,
Nam, Bắc theo chiến thuật liên hoàn để có thể hỗ
trợ nhau về mặt quân sự. Bốn tiền đồn đó được
đặt tên là Hải Vân, Tây Đô, Hồng Lĩnh và Bạch
Mă. Tiền đồn Bạch Mă nằm ngay hướng chính Đông
của căn cứ 81, tức hướng từ biên giới Lào đi
lên. Đây là tiền đồn quan trọng nhất.
Kháng chiến quân Phạm Hoàng Tùng
kể lại: “Thời gian sống tại căn cứ 81, tôi thấy
có vài đơn vị kháng chiến Lào đến đây sinh hoạt
chung với anh em kháng chiến Việt Nam. Như kháng
chiến quân Lào Tự Do, đi tuần chung với kháng
chiến Việt Nam. Chiều đến các anh em lại đến băi
tắm ở con suối 81 để giặt giũ, tắm rửa. Thời
gian đó, ở hướng Nam căn cứ 81, cách xa tiền đồn
Hồng Lĩnh, có một căn cứ của kháng chiến Lào.
Một lần tôi cùng đi công tác phát gạo và quần áo
cho dân Lào đang sống trong căn cứ. Đoàn công
tác do chiến hữu Hải dẫn đầu. Sau này, khi rời
căn cứ 81 để nhận công tác khác, khi trở lại
thăm 81, tôi không c̣n thấy anh em kháng chiến
quân Lào đâu nữa. Chắc họ đă di chuyển đến những
địa điểm khác trên miền biên giới Thái - Lào,
hoặc rút hơi sâu vào trong đất Thái.”
Từ căn cứ 81, theo hướng tây, đi
chừng 20 phút đường núi hẹp, quanh co, ẩn kín
giữa các cánh rừng già âm u, đoàn quân đi tải
vượt ṿng quanh căn cứ 83 để đến căn cứ 84 theo
một đường được chỉ định, v́ căn cứ 83 là một căn
cứ hoàn toàn bí mật, chỉ những người có nhiệm vụ
mới được vào. Căn cứ 84, c̣n có tên là B́nh
Thủy, nằm gần một làng Thái nên rất tiện cho
việc tải hàng đến và lưu trử tại đó.
Từ 1985 đến 1990, Mặt Trận đă
phát động tất cả ba chiến dịch đưa quân xâm nhập
vào trong nước để lập chiến khu chống lại Việt
Cộng. Các chiến dịch này đều mang tên là Đông
Tiến.
Chiến dịch Đông Tiến I đă được
phát động trong hai năm 1985 và 1986, nhưng tất
cả các chiến sĩ vượt biên đều bị tử trận hay bị
sa lưới. Chiến dịch Đông Tiến II được phát động
vào tháng 7 và tháng 8 năm 1987, do chính Tướng
Hoàng Cơ Minh đích thân chỉ huy, nhưng sau 49
ngày chiến đấu với bộ đội Việt Cộng trên đất
Lào, rất nhiều chiến sĩ bị tử trận, một số bị
bắt đưa về Việt Nam, c̣n Tướng Hoàng Cơ Minh đă
bị tử trận. Chiến dịch Đông Tiến III được phát
động vào năm 1990, sau khi Tướng Hoàng Cơ Minh
mất, nhưng các chiến sĩ đi trong chuyến này cũng
đều bị giết hay bị bắt.
CÁI CHẾT CỦA TRUNG TÁ HỒNG
Bây giờ chúng tôi xin nói đến
trường hợp cái chết của Trung Tá Lê Hồng, bí
danh là Đặng Quốc Hiền, Tư Lịnh Lực Lượng Vơ
Trang Kháng Chiến, v́ đây là cái chết đă gây
nhiều thắc mắc trong anh em kháng chiến quân.
Kháng chiến quân Phạm Hoàng Tùng kể lại:
“Khóa học Quân Chính II khai diễn
được non một tuần th́ xảy ra một sự kiện khiến
cho chúng tôi phải tạm ngưng học hành vài ngày
và di chuyển lớp học xuống căn cứ 83. Cũng từ sự
kiện đặc biệt này, anh em trong khóa chúng tôi
không c̣n thấy anh Đặng Quốc Hiền, tức Chiến Hữu
Lê Hồng, Tư Lịnh Lực Lượng Vơ Trang đến lớp
giảng dạy nữa...
“Buổi sáng nọ, anh em trong khóa
vẫn tề tựu đúng giờ
(trước 7 giờ sáng), ngồi
trong hội trường chờ anh Hiền đến giảng như
thường lệ. Tuy nhiên sau đó vài mươi phút, chiến
hữu trực ban tại căn cứ vào lớp báo cho anh em
chúng tôi biết anh Hiền không đến giảng bài
được, do v́ anh đang lên cơn sốt. Việc sốt hành
là việc xảy ra như cơm bữa trong khu chiến,
chúng tôi không thắc mắc ǵ và an tâm chờ đợi
cũng như rất mong muốn anh Hiền mau khỏi bịnh để
đến lớp giảng bài cho anh em học vào buổi chiều.
