Trong cuốn “American Tragedy: Kennedy, Johnson,
and the Origins of the Vietnam War” (Thảm
kịch của người Mỹ: Kennedy, Johnson, và những Nguồn
gốc của Chiến tranh Việt Nam) sử gia David
Kaiser đă viết:
“Nhiều nhà báo và giới “sử gia b́nh dân” không
hiểu những nguyên tắc căn bản của sử học và cách xử
dụng bằng chứng, và không chịu khó t́m ṭi các tài
liệu nghiêm túc có giá trị cao, mà lại viết lách
lung tung. Đó là một sự thật rất buồn trong cuộc
sống hiện đại.”
David Kaiser là giáo sư về Phân Khoa Chiến Lược và
Chính Trị của Trường Chiến Tranh Hải Quân. Trươc đó
ông đă từng dạy ở Carnegie Mellon, Williams College,
và Harvard University. Ông đă có nhận xét như trên
khi phê b́nh một số nhà báo và sử gia đă viết về
chiến tranh Việt Nam một cách bố lếu bố láo.
ĐI CON ĐƯỜNG CỦA NHÓM ĐỖ MẬU?
Trong những tuần qua, nghe đài Little Saigon ở
Orange County tiếp tục đọc những chuyện “Tản mạn
lịch” của Lê Mạnh Hùng nói về chiền tranh Việt
Nam như những thiên phóng sự có nhạc đệm, chúng tôi
thấy Lê Mạnh Hùng đang rơi vào những trường hợp mà
sử gia David Kaiser đă mô ta nói trên, và càng ngày
ông càng đi vào đường lối của nhóm Đỗ Mậu trong cuốn
“Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”, nhưng khôn
khéo hơn. Chúng tôi gọi là “nhóm Đỗ Mậu”, v́ Đỗ Mậu
chỉ có tŕnh độ tiểu học, không dủ chữ để viết một
cuốn sách dày như thế. Ông chỉ kể một số câu chuyện
rồi những người ném đá giấu tay đă xử dụng ông như
một tên đâm thuê chém muớn để xuyên tạc lịch sử.
Phương pháp của nhóm này là coi những tin đồn ngoài
phố như là sử liệu và chỉ đi t́m những tài liệu được
coi là có lợi cho quan điểm của họ để dẫn chứng,
không cần biết tài liệu đó có giá trị hay không.
Trong bài trước, chúng tôi đă dẫn chứng Lê Mạnh Hùng
cũng đang đi vào chủ trương và con đường của nhóm Đỗ
Mậu: Coi tin đồn ngoài phố như sử liệu, chẳng hạn
như quy kết ông Diệm với ĐHY Spellman, và chỉ xử
dụng những tài liệu nào có thể yểm trợ cho những
quan điểm của ông. Nay ông vẫn tiếp tục đi theo con
đường đó. Trên báo Viêt Tide số 358 ra ngày
23.5.2008, ông đă viết về cuộc đảo chánh ngày
11.11.1960 như sau:
“Trong khi đó chính quyền của ông Diệm sau vụ đảo
chánh hụt của đại tá Nguyễn Chánh Thi vào cuốn năm
1960 càng ngày càng rút lui vào một tường thành
và chống lại những cố gắng của Mỹ để cải tổ chính
trị...”
Cho đến nay, những tài liệu bí mật về vụ đảo chánh
ngày 11.11.1960 đă được tiết lộ hết rồi mà Lê Mạnh
Hùng c̣n cho rằng cuộc đảo chánh đó là do đại tá
Nguyễn Chánh Thi thực hiện như tin đồn ngoài phố
trước đây!
Các tài liệu đă được công bố cho thấy đại tá Nguyễn
Chánh Thi đă được móc nối tham gia đảo chánh nhưng
ông từ chối. V́ thế nhóm Trung Tá Vương Văn Đông,
Trung Tá Nguyễn Triệu Hồng (Đại Việt), Thiếu Tá
Nguyễn Huy Lợi... đă âm mưu với nhau làm đảo chánh.
Khi cuộc đảo chánh sắp được khởi sự, công việc đầu
tiên của nhóm này là đi bắt giữ Đại Tá Nguyễn Chánh
Thi. Trung Tá Vương Văn Đông viết:
“Đúng 11 giờ đêm, theo như
kế hoạch vạch định, trung tá Nguyễn Triệu Hồng, các
thiếu tá Phan Trọng Chinh, Nguyễn Văn Lộc, Trần Văn
Đô, đại úy Nguyễn Thành Chuẩn và tôi tới nhà
riêng đại tá Nguyễn Chánh Thi để bắt đương sự...”
