Qua một cuộc bầu
Lữ Giang
Trong thời
gian chiến tranh lạnh cũng
như sau chiến tranh lạnh,
CSVN và người Việt chống
cộng không bao giờ đội trời
chung, mỗi bên nh́n về một
hướng, và hể có cơ hội là tố
cáo nhau, chửi bới nhau...
Thậm chí ngày 1.2.1964,
Tướng Nguyễn Khánh c̣n ban
hành Sắc Luật số 093/SL/CT “đặt
Chủ Nghĩa Cộng Sản và thuyết
Trung Lập thân cộng ra ngoài
ṿng pháp luật”. Thế
nhưng, trong cuộc bầu cử
Tổng Thống Hoa Kỳ vừa qua,
hai bên đối nghịch đă cùng
nh́n về McCain: Cả hai cùng
ủng hộ Thướng Nghị Sỹ McCain
và cả hai cùng áp dụng
phương pháp vận động hậu
trường gióng nhau!
CÙNG ỦNG HỘ McCAIN
Một cuộc thăm
ḍ cho thấy có đến 52% người
Mỹ gốc Việt ủng hộ McCain
nhiệt t́nh. Ông Nguyễn Ngọc
Bích đă thành lập một ủy ban
vận động cho ông McCain. Gần
như khắp nơi trên nước Mỹ,
những nơi có đông người
Việt, đều có những chiến
dịch vận động cho ông McCain
như hội thảo, biểu t́nh hoặc
mở các buổi nói chuyện trên
các chương tŕnh truyền
thanh, truyền h́nh để cổ
động cho ông McCain. Chỉ có
khoảng 21% không thích ông
McCain. Tại thủ đô Little
Saigon, ngày 17.10.2008 đă
có một cuộc biểu t́nh nhỏ
ủng hộ Obama.
Trong khi đó,
nhà cầm quyền Hà Nội cho
xuất hiện ba tên c̣ mồi đứng
ra tuyên bố ủng hộ McCain.
Người thứ
nhất là ông Lê Trần Lụa, 61
tuổi, được nói là người đă
vớt ông McCain lên khỏi hồ
Trúc Bạch ở Hà Nội năm 1967,
khi máy bay của ông McCain
bị trúng đạn và ông ta phải
nhảy dù xuống đó.
Ông Lụa nói
về hy vọng thắng cử của ông
McCain như sau:
"Thông qua
báo chí và t́m hiểu thông
tin th́ chúng tôi thấy là
ông John McCain có thể thắng
cử, bởi v́ ông đă qua sự đào
tạo, thứ hai là ông McCain
đă làm được những việc cho
đất nuớc Mỹ. Trên chiến
trường chính trị th́ ông
cũng có tham gia, gây được
ấn tượng nên ông có thể
thắng cử".
Người thứ hai
là Bà Nguyễn Thị Thanh, 81
tuổi, được nói là nguyên cán
bộ y tế quận Ba Đ́nh, Hà
Nội, hiện đang ngụ ở phố
Thụy Khê. Bà kể lại rằng hôm
đó bà nghe tiếng dân reo ḥ
“Có phi công rơi xuống hồ”.
Một lúc sau, đoàn người rất
đông, có cả công an, khiêng
một thanh niên trắng trẻo,
đẹp trai. Ông ta mềm oặt
người và xanh lả, chân tay
không cử động được, mắt nhắm
nghiền. Với nhiệm vụ của
ḿnh, bà kiểm tra mạch và
cho ông ta uống ngay 3 th́a
nước cấp cứu. Thấy ông ta
cũng nhấp môi uống. C̣n hai
cái nẹp, bà nẹp tay phải và
chân trái của ông ta để đỡ
đau. Lúc đó bà không biết
ông ta là John McCain đâu.
Khi được hỏi bây giờ ông
McCain đang tranh cử tổng
thống, nếu ông ấy thành công
th́ liệu đây có phải là điều
tốt cho quan hệ VN-Hoa Kỳ
không, bà trả lời:
“Cái đó
th́ c̣n là ẩn số, ḿnh cũng
chẳng biết được. Nhưng ông
John McCain nay có thiện cảm
với VN, đi lại VN nhiều lần,
t́nh hữu nghị hai nước cũng
đang tiến bộ, thương mại
buôn bán tốt...”
