Trong bài “Nh́n thế giới đi tới” phổ biến
ngày 11.1.2008, chúng tôi đă đề cập đến “Tuyên
Ngôn Thiên Niên Kỷ của Liên Hiệp Quốc”
(UN
Millennium Declaration) được công bố ngày 8.9.2000
do 152 nhà lănh đạo các quốc gia trên thế giới kư
tên. Tuyên ngôn đă đưa ra một quan niệm và một
chương tŕnh mới để đưa các dân tộc đang bị nghèo
đói vá áp bức đi lên trong thế kỷ thứ 21.
Trong bài nói trên, chúng tôi có tŕnh bày: Các nước
Tây phương cho rằng các chế độ cộng sản và độc tài
trên thế giới đă dùng 3 thứ sau đây để chế ngự quần
chúng:
ĐÓI (Hungry),
DỐT
(Ignorance)
và SỢ (Fear).
Chỉ cần phá vỡ ba thứ đó,
các chế độ cộng sản và độc tài sẽ không c̣n đất dụng
vơ. Muốn phá vỡ những thứ đó, phải dùng “diễn biến
ḥa b́nh” chứ không thể dùng vũ lực hay cấm vận được.
Đây chính là chủ trương của Liên Hiệp Quốc được ghi
trong Tuyên Ngôn Thiên Niên Kỷ.
Hiện nay, Chương Tŕnh Phát Triển Liên Hiệp Quốc
(United Nations Development Programme – viết tắt là
UNDP) đang thực hiện kế hoạch xóa đói giảm nghèo tại
166 quốc gia trên thế giới và đă đổ vào Việt Nam
khoảng 4 tỷ 450 triệu USD. Tiêu chuẩn đầu tiên được
Liên Hiệp Quốc đưa ra là đến năm 2015, không c̣n
người lao động nào phải lănh lương dưới 1 USD mỗi
ngày, chấm dứt số người sống dưới mức nghèo khổ và
chấm dứt t́nh trạng những người không có nước sạch
để uống.
Trong bài nói trên, chúng tôi cũng đă nhận định rằng
trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại, có một số
người đang chống lại chương tŕnh xóa đói giảm nghèo
của Liên Hiệp Quốc, v́ cho rằng chương tŕnh đó sẽ
làm cho chế độ độc tài cộng sản tồn tại lâu hơn.
Không phải chỉ những người có tŕnh độ văn hóa thấp,
mà một số người đang tự coi ḿnh là “lănh đạo cộng
đồng” hay “hướng dẫn dư luận” cũng bênh vục quan
niệm đó.
Dĩ nhiên, những nỗ lực lội ngược ḍng như thế chẳng
ảnh hưởng ǵ đến đường lối của các cường quốc Tây
Phương và Liên Hiệp Quốc. Nhân loại vẫn tiếp tục đi
tới. Năm 1954, chúng ta có kư Hiệp Định Genève đâu,
nhưng rồi cuối cùng cũng phải bỏ miến Bắc chạy vào
Nam. Năm 1973, chúng ta không đồng ư với nội dung
của hiệp định Paris. nhưng rồi cũng phải kư và vài
năm sau đua nhau bỏ đất nước đi lưu vong trên khắp
thế giới. T́nh trạng của những người đang lội ngược
ḍng rồi cũng thế thôi.
Hôm nay, chúng tôi sẽ nói đến thảm họa thứ hai của
nhân loại mà Liên Hiệp Quốc đang cố gằng chống lại,
đó là GIẶC DỐT. Loại giặc này bao trùm trên
nhiều lănh vực và nếu đánh thắng được nó, các giặc
khác như giặc đói và giặc sợ cũng sẽ đi đời nhà ma
luôn. Mặc dầu đây là một cuộc chiến khá phức tạp, có
khi gần như trừu tượng, nhưng v́ nó liên hệ đến con
đường tiến thủ của các dân tộc nghèo đói và bị áp
bức, nên chúng ta cũng phải t́m hiểu và góp phần
đánh thắng.