(xem hồi kư của Vương Văn Đông, tr. 127).
Câu chuyện rơ ràng như thế mà Lê Mạnh Hùng vẫn viết
theo tin đồn ngoài phố!
C̣n về trích dẫn báo nọ báo kia, Lê Mạnh Hùng chỉ
cần đọc tài liệu FRUSS 1961 – 1963, Volume IV của Bộ
Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng có thể thấy rơ Toán Harriman
đă xử dụng đài VOA và các kư giả CIA để gây khủng
hoảng cho chính phủ Ngô Đ́nh Diệm như thế nào.
Chuyện ông Diệm “rút lui vào một tường thành và
chống lại những cố gắng của Mỹ để cải tổ chính trị...”
hay bị Toán Harriman dồn chính phủ của ông Diệm vào
thế chân tường để lật đổ, chúng tôi sẽ nói sau.
Có người ở Úc, sau khi đọc bài Chuyện “Tản mạn lịch
sử” của chúng tôi được đăng trên một số báo Việt ngữ
ở Úc, đă gởi email cho chúng tôi và cho biết trước
năm 1975, ông Lê Mạnh Hùng (đừng lầm với Tiến Sĩ
Nguyễn Mạnh Hùng ở Georgetown University, D.C.)
có học trường Massachusetts Institute of Technology
ở Boston và chỉ dậu Master. Ông về Sài G̣n dạy ở
trường Đại Học Kỹ Thuật Phú Thọ. Ông đến định cư tại
Úc vào khoảng năm 1990. Sau đó, ông theo vợ là bà
Phan Lan Hương (con ông Phan Huy Quát, thường gọi
là bà Lê Phan) qua Anh làm cho đài BBC. Lúc rời
Úc, ông không có bằng tiến sĩ. Không biết ông ta đă
học tiến sĩ ở đại học nào mà tờ Việt Tide và đài
Little Saigon quảng cáo rùm beng như thế.
Chúng tôi cho rằng bằng cấp không quan trọng. Tư Mă
Thiên, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, Nguyễn Hiến Lê...
có đậu bằng Tiến Sĩ Sử Học hồi nào đâu, nhưng họ vẫn
được tôn là các sử gia lớn. Vấn đề là phải có những
công tŕnh nghiên cứu về sử học có giá trị mới được
gọi là sử gia.
Vấn đề không phải là bênh hay chống chế độ Ngô Đ́nh
Diệm. Vấn đề là phải TRÀ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ để
các thế hệ sau có thể rút kinh nghiệm.
Trên các số báo Việt Tide tháng 4 năm 2008, ông Lê
Mạnh Hùng đă viết nhiều bài liên tiếp dưới đầu đề “Một
liên minh nhiều sóng gió: Kennedy và Ngô Đ́nh Diệm
(1961-63)”. Nhưng trong bài Chuyện “Tản
mạn lịch sử” phổ biến ngày 2.5.2008, chúng tôi
đă chứng minh rằng đây là một đầu đề hoàn toàn sai
lầm đưa đến một nội dung cũng hoàn toàn sai lầm.
Giữa Tổng Thống Kennedy và ông Diệm không hề có
“sóng gió” nào cả. Chỉ có sóng gió giữa Toán
Harriman và ông Diệm mà thôi. Tổng Thống Kenndy
chẳng những không gây sóng gió cho ông Diệm mà c̣n
t́m cách bảo vệ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm.
Ngày 24.11.1998, Thư Viện John F. Kennedy đă công bố
bộ băng thu tại ṭa Bạch Ốc dài 37 tiếng đồng hồ,
trong đó có đoạn Tổng Thống Kennedy thừa nhận rằng
chính quyền của ông phải chịu một phần trách nhiệm
về việc ám sát Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Bộ băng đó
cho biết hôm 4.11.1963, hai ngày sau khi ông Diệm bị
ám sát, Tổng Thống Kennedy nói:
“Theo sự xét đoán của tôi, bức điện đó (ra lệnh
đảo chánh) đă được soạn thảo tồi tệ. Bức điện đó
phải không bao giờ được gởi vào hôm thứ bảy. Tôi
phải không bao giờ biểu đồng t́nh nếu không được bàn
luận bàn tṛn.”