Người thứ ba
là ông Trần Trọng Duyệt, 75
tuổi, hiện ở Hải Pḥng. Ông
được mô tả như một cai ngục
ở nhà tù Hoả Ḷ trong thời
gian từ 1968 – 1973, tức
thời gian ông McCain bị giam
ở đó.
Trả lời cuộc
phỏng vấn của phóng viên
hăng AP, ông Duyệt nói rằng
nếu ông ta là một cử tri Mỹ,
ông ta sẽ bầu cho McCain.
Ông ta cũng chối bỏ việc tra
tấn các tù nhân chiến tranh
và cho rằng McCain bày ra
chuyện bị đánh đập và biệt
giam với mục đích kiếm
phiếu.
Theo hăng
thông tấn AP, những lời
tuyên bố của Trần Trọng
Duyệt xem ra phản ảnh toàn
bộ đường lối của nhà lănh
đạo cộng sản đối với Hoa Kỳ
(His statements seem to echo
the communist leadership's
overall line on America).
Như vậy ông
McCain được cả người Việt
cộng sản lẫn người Việt
chống cộng ủng hộ. Tuy
nhiên, trong cuộc bầu cử vừa
qua, nhà cầm quyền CSVN cũng
như cộng đồng người Việt tại
Hoa Kỳ đă phạm phải sai lầm
nghiêm trọng khi công khai
ủng hộ ông McCain ngay từ
đầu v́ không nắm vũng quy
luật bầu cử và vận động hậu
trường ở Mỹ.
NHỮNG NỖ LỰC
KHÔNG ĐỀN BÙ
Đa số cử tri
người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ
không hiểu rằng đối với cuộc
bầu cử tổng thống tại Hoa
Kỳ, con số cử tri người Mỹ
gốc Việt tại Hoa Kỳ quá nhỏ
bé (khoảng 0,34%) nên không
thể gây một tác dụng nào.
Một thí dụ cụ
thể là trường hợp của
California, nơi có đông
người Việt cư ngụ: Hai thành
phố có đông người Việt nhất
là Westminster (20%) và
Garden Grove (10%). Trong
các cuộc bầu cử nửa mùa,
người Mỹ da trắng và người
Mễ lười đi bầu, người Việt
chiếm thế thượng phong. Năm
nay bầu cử tổng quát, người
Mỹ da trắng và người Mễ đi
bầu đông, các ứng cử viên
người Việt bị trụt xuống
phiá dưới xa.
Bầu cử tổng
thống lại khó khăn hơn: Số
cử tri người Việt tại Orange
County khoảng 95.000
(75.000 năm 2004)
trên tổng số
1.607.989 cử tri. Orange
County được coi là thành tŕ
của Đảng Cộng Hoà, nên số
phiếu của cử tri người Việt
(thường đi bầu chỉ 60%)
đă
góp phần gia tăng số phiều
cho ông McCain. Kết quả:
McCain được 469.124 phiếu,
chiếm 51.0%, và Obama
433.988 phiều, chiếm 47.2%.
Tuy nhiên,
khi đi lên cầp tiểu bang, số
phiều của người Việt chẳng
c̣n ảnh hưởng ǵ v́ hai lư
do: Lư do thứ nhất là tổng
số cử tri ở California lên
đến 17.300.000, trong khi số
cử tri của người Việt quá ít
oi. Lư do thứ hai:
California với số cử tri
đoàn rất lớn (54) vốn là
thành tŕ của Đảng Dân Chủ.
Do đó, cả ông McCain lẫn ông
Obama đều không đến vận
động, v́ chuyện Đảng Dân Chủ
thắng ở California được coi
là đương nhiên!
Kết quả đúng
như vậy: Ông Obama được
6.653.393 phiếu, chiếm
61.0%, c̣n ông McCain chỉ
được 4.067.264, chiếm 37.3%.