Cuộc chiến với giặc dốt là một cuộc chiến lâu dài và
rất khó thắng. Khi đánh giặc đói, các chuyên viên
LHQ sẽ hướng dẫn và giúp cho nông dân phương tiện để
canh tác có nhiều hoa lợi hơn, cung cấp cho những
người nghèo ở thành thị vốn để làm ăn, tạo công ăn
việc làm cho họ, yêu cầu các chính phủ phải ban hành
luật ấn định lương tối thiểu không được dưới 1 USD
một ngày, v.v. Nhưng chống giặc dốt không giản dị
như vậy. Sau đây là một vài th́ dụ cụ thể:
Khi Pháp rời khỏi Đông Dương, Cao Nguyên miền Trung
có khoảng 3 triệu người Thượng. Họ gần như làm chủ
toàn vùng Cao Nguyên. Ngày nay số người Thượng tại
Cao Nguyên chỉ c̣n khoảng một nữa. Sở dĩ người
Thượng bị biến mất dần một phần v́ cuộc Tây tiến của
người Việt và phần khác v́ cuộc sống thiếu văn minh
của họ. Trước 1975, tôi và một vài kỳ giả có dịp đến
Kontum và được dẫn đi xem cuộc sống của đồng bào
Thượng. Người ta đưa chúng tôi đến thăm một sắc tộc
có phong tục khác thường: Đàn bà mỗi khi sanh được
đưa xuống suối để sanh chứ không vào nhà hộ sinh.
Những người bệnh nặng đều được đưa ra phơi nắng, số
ai c̣n sống th́ lành, số ai tới kỳ quy tiên th́
chết. Họ không chịu đưa vào bệnh xá để được chửa
trị. Ông Quận Trưởng có dặn chúng tôi chớ nên có ư
kiến ǵ v́ sẽ làm họ nổi giận. Anh em dân vận đă
khuyên họ nhiều rồi nhưng không thành công, v́ họ
thiếu kiến thức. Với tập quán sống này, tự diệt
chủng là chuyện đương nhiên.
Giả thiết trong số họ có nhiều người được học hết
cấp 1 hay cấp 2, có lẽ họ sẽ biết ít nhiều về khoa
học, họ sẽ tự thay đổi cuộc sống để bảo đảm sự sinh
tồn của sắt tộc, nhưng chỉ khoảng 2% biết đọc và
biết viết mà thôi, nên cuộc sống của họ vẫn kéo dài
trong tăm tối.
V́ thiếu tŕnh độ văn hóa, nên khi bị cường hào ác
bà ức hiếp như cướp đất, chèn ép, v.v., họ không
biết làm ǵ để chống lại. Nếu trong buôn làng có một
số người học hết cấp 2 hay cấp 3, họ có thể giúp
chống lại cường hào ác bá như làm đơn kiện lên
huyện. Nếu huyện không giải quyết sẽ đưa lên tỉnh và
nếu tỉnh cũng im lặng sẽ đưa lên trung ương hay nhờ
báo chí can thiệp.
Trong bài “Một Quan Niệm Giáo Dục”, Bảo Vũ có
kể chuyện như sau:
Tại phiên chợ mua bán súc vật Dol
Dol ở Laikipia thuộc miền Bắc Kenya, Phi Châu, ông
Johnson Kinyago, một người chăn súc vật thuộc bộ lạc
Masai đă nói với một nhóm các bậc trưởng lăo về hai
đứa con trai của ông. Với vẽ tự hào, ông nói về đưa
thứ nhất: "Một cháu đúng là thuộc loại thiên tài.
Cháu có thể nhận diện được mọi con vật và có thể t́m
được nguồn nước ở bất cứ nơi nào. V́ thế, cháu đang
đi chăn dê". Với đứa thứ hai, ông nói với giọng
không được vui cho lắm: "C̣n cháu thứ nh́ th́ thuộc
vào loại dốt nát. Dốt như vậy th́ có lẽ cháu này
không phải là con tôi. Cháu hiện đang đi học".
Các bậc trưởng lăo, trên người quấn chăn màu sặc sỡ,
đều gật đầu tỏ vẻ đồng ư với ông. Kết quả là hơn 90
% dân Masai mù chữ, và điều này khiến bộ tộc Masai
dễ bị các bộ tộc láng giềng có nhiều chữ nghĩa hơn
lấn lướt và bắt nạt.
Trước đây, khi những người Anh di dân đặt chân lên
vùng đất của người Masai, v́ không đủ chữ nghĩa, tổ
tiên của họ đă nhượng tới 90% số đất đai của họ có
lúc bấy giờ cho người Anh.
Trong trận hạn hán dài ba năm vừa rồi, hơn 80% gia
súc của người Masai bị chết và dân bộ tộc Masai, một
giống dân kiêu hùng, hiện đang phải sống nhờ vào
nguồn thực phẩm viện trợ từ ngoại quốc. Để phá vỡ
cái ṿng luẩn quẩn đói nghèo, một nhóm người trẻ có
học thuộc bộ tộc Masai đă cố gắng thiết lập các lớp
học không chính thức trên vùng đồi núi lởm chởm
Laikipia, nhưng đường đưa người Masai ra khỏi sự ngu
dốt để đi lên c̣n dài thăm thẳm.