Tổng Thống Kennedy nói ông đă gởi một bức điện khác
để đ́nh hoản lại nhưng kế hoạch đảo chánh đă được
tiến hành rồi. Tổng Thống Kennedy nói tiếp:
“Tôi bị chấn động v́ cái chết của Ngô Đ́nh
Diệm. Ông ta là một nhân vật khác thường.
Trong khi ông ta bắt đầu gia tăng sự khó khăn trong
vài tháng cuối cùng, ông ta đă có thể duy tŕ được
đất nước về một mối trong 10 tháng cuối cùng.”
Điều này cho thấy khi viết với đầu đề nói trên, ông
Lê Mạnh Hùng đă không nắm vững sự kiện lịch sử và đă
viết bừa.
Trong những số gần đây, ông đă đổi lại đầu đề nói
trên bằng một đầu đề khác như sau: “Căng thẳng
Mỹ Việt và sự sụp đổ của chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa
(1962-1963)”. Đầu đề này khá chính xác hơn
đầu đề nói trên, nhưng vẫn chưa chính xác hoàn toàn,
v́ lúc đó trong chính phủ Kennedy có hai nhóm chủ
trương khác nhau, một nhóm nhất quyết lật đổ ông
Diệm (Toán Harriman) và một nhóm chống lại
chủ trương này, trong đó có ông McCone, Giám Đốc
CIA; Tướng Maxwell D. Taylor, Chủ Tịch Ủy Ban Liên
Quân; Tướng Victor H. Krulak, Phụ Tá Đặc Biệt về
Chống Nổi Dậy và các Hoạt Động Đặc Biệt; Tướng Paul
D. Harkins, Chỉ Huy Trưởng Viện Trợ Quân Sự Mỹ tại
Việt Nam; ông Federick E. Nolting, Đại Sứ Hoa Kỳ
t5ai Việt Nam, v.v.
Vậy nếu viết cho chính xác phải viết: “Căng
thẳng giữa Toán Harriman và Ngô Đ́nh Diệm, và sự sụp
đổ của chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa (1962-1963)”
Roger Hilsman, một viên chức của Bộ Ngoại Giao và là
cố vấn về chính sách Việt Nam, đă được Tổng Thống
Kennedy chỉ định làm Giám Đốc Văn Pḥng T́nh Báo và
Sưu Tầm tại Bộ Ngoại Giao trong năm 1961. Ông được
coi là “một kiến trúc sư chính của chính sách
Hoa Kỳ về Việt Nam” (a principal
architect of U.S. Viet Nam policy). Hilsman làm
việc dưới quyền của Harriman và là một trong những
người chống chính phủ Ngô Đ́nh Diệm quyết liệt sau
này. Sau khi kế hoạch “trung lập hoá” Lào của
Harriman được kư kết ngày 23.7.1962 đưa tới những
thất bại thê thảm và Harriman bị chỉ trích nặng nề,
Roger Hilsman đă thành lập “Toán Việt Nam của
Harriman” (Harriman’s Vietnam team).
Công việc chính của nhóm này là t́m cách phá sập chế
độ Ngô Đ́nh Diệm. Ngoài Roger Hilsman, nhóm này c̣n
có những thành phần chủ chốt sau đây:
1.- Michael V. Forrestal
(1927 – 1989), Trưởng Úy Ban Phối Hợp về Việt Nam
thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia.
2.- William H. Sullivan, một nhà ngoại
giao, Cố Vấn Liên Hiệp Quốc, Văn Pḥng Viễn Đông Sự
Vụ thuộc Bộ Ngoại Giao, được Tổng Thống Kennedy chỉ
định hợp tác với Harriman trong việc thương thuyết
trung lập hoá Lào và sau đó làm Phụ Tá Thứ Trưởng
Ngoại Giao.
3.- Joseph A. Mendenhall,
viên chức Bộ Ngoại Giao, cựu Cố Vấn Chính Trị của
Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sai G̣n, Giám Đốc Sở Phát
Triển Quốc Tế của Phái Bộ Lào, Cố Vấn Liên Hiệp Quốc
và từ ngày 23.6.1963, làm việc tại Văn Pḥng Á Châu
Sự Vụ tại Bộ Ngoại Giao.