Như vậy, số phiếu của người
Việt dồn cho ông McCain ở
California không ảnh hưởng
ǵ đến kết quả cuộc bầu cử
tổng thống tại đây. Chúng ta
không ngạc nhiên khi thấy
các nhà phân tích đă gọi
những nỗ lực của người Việt
tại California để ủng hộ ông
McCain là “những nỗ
lục không được đền bù”.
QUY LUẬT “PHÙ THỊNH
BẤT PHÙ SUY”
Hôm 5.9.2008,
khi xuất hiện trước đám đông
tại Sterling Heights,
Michigan, ông McCain đă
tuyên bố rất ngon lành:
“Hết rồi!
Xong rồi! Hết rồi cho những
nhóm biệt lợi. Chúng tôi sẽ
bắt đầu làm việc cho người
dân của đất nước này”.
Dân chúng vổ
tay và hoan hô rất náo
nhiệt.
Thật ra, ông
McCain chỉ lặp lại lời tuyên
bố của ông trong cuộc nói
chuyện tại Nashua, New
Hampshire ngày 27.9.1999 và
thường được báo chí Mỹ nhắc
đi nhắc lại. Câu nói đó như
sau:
“Đây là một
cuộc tranh đấu để lấy lại
chính quyền của chúng ta nơi
những người mối lái đầy
quyền lực (power brokers) và
các tập đoàn có đặc quyền
đặc lợi
(special interests),
và trả lại nó cho dân chúng
và chính nghĩa cao qúy của
tự do đă được dựng lên để
phục vụ.”
Ông Obama khi
mới thắng cử cũng đă vội
tuyên bố rằng ông sẽ không
chịu áp lực của các nhóm vận
động hậu trường (lobbyists).
Có lẽ v́ thấy
hai tập đoàn đấu thầu quốc
pḥng và đấu thần dầu lửa đă
quá lộng hành dưới hai nhiệm
kỳ của ông Bush, gây khó
khăn cho nền kinh tế Mỹ, nên
hai ông phải nói như vậy để
trấn an dư luận mà thôi, chứ
chẳng ai, dù McCain hay
Obama, thoát khỏi tay của
những tập đoàn lớn.
Tại Hoa Kỳ,
có những tập đoàn lớn đă
“đẻ” ra tổng thống cho từng
nhiệm kỳ, nhưng đa số các
nhóm đă vận động hậu trường
để đạt tới những mưu tiêu mà
họ mong muốn, kể cả những
nhóm tranh đấu cho quê hương
của họ. Họ đă làm ǵ mỗi khi
có cuộc bầu lại tổng thống?
Có lần chúng
tôi được giới thiệu gặp một
bang trưởng Tàu lớn ở Los
Angelos. Sau câu hỏi xă
giao, chúng tôi hỏi ngay:
“Lần này nên bầu cho ông
Kerry hay ông Bush?”
Ông ta
cười và nói:
Chúng ta không
theo ông nào hết và đừng
quan tâm đến những đường lối
và chủ trương mà các ông ấy
đưa ra, chẳng nghĩa lư ǵ
đâu.
“Nguyên tắc của
vận động hậu trường là phù
thịnh bất phù suy”:
Cứ thấy ông nào chắc đắc cử
là chồng tiền cho ông đó.
Nếu thấy hai ông ngang ngữa,
chia ra làm đôi, mỗi bên một
nữa. Như vậy trận nào chúng
ta cũng thắng!
Nh́n lại cuộc
vận động hậu trường của CSVN
và cộng đồng người Việt hải
ngoại tại Hoa Kỳ qua cuộc
bầu cử vừa qua, chúng ta
thấy cả hai đều chưa nắm
được quy luật “phù
thịnh bất phù suy”,
nên mặc dầu thấy ông McCain
chắc thua, vẫn cố gắng ôm
cẳng! Ôm cẳng theo cái lối
này chẳng những không được
lợi lộc ǵ mà có khi c̣n gây
khó khăn cho chính ḿnh. Vă
lại, mặc dầu đă 33 năm,
người Việt ở Mỹ vẫn chưa có
thói quen vận động bằng
tiền, một h́nh thức vận động
có kết quả nhất.