MỘT VÀI CON SỐ ĐỂ SO SÁNH
Trong các nước Hồi Giáo, v́ bị tín ngưởng và tập
quán khống chế, tŕnh độ của các tín đồ Hồi Giáo,
nhất là phụ nữ, rất thấp. V́ thế, mặc dầu một số
nước Hồi Giáo có rất nhiều dầu hỏa, cuộc sống của
người dân vẫn cùng cực và cuồng tín.
Theo tiến sĩ Farrukh Saleem, ước tính có hơn 1,4 tỉ
người Hồi Giáo trên hành tinh: 1 tỉ ở châu Á, 400
triệu ở châu Phi, 44 triệu ở Liên Âu và 6 triệu ở
châu Mỹ. Như vậy, cứ 5 người th́ có 1 người Hồi
Giáo, và cứ mỗi một người Hindu (Ấn Giáo) độc thân
th́ có 2 người Hồi Giáo, cứ mỗi một người Phật Giáo
th́ có 2 người Hồi Giáo và cứ mỗi người Do Thái th́
có 100 người Hồi Giáo. Nhưng tại sao người Hồi Giáo
đang bị yếu thế như hiện nay?
Đây là lư do: thế giới hiện có 57 nước thành viên
của Tổ chức Hồi Giáo (Organisation of Islamic
Conference-OIC), và tất cả các nước này tập họp
chung quanh 500 trường đại học; một trường đại học
cho mỗi 3 triệu người Hồi Giáo. Hoa Kỳ có 5,758
trường đại học và Ấn Độ có 8.407. Năm 2004, trường
Đại Học Shanghai Jiao Tong xếp hạng các trường đại
học trên thế giới trong danh sách “Academic Ranking
of World Universities.” Người ta không thấy có một
trường đại học nào của các nước có phần đông dân số
là người Hồi Giáo lọt vào danh sách 500 trường đại
học hàng đầu này.
Theo các số liệu do cơ quan UNDP thu thập được,
người Thiên Chúa Giáo có kiến thức văn hóa (biết
đọc, biết viết) chiếm tới 90% và tại 15 nước mà
người Thiên Chúa Giáo chiếm đa số, dân số biết đọc
biết viết lên tới 100%. Trong khi đó, ở một nước mà
người Hồi Giáo chiếm đa số, sự tương phản rất rơ
nét, tỉ lệ biết đọc biết viết trung b́nh khoảng 40%
và không có nước đông dân Hồi Giáo nào chiếm tỉ lệ
biết đọc biết viết 100%. Trong cộng đồng Thiên Chúa
Giáo, dân số học xong bậc trung học chiếm tỉ lệ 98%,
trong khi tỉ lệ này trong thế giới Hồi Giáo chưa tới
50%. Khoảng 40% người Thiên Chúa Giáo theo học đại
học trong khi người Hồi Giáo chưa tới 2%!
Các quốc gia đông dân Hồi Giáo chỉ có 230 nhà khoa
học trên mỗi 1 triệu dân. Hoa Kỳ có 4.000 và Nhật có
5.000. Trong thế giới Ả Rập, tổng số nhà nghiên cứu
làm việc toàn phần là 35.000 và chỉ có 50 nhà kỹ
thuật trên mỗi 1 triệu dân, trong khi trong thế giới
Thiên Chúa Giáo có 1.000 nhà kỹ thuật trên mỗi 1
triệu dân. Điều này đă đưa tới kết luận: Thế giới
Hồi Giáo thiếu khả năng tạo ra kiến thức.
Ở Pakistan, có 23 tờ nhật báo cho 1.000 dân trong
khi Singapore là 360 tờ. Ở Anh, số tựa sách là
2.000t cho 1 triệu dân, trong khi ở Ai Cập chỉ có 20
tựa sách!
Một điều đáng chú ư nữa là tổng sản phẩm quốc gia
hàng năm của 57 nước thuộc Tổ Chức Hội Nghị Hồi Giáo
(Organization of the Islamic Conference) tổng hợp
lại chưa tới 2.000 tỉ USD, trong khi tại Hoa Kỳ là
12.000 tỉ, Hoa Lục 8.000 tỉ, Nhật 3.800 tỉ và Đức là
2.400 tỉ.