4.- Paul H. Kattenburg,
viên chức văn pḥng Bộ Ngoại Giao, Phụ Tá Giám Đốc
Văn Pḥng Đông Nam Á Sự Vụ. Kể từ 4.8.1963 làm Chủ
Tịch Ủy Ban Liên Ngành của Nhóm Hoạt Động
(Working Group) về Việt Nam; và
5.- James Thompson,
một học giả về Á Châu.
Công việc đầu tiên là vào tháng 8 năm 1962, Josehp
A. Mendenhal, một thành viên trong “Toán Việt Nam
của Harriman” được phái qua Việt Nam quan sát rồi về
viết một báo cáo chống chính phủ Ngô Đ́nh Diệm. Báo
cáo nói rằng “chúng ta
không thể thắng cuộc chiến với các phương pháp của
Diệm – Nhu”
và đề nghị làm đảo chánh để lật đổ chính phủ Ngô
Đ́nh Diệm. Bản báo cáo đề nghị phương thức làm đảo
chánh như sau: “Cuộc đảo
chánh phải nằm trong tay Hoa Kỳ, nhưng tránh đừng để
dân chúng nghĩ rằng tân chính phủ là bù nh́n của
chúng ta... Chúng ta đứng đàng sau hậu trường làm cố
vấn, c̣n để cho người Việt thực hiện tất cả.”
(FRUS 1961 – 1963, Volume II, tr. 596 – 601).
Harriman đă thi hành kế hoạch này.
Viết về “Căng thẳng Mỹ Việt và sự sụp đổ của chế
độ Đệ Nhất Cộng Ḥa (1962-1963)” mà không biết
đến công việc của “Toán Việt Nam của Harriman” là
không biết ǵ cả, chỉ nói ṃ.
MỘT
CÁI NH̀N TỔNG QUÁT
Cuốn “Nh́n Lại
Sử Việt” của ông Lê Mạnh Hùng đă được ra
mắt tại hội trường của Đài Little Saigon ở
Orange County, California, vào vào tối thứ sáu
16.11.2007. Một số báo và đài của ta ở hải ngoại
đă bốc thơm gà nhà rất chí t́nh. Thế nhưng ở
trong nước, Hà Văn Thùy đă viết một bài dưới đầu
đề “Nh́n lại sử Việt” – Cuốn sách cần được
viết lại” phê b́nh những sai lầm nghiêm
trọng của Lê Mạnh Hùng trong cuốn sách này. Cho
đến nay, Lê Mạnh Hùng vẫn chưa trả lời.
Nh́n chung, các nhà
phê b́nh nhận thấy lối viết sử của Lê Mạnh Hùng
vi phạm những sai lầm sau đây:
(1) Lê Mạnh Hùng không quan tâm đến trọng
điểm của các biến cố mà chỉ nói ṿng ṿng xung
quanh rồi coi đó là lịch sử. Khi viết về “Căng
thẳng Mỹ Việt và sự sụp đổ của chế độ Đệ Nhất
Cộng Ḥa (1962-1963)” mà không nói ǵ đến sự
lộng hành của Toán Harriman đưa đến những hậu
quả nghiêm trọng th́ không thể thấy vấn đề được.
(2) Lê Mạnh Hùng chỉ lựa chọn những tài liệu
thuận theo quan niệm của ḿnh, c̣n những khác
liệu khác, kể cả các tài liệu nghiêm túc có giá
trị cao, đều bị ông loại ra ngoài. Viết sử như
thế không thể khách quan được.
(3) Lê Mạnh Hùng không tiếp cận với những
thông tin mới nhất nên trở thành lỗi thời. Khi
viết về chiến tranh Việt Nam mà Lê Mạnh Hùng
không hề biết đến những tài liệu chính thức được
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và CIA giải mă trong thời
gian gân đây, cứ tiếp tục ôm chặt những cách
nh́n sai lạc cũ và đi theo định hướng của nhóm
Đỗ Mậu..., nên không thể viết chính xác được.
Khi chúng tôi tŕnh bày về biến cố Phật Giáo năm
1963, độc giả sẽ thấy rơ Lê Mạnh Hùng đă lỗi
thời như thế nào.
(4) Hạ mục vô nhân: Lê Mạnh Hùng tưởng rằng
ngoài ḿnh ra không ai biết về sử liệu hơn ḿnh
nên đă múa gậy vườn hoang.
Điều đáng tiếc là
những bài viết thiếu chính xác như thế lại được
Đài Little Saigon ở Orange County đưa lên làm
“phóng sự” với nhạc đệm!
Lữ Giang