ĐÂU LÀ SỰ
THẬT LỊCH SỬ?
Cả ba nhân
vật mà Hà Nội cho xuất hiện
để ủng hộ McCain đều xác
quyết rằng ông McCain không
hề bị đánh đập và tra tấn
khi bị bắt, trái lại ông ta
đă được đối xử rất tử tế. Sự
thật như thế nào? Xin mời
qúy vị đọc tập hồi kư do
chính ông McCain ghi lại
(NHL chuyển ngữ)
là thấy rơ
sự thật ngay:
“Tôi chuẩn bị
cho chuyến oanh tạc miền Bắc
Việt Nam lần thứ 23 của tôi
từ sáng sớm – đó là trận
đánh đầu tiên vào thủ đô của
địch, Hà Nội" Ứng cử viên
Tổng Thống Hoa Kỳ John
McCain viết.
[tường thuật]
Mục tiêu của chúng tôi là
nhà máy nhiệt điện ở gần một
cái hồ nhỏ giữa thành phố.
Trên độ cao khoảng 9000
feet, khi chúng tôi chuyển
hướng vào phía trong thành
phố để tới mục tiêu th́ đèn
báo động loé sáng và tín
hiệu báo có ra đa địch bắt
đầu vang lên lớn đến nỗi tôi
phải tắt nó đi.
Tôi đă nh́n thấy khói và bụi
bốc lên từ mặt đất như những
đám mây khổng lồ khi hỏa
tiễn đất đối không bắn vào
chúng tôi. Chúng tôi càng
tới gần mục tiêu, hệ thống
pḥng không càng ác liệt
hơn.
Tôi nhận ra mục tiêu ở cạnh
một cái hồ nhỏ và tôi nhào
ngay xuống đó vừa lúc tín
hiệu báo động ngưng kêu để
báo cho tôi biết là hoả tiễn
địch đang lao vào tôi.
Tôi biết là phải cho máy bay
lăn ṿng ra phiá ngoài và
dùng thao tác tránh né – bay
"luồn lách" theo cách nói
của các phi công – nhưng
chính đó là lúc tôi sắp sửa
thả bom, và nếu tôi bay luồn
lách th́ tôi sẽ không bao
giờ có thời gian, và chắc
chắn là cũng không có cả can
đảm để bay trở lại mục tiêu,
một khi tôi thoát được qủa
hoả tiễn đó.
Như vậy là từ độ cao 1000
mét, tôi thả qủa bom, rồi
tôi kéo cần lái trở lại để
bắt đầu cho máy bay vọt
thẳng lên một độ cao an toàn
hơn. Trong giây phút chớp
nhoáng, trước khi máy bay
bắt đầu phản ứng th́ qủa hoả
tiễn đă thổi tung mất cánh
máy bay bên phải.
Tôi biết là máy bay của ḿnh
đă bị hoả tiễn bắn trúng.
Chiếc máy bay A-4 của tôi
đang bay với tốc độ khoảng
900 cây số/giờ, đă lao nhanh
xuống mặt đất theo ṿng xoáy
chôn ốc. Khi bị trúng hoả
tiễn, tôi đă phản ứng một
cách máy móc là với lấy và
kéo cái cần bật của ghế
ngồi.
Tôi bị đập vào máy bay làm
găy cánh tay trái, ba chỗ
của cánh tay phải, đầu gối
phải và ngất đi. Những người
chứng kiến nói rằng cái dù
của tôi chỉ vừa mở là tôi
rớt ngay xuống chỗ nước nông
của hồ Trúc Bạch.
Đồ trang bị trên người nặng
khoảng 25 ki-lô, tôi ch́m
xuống đáy hồ, và chạm đất
bằng cái chân c̣n lành của
tôi. Tôi không hề cảm thấy
đau khi chạm đáy hồ, và tôi
không hiểu tại sao tôi không
thể dùng cánh tay để kéo cái
chốt áo cứu đắm của tôi.
Tôi lại bị ch́m xuống đáy hồ
một lần nữa.