Một vài con số so sánh này cho thấy người Hồi Giáo
v́ thiếu học vấn nên không ngóc đầu lên được. Các
lănh tụ Hồi Giáo lại muốn duy tŕ các tín đồ trong
t́nh trạng ngu dốt để dễ thống trị.
Ngày 6.8.2007, ông Michael W. Marine, Đại Sứ Hoa Kỳ
tại Việt Nam lúc đó đă đọc một bài diễn văn tại Phân
Khoa Kinh Tế Shidler thuộc trường Đại học Hawaii ở
Saigon, nhấn mạnh đến những khuyết điểm của nền giáo
dục Việt Nam hiện nay và các chương tŕnh của Hoa Kỳ
nhằm giúp đưa nền giáo dục Việt Nam đi lên. Đây là
một bài diễn văn rất quan trọng nên chúng tôi thấy
cần phải đăng lại những đoạn chính để đọc giả có thể
thấy được t́nh trạng giáo dục ở Việt Nam hiện nay
như thế nào và Hoa Kỳ đang làm ǵ ở đó.
Sau khi ca ngợi các thành quả mà Việt Nam đă đạt
được về kinh tế, về địa vị của Việt Nam trên chính
trường quốc tế, và mối quan hệ càng ngày càng mở
rộng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, Đại Sứ Michael W.
Marine đă nhận xét như sau:
“Ở khắp nơi, người ta thấy tiềm năng, phấn khởi và
hy vọng. Nhưng đối nghịch với nhiều thành công của
ḿnh, Việt Nam đang đối diện với những thách đố quan
trọng, mà thách đố về hệ thống giáo dục không phải
là nhỏ. Trong khi sự tăng trưởng về kinh tế đă phát
triển quá mức dự đoán, và người dân Việt tiếp tục
đặt giáo dục làm ưu tiên hàng đầu, th́ hạ tầng cơ sở
cung cấp nguồn nhân lực vật lực tại đây đă không
phát triển đủ để hỗ trợ cho nhu cầu tăng trưởng.
Điều đó đúng ở mọi cấp bậc trong hệ thống giáo dục,
nhưng t́nh trạng giáo dục cấp đại học tại Việt Nam
đặt ra những quan ngại đặc biệt.”
1.- VN tụt lại phía sau rất xa
Tiếp theo, ông đề cập đến sự quá yếu kém của nền
giáo dục Việt Nam. Ông nói:
“Vai tṛ căn bản của các đại học là cung cấp một nền
giáo dục hữu dụng về mặt xă hội và kinh tế, làm phát
sinh hiểu biết và đổi mới. Theo ư kiến chung, các
đại học Việt Nam đă không làm tṛn được các đ̣i hỏi
thiết yếu này. Bản “Báo cáo về Phát triển trên Thế
giới” năm 2006 của Ngân Hàng Thế Giới cho thấy
Việt Nam tụt lại phía sau rất xa các nước khác trong
khu vực v́ chỉ có 2% dân số được đi học đủ 13
năm hoặc hơn nữa. Cũng theo báo cáo này th́ Việt
Nam đứng chót trong khu vực v́ chỉ có 10% thanh
thiếu niên trong hạng tuổi từ 20 đến 24 có ghi danh
vào các trường đại học hoặc cao đẳng. Trái lại,
Trung quốc có 15% sinh viên trong hạng tuổi này đă
ghi danh, Thái lan có 41% và Nam Hàn có con số thật
ấn tượng là 89%.
Một lư do làm cho con số sinh viên đại học Việt Nam
quá thấp là khả năng dung nạp rất hạn chế đến mức
báo động của chính các trường đại học. Tháng qua,
tại đây có 1.8 triệu học sinh dự cuộc tuyển sinh,
tranh dành nhau 300.000 chỗ ngồi trong các trường
đại học cả nước. Tuy nhỏ, nhưng con số đó cũng là
một gia tăng đáng kể so với con số sinh viên ghi
danh vào đại học năm 1990 khắp nước chỉ có 150.000.
Tuy nhiên, điều làm cho các chuyên viên phải bận tâm
với thống kê đó, là con số giáo sư giảng dạy gần như
không thay đổi đáng kể suốt 17 năm qua. Rơ ràng đây
là một hệ thống giáo dục quá căng.”