“Thế nhưng bữa chiều đó, chúng
tôi lại nhận tin anh Hiền bịnh nặng hơn và không
thể tiếp tục đảm nhiệm công tác giảng dạy. Cạnh
đó, nhiều chiến hữu tại căn cứ 81 đang túc trực
chờ lịnh, khiêng vơng đưa anh Hiền ra căn cứ
tiền trạm 84 để chữa bịnh!
“Tôi rất bất ngờ khi nghe tin này
và không tin sự kiện xảy ra mau chóng như thế.
V́ mới hôm qua, xuất hiện trên bục giảng, đứng
sát trước mặt tôi, do tôi ngồi bàn đầu, chỉ cách
anh Hiền có chừng non hai thước, chính mắt tôi
trông thấy anh Hiền c̣n rất khoẻ mạnh, giọng nói
mạnh mẽ, hùng hồn, rất cuốn hút người nghe. Nếu
cơn sốt bất chợt đến với anh do không khí rừng
núi thâm độc, cũng không thể quật ngă anh một
cách lẹ làng như vậy. Đây là kinh nghiệm của
từng anh em trong khu chiến, v́ ai cũng đều trải
qua những cơn sốt hành ghê gớm.
“Và chuyện dùng vơng khiêng anh
Hiền ra căn cứ 84 trị bịnh lại càng làm cho tôi
cũng như những anh em khác trong khóa học đặt
nghi vấn. Tuy nhiên không ai dám nói v́ qui định
bảo mật cùng biện pháp kỷ luật rất nghiêm, có
thể bị hạ tầng công tác, bị cấp chỉ huy nhận xét
là không an tâm công tác, hay nếu cố t́nh soi
mói t́m hiểu nội bộ lănh đạo và muốn chuyện được
phơi bày công khai trước ánh sáng công luận như
trong một xă hội tự do với báo chí là một đệ tứ
quyền, có thể... mất mạng trong rừng già đ́u
hiu, quạnh quẽ, chứ không thể đùa giỡn với tử
thần thỉnh thoảng lảng vảng trong khu chiến.
“Sau này chúng tôi được biết
thêm, khi mang anh Hiền ra đến căn cứ 84, anh
Hiền lâm trọng bịnh và qua đời. Nghi vấn tiếp
tục theo theo đuổi tôi cho đến tận giờ phút viết
những ḍng chữ này. Anh Hiền mất trong âm thầm,
bí mật của khu chiến. Không thấy lănh đạo MT
thông báo cử hành tang lễ, dù rất đơn giản, cho
một vị Tư Lịnh Lực Lượng Vơ Trang đă có công
thành lập MT và khu chiến từ những ngày đầu khó
khăn, cô thế.
“Tôi cũng không biết lănh đạo MT
chôn cất anh Hiền ở đâu trong một dăy căn cứ của
khu chiến, theo thông lệ của những người sống
trong khu chiến và mất tại khu chiến. Tôi từng
viếng thăm mộ anh hùng Đông Tiến Phùng Tấn Hiệp
tại căn cứ 81
(một người ở Nhật về, không rơ tên
thật, thuộc hàng ngũ những chiến hữu tiên phương
trong việc xây dựng khu chiến). Tôi cũng từng
mang nhang đến thắp tại ngôi mộ của anh Quân
(không biết anh mang họ ǵ, người dân tộc Khmer
Nam Bộ) bị chết trong cuộc đột kích của đặc công
Việt Cộng tại tiền đồn Hải Vân cuối năm 1984.
“Nếu anh Hiền được chôn cất trong
lănh thổ khu chiến thời đó, th́ anh em đă được
biết rơ và đến viếng thăm người cựu Tư Lịnh của
ḿnh. Nhưng điều này suốt những năm tháng sau
đó, tôi không nghe anh em kháng chiến quân nói
đến ngôi mộ của anh Hiền ở đâu, ra sao? Hoặc MT
đă chôn cất ở nơi nào đó mà chỉ ít người trong
khu chiến biết được?
“Tôi không biết những kháng chiến
quân nào đă nằm trong toán khiêng vơng anh Hiền
ra căn cứ 84. Tuy nhiên, người chịu trách nhiệm
cao nhất tại căn cứ 84 vào lúc đó, hay c̣n được
gọi là B́nh Thủy, là chiến hữu Lộc hay c̣n có
một tên khác là Trương Tấn Lạc, một cựu sĩ quan
Hải Quân và cũng là chiến hữu giữ trách nhiệm
tiếp vận cho toàn thể khu chiến, anh c̣n là ủy
viên Trung Ương MT hay Việt Tân.
“Và một nhân vật c̣n sống nữa là
ông Nguyễn Kim, lúc đó anh Kim phụ trách Tổng Vụ
Hải Ngoại và thường xuyên về Đông Nam Á. Tất
nhiên hai người này có thể biết các thông tin
liên quan đến cái chết của anh Hiền hay nơi chôn
cất anh Hiền. Cả hai nhân vật này đang có mặt
tại Hoa Kỳ trong thời điểm tác giả viết những
ḍng chữ này.