Khi chạm đáy hồ lần thứ hai,
tôi đă cố gắng để bơm phồng
cái áo cứu đắm của tôi bằng
cách dùng răng để kéo cái
chốt của nó ra. Sau đó tôi
lại bị bất tỉnh một lần nữa.
Lần thứ hai bị ch́m th́ tôi
được kéo lên bờ bằng những
cái sào tre. Một đám đông
khoảng vài trăm người Việt
Nam bu quanh tôi, lột trần
tôi ra, khạc nhổ vào mặt
tôi, đá và đánh tôi.
Sau khi quần áo và đồ trang
bị của tôi bị lột ra hết,
tôi thấy đau nhói ở đầu gối
bên phải. Tôi nh́n xuống th́
thấy cái bàn chân phải của
tôi nằm ngay cạnh đầu gối
bên trái của tôi ở một góc
90 độ. Tôi bật kêu lên:
"Trời ơi! Cái chân của tôi!"
Một người nào đó đă dùng
báng súng phang mạnh vào tôi
làm xương vai của tôi bị gẫy
ra. Một người khác th́ dùng
lưỡi lê đâm vào mắt cá chân
và háng của tôi. Môt người
đàn bà, có thể là nữ y tá,
đă cố gắng thuyết phục đám
đông không nên hành hạ tôi
thêm nữa. Sau đó bà ấy dùng
các thanh nẹp tre để kẹp
chân và cánh tay phải của
tôi. Tôi cảm thấy đôi chút
nhẹ nhơm khi chiếc xe tải
của quân đội tới chỗ tôi bị
bắt.
Mấy người lính đặt tôi vào
cái cáng, mang lên xe tải và
lái đi vài khu phố tới một
nhà tù được xây cất theo
kiểu Pháp, đó là Hoả Ḷ mà
tù binh chúng tôi gọi là
khách sạn Hilton Hà Nội. Khi
cánh cửa sắt đồ sộ được đóng
lai vang lên tiếng loảng
xoảng phía sau tôi, tôi chưa
bao giờ cảm thấy khiếp sợ
ghê gớm như vậy. Hôm đó là
ngày 26 tháng 10, năm 1967.
Lúc đó tôi 31 tuổi, và là
Thiếu Tá Hải Quân Hoa Kỳ khi
máy bay của tôi bị bắn rớt.
Suốt hai thế kỷ, thanh niên
trong ḍng họ tôi được dạy
dỗ để ra chiến trường với tư
cách là sỹ quan trong quân
lực Hoa Kỳ. Tôi là con và
cháu của các sỹ quan Hải
Quân, và cha của tôi tin
tưởng rằng mỗi khi gặp
nghịch cảnh, tôi phải noi
theo những tấm gương mà cha
tôi đă nêu lên.
Mấy người lính dẫn tôi vào
trong một xà lim trống, đặt
cái cáng tôi đang nằm trong
đó xuống sàn và phủ cái chăn
lên ḿnh tôi. Trong vài ngày
sau, tôi sống trong t́nh
trạng lúc tỉnh, lúc mê.
Những người hỏi cung gọi tôi
là tội phạm chiến tranh, và
khai thác tin tức quân sự.
Họ đánh đập tôi liên hồi, và
tôi bắt đầu cảm thấy đau
khủng khiếp ở những chỗ chân
tay bị găy.
Tôi bất tỉnh sau vài cú
đánh.
Tôi nghĩ, nếu ḿnh có thể
chịu đựng được, họ sẽ mủi
ḷng và đưa tôi đi bệnh
viện. Nhưng tới ngày thứ tư,
tôi nhận biết t́nh trạng của
tôi đă trở nên nghiêm trọng
hơn. Tôi bị sốt nóng và thời
gian bất tỉnh trở nên lâu
hơn. Tôi nằm trong cái vũng
của những thứ do tôi nôn mửa
cùng với những thứ do cơ thể
tôi bài tiết ra, và đầu gối
tôi đă bắt đầu xưng tấy lên
khủng khiếp và bị biến mầu
đi. Nhân viên y tế gọi Zorba
tới bắt mạch cho tôi.