Đi qua lănh vực trí thức và đổi mới, ông đưa ra các
con số để cho thấy Việt Nam không theo kịp các quốc
gia lân cận. Ông nói tiếp:
“Nhiệm vụ thứ hai của một đại học là làm phát sinh
ra trí thức và đổi mới. Về lănh vực này Việt Nam một
lần nữa không theo kịp các quốc gia lân cận. Năm
2006, các giáo sư và sinh viên Đại học Quốc gia
Seoul (Hán Thành) công bố 4.556 ấn phẩm khoa học.
Trường Đại học Bắc Kinh có gần 3.000. Để so sánh ta
thấy cả Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Kỹ Thuật
Quốc Gia Hà Nội chỉ thực hiện được 34 ấn phẩm.
Số đơn xin bằng sáng chế là thước đo hữu dụng để
biết khả năng phát minh của một quốc gia. Báo cáo
năm 2006 của Ngân Hàng Thế Giới cho biết Trung
Quốc có 40.000 đơn xin bằng sáng chế, trong
khi ở Việt Nam chỉ có 2 đơn!
2.- Hoa Kỳ muốn giúp đỡ Việt Nam
Đại sứ Michael W. Marine cho rằng Việt Nam đang cố
gắng cải tiến về giáo dục và Hoa Kỳ muốn giúp đỡ.
Ông phát biểu:
“Chính phủ Việt Nam cho thấy đă hiểu rơ tầm mức quan
trọng của giáo dục cho công dân và thấy nhu cầu khẩn
thiết phải có thay đổi. Có mong muốn thực sự về xă
hội và chính trị để tạo ra cải tiến ở mọi cấp bậc
học vấn tại Việt Nam, và chính quyền đă thông qua
một số nghị quyết quan trọng về pháp luật – liên
quan đến giáo dục và quản trị đại học trong hệ thống
giáo dục – mà sẽ có tác động đáng kể, chỉ với điều
kiện là nếu được và sau khi được thực hiện đầy đủ.
Trong khi nguồn nhân lực và các nỗ lực cải tiến từ
trước tới nay vẫn không đủ, nhưng đă có cam kết và ư
chí. Hoa Kỳ muốn góp phần vào sự chuyển biến quan
trọng này.
Hệ thống giáo dục Việt Nam có ông Bộ Trưởng Giáo Dục
và Đào Tạo Nguyễn Thiện Nhân, một học giả của chương
tŕnh Fulbright đă đậu bằng tiến sĩ Đại Học Oregon,
có theo vài chương tŕnh hậu đại học tại Harvard, đă
xác định các mục tiêu đặc biệt để thay đổi môi
trường học vấn tại Việt Nam.
Các mục tiêu này gồm: cung ứng nền giáo dục đại
chúng - đặc biệt chú trọng vào nữ giới, người thiểu
số và những người kém may mắn là thành phần chưa
được phục vụ đúng mức trong hệ thống giáo dục hiện
nay - cải thiện các chương tŕnh huấn luyện giáo
viên, và kiểm tra toàn bộ chương tŕnh các môn học ở
mọi cấp bậc trong cả nước. Kế hoạch của ông cũng kêu
gọi phát triển một tiến tŕnh liên tục và chính thức
nhằm thẩm định và khen thưởng, chú tâm vào công tác
huấn nghệ để trang bị cho lực lượng lao động của
Việt Nam vào thế kỷ 21, cộng tác với các cơ sở học
vấn Đức và Hoa Kỳ, nâng cấp nhiều trường đại học
Việt Nam lên hàng đầu và đạt tiêu chuẩn được quốc tế
công nhận.
Như bản báo cáo của Ngân Hàng Thế Giới cho thấy,
Việt Nam rất cần nhiều người có văn bằng PhD cho các
trường đại học đă “quá tải”, v́ thế Bộ Giáo Dục và
Đào Tạo đặt mục tiêu huấn luyện 20.000 tiến sĩ mới
từ nay đến năm 2020. Lư tưởng là 10.000 trong số đó
sẽ nhận lănh văn bằng tiến sĩ tại ngoại quốc, ít
nhất 2.500 sẽ được huấn luyện tại Hoa Kỳ.
Ngoài các mục tiêu đặc biệt này, chính quyền c̣n
nhận thấy sự quan trọng của việc dạy ngoại ngữ - đặc
biệt là tiếng Anh – cho các học sinh bắt đầu ngay ở
bậc tiểu học, cũng như gia tăng khả năng về Kỹ thuật
Thông tin.
Trong các lănh vực này, Hoa Kỳ không những chỉ có
thể giúp đỡ mà c̣n muốn làm người cộng tác với chính
phủ và nhân dân Việt Nam để giải quyết những thiếu
sót và tạo lập một môi trường và hệ thống giáo dục
mà người dân Việt Nam có thể tự hào.