“Trong trường hợp chiến hữu Tư
Lịnh Lực Lượng Vơ Trang Kháng Chiến
Đặng Quốc
Hiền tức Lê Hồng được chôn cất tại căn cứ 84 hay
ở vùng đất Thái gần đó, th́ hai ông Lạc và Kim
phải biết rơ. Trách nhiệm c̣n lại của hai người
này là giúp cho gia đ́nh thân nhân của chiến hữu
Lê Hồng t́m ra được ngôi mộ, và tùy theo ư kiến
riêng của thân nhân người quá cố, di cốt sẽ được
mang về Mỹ chôn cất hay để tại chỗ với lễ nghi
mai táng tươm tất, sơn phết mồ mả, hương khói
đều đặn cho ấm hồn người quá cố, hoặc di cốt về
địa phương nơi sinh ra ông tại Việt Nam. Những
người lănh đạo MT hay Việt Tân c̣n lại, đang
sống và hoạt động tại Hoa Kỳ phải có trách nhiệm
giúp đỡ gia đ́nh chiến hữu Lê Hồng làm công việc
này, cũng như giúp đỡ vật chất, thông tin, thăm
hỏi thân t́nh... Đây là trách nhiệm đạo đức của
người c̣n sống đối với người quá cố. Đây cũng
c̣n là trách nhiệm của những chiến hữu c̣n hoạt
động trong tổ chức đảng Việt Tân đối với chiến
hữu đă hy sinh v́ đại nghĩa của quốc gia, dân
tộc.
“Sau cái chết của chiến hữu Lê
Hồng, khóa Quân Chính II vẫn tiếp tục, nhưng
thay đổi vị trí học hành. Khóa chúng tôi được MT
cho di chuyển xuống căn cứ 83, nơi học là hội
trường 83, nằm bên dưới khu vực trước đây đặt
Đài Phát Thanh Việt Nam Kháng Chiến. Chính chiến
hữu Chủ Tịch MT và chiến hữu
Trần Khánh đứng ra
giảng dạy khóa học quan trọng này.”
Đây là một thắc mắc chính đáng
của kháng chiến quân cũng như đồng bào. Chúng
tôi mong rằng Mặt Trận và đảng Việt Tân sẽ có
những lời giải thích thoả đáng.
CON ĐƯỜNG ĐI TỚI
Sau khi tŕnh bày qua về cái chết
bất thường của Trung Tá Lê Hồng, chúng tôi xin
trở lại t́nh trạng thiếu Think Tank của đảng
Việt Tân. Chúng tôi đă chứng minh v́ thiếu Think
Tank, Mặt Trận và đảng Việt Tân như thuyền không
lái, như ngựa không cuơng, không biết trôi dạt
vào đâu.
Các nhà lănh đạo Việt Tân cũng
thừa biết, phong trào quần chúng gióng như những
con sóng biển, có khi nó lên rất cao, nhưng rồi
sẽ tan vỡ khi đổ vào bờ. Một vài thí dụ cụ thể:
Trước đây, đa số người Việt không
biết nhiều về chính sách của Mỹ nên tin rằng
đảng Cộng Hoà là đảng chống cộng và đua nhau gia
nhập đảng này. Nay họ mới khám phá ra lộ tŕnh
bỏ cấm vận, thiết lập bang giao và quan hệ mậu
địch với Hà Nội... đều do đảng Cộng Hoà soạn ra.
Mới đây, Tổng Thống Bush c̣n hứa bảo vệ toàn vẹn
lănh thổ cho Hà Nội... Họ mới thấy rằng niềm tin
của họ sai. Một số đang bỏ đảng Cộng Hoà qua
đảng Dân Chủ với những xác tín khác!
Năm 2003, khi Tổng Thống Bush mở
cuộc tấn công vào Iraq, nhiều người Việt rất
phấn khởi với sự tin tưởng rằng sau khi “đem dân
chủ” cho Iraq, Anh Hai sẽ đem dân chủ cho Việt
Nam. Một nhóm cựu quân nhân QLVNCH đă lập đoàn
chí nguyện quân đi đánh Iraq, trong đó có Tướng
Lư Ṭng Bá. Một bác sĩ Việt Nam ở Houston viết
bài cho rằng việc tấn công Iraq là sai lầm,
kiếng xe của ông đă bị đập bể... Bây giờ đa số
đă nhận ra sự thật, nhưng quá muộn!
Nếu các nhà lănh đạo đảng Việt
Tân không xây dựng được một hệ thống Think Tank
có năng lực để t́m ra hướng đi thích hợp với
giai đoạn mới, cứ tiếp tục để cho bị quần chúng
đẩy đi hay cứ hùa theo những tiếng la hét ngoài
đường phố và “chớp thời cơ” như từ trước đến
nay, rồi cũng sẽ bị tan ra từng mănh khi vào bờ
gióng như các phong trào quần chúng ở hải ngoại
đă nổi lên, sụp xuống từ 1975 đến nay. Điều quan
trọng cần phải nhớ: Chúng ta làm việc v́ quyền
lợi của tổ quốc chứ không chạy theo những tiếng
gào thét theo cảm tính.
Lữ
Giang |