Tôi hỏi rằng:
"Các ông sắp đưa tôi đi bệnh
viện có phải không?
Ông ta trả lời: "Không, quá
trễ rồi"
Nỗi kinh
hoàng về cái chết ập tới bất
thần. Người Việt Nam luôn
luôn từ chối điều trị cho
những người bị thương trầm
trọng. Thật là hạnh phúc,
tôi lại rơi vào cơn mê. Một
lúc sau tôi tỉnh lại khi
viên trưởng trại, một tên
chó đẻ hèn hạ tên là Bug
[Bắc] xô vào xà lim của tôi
với vẻ hốt hoảng, lớn tiếng
rằng: "Cha của anh là một Đô
Đốc có uy tín lớn, bây giờ
chúng tôi đưa anh đi bệnh
viện".
"Xin Trời ban phước cho cha
tôi!”
Thật không thể hiểu được nếu
không nh́n thấy họ đă sung
sướng biết bao khi bắt được
con trai của một Đô Đốc và
tôi hiểu rằng chính cái địa
vị của cha tôi đă trực tiếp
liên can đến sự sống c̣n của
tôi.
Tôi được chuyển đến một bệnh
viện ở trung tâm thành phố
Hà Nội. Tới hai ngày sau đó,
tôi thấy ḿnh nằm trong một
căn pḥng bẩn thỉu, muỗi
"nhiều như trấu" và chuột
nữa. Mỗi khi trời mưa, bùn
và nước đọng thành vũng
trong sàn nhà. Không có ai
lưu tâm đến việc giúp tôi
rửa những cáu ghét nhầy nhụa
trên thân thể tôi. Tôi đă
bắt đầu phục hồi được trí
năo, và những người thẩm vấn
đă tới bệnh viện để tiếp tục
làm việc. Sự đánh đập cũng
giới hạn trong thời gian
ngắn bởi v́ tôi đă thốt ra
những tiếng kêu thét rợn tóc
gáy khi tôi bị đánh và những
người thẩm vấn tôi tỏ ra lo
ngại rằng nhân viên của bệnh
viện có thể phản đối họ.
Cuối cùng th́ tôi cho họ
biết tên chiến hạm của tôi
và số hiệu của hạm đội. Khi
bị hỏi về những mục tiêu dự
trù trong tương lai, tôi kể
tên những thành phố đă từng
bị oanh tạc.
Đầu tháng 12, họ giải phẫu
chân phải của tôi, cắt hết
các giây chằng ở một bên đầu
gối, chỗ đó không bao giờ có
thể hồi phục hoàn toàn được.
Tới cuối tháng 12, họ quyết
định cho tôi xuất viện. Tôi
bị sốt cao độ, tiêu chảy và
mất khoảng 25 ki lô, chỉ c̣n
nặng 45 ki lô thôi. Ngực tôi
vẫn c̣n bó bột và chân đau
nhừ tử.
Tôi bị bịt mắt, đặt trong
thùng xe tải và đưa tới một
nhà tù gọi là Đồn Điền
(The
Plantation).
Thật là một
niềm khuây khỏa lớn lao cho
tôi, v́ được giam chung xà
lim với 2 người tù khác là
hai Thiếu Tá không quân
"Bud" Day và Norris Overly.
Có một điều không thể nghi
ngờ được là chính Bud và
Norris đă cứu mạng sống của
tôi. Sau đó hai người này đă
nói ra cái ấn tượng đầu tiên
của họ khi gặp tôi là thấy
tôi sinh lực kiệt quệ, mắt
lồi ra, đờ đẫn v́ sốt, đó là
một người đứng trước ngưỡng
cửa của tử thần. Hai bạn đó
nghĩ rằng người Việt Nam đợi
cho tôi chết và giao tôi cho
hai bạn đó săn sóc tôi để họ
khỏi bị lên án nếu tôi chết.