Một trong các trao đổi học vấn hàng đầu là chương
tŕnh Fulbright, thành lập năm 1946 nhằm gia tăng
hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, hiện nay đă
phát triển ra 140 nước. Chương tŕnh này thành lập ở
Việt Nam năm 1992, nay nhận được đóng góp tài chánh
nhiều nhất của chính phủ Mỹ.
Một cộng tác viên quan trọng nữa là Vietnam
Education Foundation của Hoa Kỳ. Từ ngày hoạt động
(tháng 3-2003) cơ quan này đă đạt được nhiều thành
quả trong sứ mạng trao đổi giáo dục và đào tạo kỹ
năng trong lănh vực khoa học và kỹ thuật cho Việt
Nam.
Một số trường đại học toàn hảo – như Hawaii và
Harvard – đă đi những bước quan trọng vào lănh vực
giáo dục hợp tác, và nhiều trường khác đang thăm ḍ
khả năng hoạt động tại Việt Nam.
Thỏa thuận với Texas Tech University đă tạo ra
chương tŕnh trao đổi đầu tiên để các sinh viên Việt
Nam có thể hoàn tất năm thứ hai của chương tŕnh
Tiến sĩ tại trường này để lấy bằng cấp tại Hoa Kỳ.
Những thỏa thuận như thế giữa Việt Nam và các cơ sở
giáo dục Hoa Kỳ sẽ mở cửa cho nhiều thanh thiếu niên
Việt Nam bước vào hệ thống giáo dục cấp cao của Mỹ.
Trong lúc nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mau
chóng, chính quyền nhận thấy nhu cầu cấp thiết phải
nâng cao tŕnh độ Anh ngữ cho công dân. Tiếng Anh là
ngôn ngữ chính yếu của thương măi và do vậy là một
thách đố đặc biệt cho thương gia Việt Nam. Trong
nhiều trường hợp, người dạy Anh ngữ lại không nói
được chính ngôn ngữ này và ít được học về phương
pháp dạy tiếng ngoại quốc. Nhóm Senior English
Language Fellow của Hoa Kỳ sẽ làm việc một năm ṛng
với một nhóm đặc biệt của Bộ Giáo Dục để sửa đổi
hoàn toàn chương tŕnh giảng dạy Anh ngữ trong hệ
thống giáo dục Việt Nam, từ cấp tiểu học tới đại
học, gồm cả việc huấn luyện các nhân viên giảng dạy.
Sau cùng, Mỹ và Việt Nam đang cộng tác chặt chẽ để
lập Đoàn Ḥa B́nh (Peace Corps), từ ngày thành lập
(1961) đến nay đă có 187.000 người Mỹ t́nh nguyện
phục vụ tại 139 quốc gia trong các lănh vực giáo
dục, nông nghiệp, y tế và HIV/AIDS, thương măi và
môi trường. Chương tŕnh chính yếu nhất là dạy Anh
ngữ, sẽ có ảnh hưởng quan trọng trong việc giảng dạy
có hiệu quả ngôn ngữ này khắp nơi trong nước Việt
Nam.”
20 NĂM SAU, 75% NỘI CÁC VN SẼ LÀ NHỮNG NGƯỜI ĐĂ DU
HỌC MỸ!
Theo phúc tŕnh về du học sinh năm 2007 được Viện
Giáo Dục Quốc Tế Hoa Kỳ (Insitute of International
Education) công bố vào cuối năm 2007, Việt Nam được
xếp vào “top 20” những quốc gia có nhiều du học sinh
nhất và mức tăng mạnh nhất: số du học sinh Việt Nam
là 6.036, tăng 31% so với năm 2006.
Tuy nhiên, nếu so với một số quốc gia khác tại Á
Châu, tổng số du học sinh Việt Nam ở Hoa Kỳ vẫn c̣n
thấp: Ấn độ 83.833, tăng 10%; Trung Quốc, 67.723,
tăng 8%, và Nam Hàn 62.392, tăng 6%.
Lên tiếng trước báo chí và cộng đồng Mỹ gốc Việt
trước khi sang Hà Nội nhậm chức, Tân Đại Sứ Michael
Michalak cam kết sẽ mang lại cơ hội đồng đều cho mọi
người dân Việt Nam, nhất là trong lănh vực giáo dục,
và ông sẽ cố gắng nâng gấp đôi số du sinh Việt Nam
được cấp học bổng sang Mỹ.
Cũng theo lời Tân Đại Sứ Michael Michalak: "Hai
mươi năm sau, chúng ta sẽ không nói Mỹ đă vào Việt
Nam để kiếm tiền, mà chúng ta sẽ nói rằng hơn 75%
thành phần Nội Các Việt Nam là những người đă du học
Mỹ."
Những lời phát biểu nói trên của hai ông cựu và tân
Đại Sứ Hoa Kỳ đă nói lên kế hoạch xây dựng quyền lợi
của nước Mỹ ở Việt Nam. Đây là một kế hoạch dài hạn
và được thực hiện theo phương pháp “diễn biến
ḥa b́nh”. Đại Sứ Michael Michalak đă nói về
triển vọng của 20 năm sau và rơ ràng là kế hoạch của
Hoa Kỳ phần lớn đă đặt sự phát triển giáo dục trên
cơ cấu thượng tầng: tạo đầy đủ chuyên gia để phục vụ
quyền lợi Mỹ. Trái lại, người Việt phải chống Giặc
Dốt từ hạ tầng cơ sở, đặc biệt là đối với nông dân
nghèo và đồng báo các sắc tộc. Dĩ nhiên là kế hoạch
của chúng ta sẽ khác kế hoạch của Hoa Kỳ và chúng ta
cần đến sự giúp đỡ của Chương Tŕnh Phát Triển Liên
Hiệp Quốc như các nước nghèo khác trên thế giới.
TRÓI BUỘC DÂN
TRONG NGU DỐT
Ở Nhật, thời Minh Trị Thiên Hoàng, cuốn Khuyến Học
của Fukuzawa Yukichi được coi là sách gối đầu của
người dân Nhật. Chính cuốn sách này đă làm thay đổi
tư duy của cả một dân tộc, giúp Nhật cường thịnh.
Ông cũng đă dành khá nhiều công sức để thúc đẩy
chương tŕnh cải cách và khai sáng cho các quốc gia
lân cận như Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam. Tại
Việt Nam, để tiếp thu tư tưởng duy tân của Fukuzawa,
cụ Phan Bội Châu đă thành lâp phong trào Duy Tân và
Đông Du, c̣n hai cụ Lương Văn Can và Phan Chu Trinh
đă xây dựng Đông Kinh Nghĩa Thục. Nhưng rất tiếc,
phong trào canh tân này đă không thành công ở cả
Trung Quốc, Triều Tiên lẫn Việt Nam, v́ lúc đó,
triều đ́nh và dân chúng của ba nước này vẫn tiếp tục
miệt mài trong lối học từ chương của Trung Hoa. Họ
không muốn tiếp thu những tư tưởng mới.
Ngày nay, phong trào canh tân về giáo dục đă được
đón nhận tại Nam Hàn và Trung Quốc và đă làm cho hai
nước này cường thịnh, nhưng khi đến Việt Nam, phong
trào này đă bị khựng lại, v́ Đảng CSVN vẫn theo đuổi
chủ trương HỒNG hơn CHUYÊN. Đảng chỉ cần một số
chuyên viên có tŕnh độ kiến thức cao, thường được
gọi là “trí thức xă hội của nghĩa”, để nghiên
cứu và soạn thảo chính sách, c̣n các cấp thừa hành,
kể cả thẩm phán, chỉ cần có tŕnh độ đủ để chấp hành
các chỉ thị được đưa ra. Nói cách khác, Đảng chỉ cần
những người trung thành chứ không cần những người
giỏi.
Để bảo vệ chủ trương trên, Đảng đă thực hiện chế
độ độc quyền giáo dục với hy vọng sẽ uốn nắn mọi
công dân phục tùng chế độ. V́ thế, mặc dầu nền giáo
dục đang bị quá tải và hạ xuống một mức quá thấp,
Đảng nhất quyết không cho tư nhân và các tôn giáo
tham gia vào công tác giáo dục.
Với dân chúng, Đảng chỉ muốn mỗi người biết đọc và
biết viết để có thể đọc các báo tuyên truyền của
Đảng. Học cao hơn, họ có thể nhận ra những sai lầm
của chế độ, nêu lên những tranh luận hay tổ chức đấu
tranh, gây phiền phức cho chế độ. Học phí cứ được
tăng dần lên để loại bớt những người muốn tiếp tục
theo học. Nói một cách tổng quát. Đảng đă đặt
quyền lợi và sự sinh tồn của Đảng trên quyền lợi của
quốc dân.
Tuy nhiên, những nỗ lực bưng bít nói trên càng ngày
càng trở nên vô hiệu quả, v́ hàng chục ngàn người
được đi du học trở về đang làm thay đổi cơ cấu của
Đảng và chính quyền. Hơn 20 triệu người, nhất là
giời trẻ, xử dụng Internet mỗi ngày, đă thu nhận vô
số tư tưởng mới mà Đảng khó ngăn chận được. Một số
người đi Việt Nam về cho biết nhiều người ở trong
nước, từ Nam ra Bắc, đă đọc những bài của chúng tôi
phổ biến trên Internet hàng tuần. Đây là những yếu
tố đang làm thay đổi chế độ.
Có nhiều người Việt chống cộng tưởng rằng cứ lật đổ
chế độ cộng sản, đất nước sẽ phát triển và trở thành
một trong một con rồng của Á Châu. Nhưng vấn đề
không giản dị như vậy. Sau chế độ cộng sản, ngoài
việc phải đối phó với thứ giặc mà Đặng Văn Nhâm đă
đặt tên (nhiều người tin rằng khó tránh được), chúng
ta c̣n phải chiến đấu lâu dài với GIẶC ĐÓI và
GIẶC DỐT mới đưa đất nước đất nước đi lên
được. Cứ nh́n một số nước Á Châu không cộng sản như
Thái Lan, Philippines, Bangladesh, Đông Timor... th́
sẽ thấy.
Kinh nghiệm cho thấy, một quốc gia muốn trở thành
quốc gia phát triển, phải có ít nhất 10% công dân
tốt nghiệp đại học. Hiện nay Việt Nam chỉ mới có 2%
công dân tốt nghiệp đại học, làm sao ngoi đầu lên
được?
Có người đă hỏi Giào Sư Fukuzawa Yukichi: “Trong
công cuộc khai hóa văn minh, dựa vào chính phủ mà
làm có lợi hơn không, v́ chính phủ có quyền lực?”
Ông đă trả lời:
“Để khai hóa văn minh, không thể
dựa vào chính phủ được. Như tôi đă nói, trên thực tế
những ǵ mà chính phủ đang làm chưa có hiệu quả.
Cũng không chắc tư nhân làm lại có kết quả, nhưng về
lư luận nếu có khả năng làm được th́ cần thiết phải
làm thử. Chưa làm thử mà cứ ngồi lo thành công hay
thất bại th́ không thể gọi là dũng cảm.”
“Năm năm về trước, em có dịp về Việt Nam đi với một
đoàn thiện nguyện cũng xây lớp học cùng với một số
người bạn. Sau chuyến đi đó, em về Mỹ và chia xẻ
kinh nghiệm thiếu thốn của những em ở miền quê Việt
Nam. Em và những người bạn thân đă thành lập
Sunflower Mission.”
Sau khi chứng kiến cảnh các em nhỏ ở vùng quê hẻo
lánh không có cơ hội đến trường, cô cùng hội
Sunflower Mission đă quyết định thực hiện các dự án
xây các lớp học cho các em. Bằng nỗ lực của chính
ḿnh cùng các bạn trong nhóm, Elena Trần t́m đến xin
các nhà hảo tâm, hoặc tổ chức các buổi “fashion
show”, bán hàng gây quỹ để kiếm tiền xây lớp học ở
vùng quê xa xôi.
Cô nói: “Năm đầu tiên em đi là đến Bến Tre, Thanh
Thới A và Thanh Thới B. Lớp học mà Sunflower Mission
xây là ở miền quê mà thôi. Lúc đầu là ở Đồng Tháp và
Bến Tre. Hiện nay, đă xây thêm ở Phú Yên, An Giang
và Kiên Giang.”
Cô cho biết, cho đến hôm nay, Sunflower Mission đă
xây được hơn 60 lớp học tại Việt Nam ở những vùng
như Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang và có
hơn 100 hội viên t́nh nguyện.
Điều làm cho cô vui mừng hơn cả là thấy các em nghèo
ở vùng thôn quê hẻo lánh, nơi các lớp học do
Sunflower Mission đến xây dựng, đă có phương tiện
học tập như mong ước của cô là giúp cho các em có
một nền giáo dục căn bản. Có thế may ra mới giúp cải
thiện đời sống nghèo nàn của người nông dân chân lấm
tay bùn.
Chúng tôi mong rằng các tổ chức khác, nhất là các tổ
chức tôn giáo, cũng làm như vậy để dần dần đưa đất
nước thoát khỏi giặc dốt và tiến lên. Đừng chờ ở
chính quyền.