Bud đă bị thương nặng khi
nhảy dù khẩn cấp ra khỏi máy
bay. Sau khi bị bắt, anh ấy
đă trốn thoát gần tới một
phi trường dă chiến của Mỹ
th́ bị bắt lại. Bọn người
bắt anh ấy đă dùng ṿng
tḥng lọng bằng giây thừng
để cuốn quanh vai của anh ấy
rồi xiết thật chặt cho tới
khi hai bả vai của anh ấy
hầu như sắp chạm vào nhau,
rồi trói hai cánh tay của
anh ấy lại và treo anh lên
xà nhà của nơi tra tấn làm
hai vai của anh ấy bị xé rời
nhau ra. T́nh trạng như thế
kéo dài trong nhiều giờ đồng
hồ. Bud không bao giờ chấp
nhận sự khai thác của người
Việt Nam về những tin tức
quân sự. Thà Bud để cho bọn
đó đập gẫy cánh tay phải của
anh lần thứ hai, đó là cánh
tay vốn dĩ đă bị gẫy, và
chúng c̣n doạ đập gẫy nốt
cánh tay kia, chứ anh không
hề cho chúng một mẩu tin
nào.
V́ những thương tích của Bud
nên anh không thể giúp ǵ
trong việc săn sóc thân thể
của tôi. Norris là người có
bản chất hoà nhă, nhẫn nhục,
đă làm vệ sinh thân thể cho
tôi, đút cho tôi ăn và giúp
tôi đổ bô phân và nước tiểu.
Nhờ có hai người bạn này,
tôi đă bắt đầu hồi phục. Tôi
đă sớm tự đứng dậy và có thể
dùng đôi nạng để đi lại
trong cái xà lim đó. Tháng 4
năm 1968, Bud bị chuyển đi
nhà tù khác. Norris th́ được
trả tự do dưới cái gọi là
"ân xá" và tôi c̣n bị giam
riêng trong hai năm nữa. Mặc
dàu tôi c̣n phải dùng đôi
nạng để đi lại khập khiễng
trong xà lim của tôi, h́nh
dạng tôi vẫn c̣n thê thảm
lắm, tôi không thể nhặt lên
hoặc cầm bất cứ một cái ǵ.
Bệnh kiết lỵ đả làm tôi khổ
sở. Thức ăn và nước uống bị
thải ra ngay tức khắc, và dạ
dày bị đau quặn đă làm tôi
rất khó ngủ.
Cô độc là một vấn đề hải
hùng, nó đă đè bẹp tinh thần
và làm suy yếu sức kháng cự
của con người một cách có
hiệu quả hơn bất cứ một h́nh
thức hành hạ nào khác.
Không có ai để tham vấn, con
người bắt đầu nghi ngờ sự
phán xét và can đảm của
ḿnh. Vài tuần lễ đầu tiên
là gay go nhất. Tuyệt vọng
ập đến ngay tức khắc, và đó
là một kẻ thù ghê gớm, tôi
đă phải dựng lại trong trí
nhớ những cuốn sách, những
bộ phim mà tôi đă thưởng
thức.
Tôi đă thử viết sách và kịch
bản về chính ḿnh, tŕnh
diễn những chuỗi sự kiện
trong cô đơn của xà lim. Tôi
phải thận trọng ngăn ngừa
trí tưởng tượng đă trở nên
mănh liệt đến nỗi thường
xuyên đưa đẩy tôi tới một
nơi trong tâm trí mà từ đó
tôi không thể trở lại được
nữa.
Xà lim của tôi đối diện với
pḥng thẩm vấn ở bên kia
sân. Giường nằm là một tấm
ván, và một cái bóng đèn
treo lủng lẳng trên sợi giây
điện từ trần nhà tḥng
xuống. Bóng đèn thắp sáng
suốt ngày đêm. Cộng thêm với
những khổ sở của chúng tôi
là cái mái nhà lợp tôn đă
làm tăng cái nóng của mùa hè
lên khoảng 5 độ hoặc hơn
thế.
Giữa tháng 6 năm 1968, viên
Trưởng Trại gọi tôi tới gặp
hắn, có bày ra bánh bích
quy, thuốc lá và hỏi tôi có
muốn về với gia đ́nh không.
Tôi muốn nói là có: Tôi bị
mỏi mệt, bệnh hoạn và sợ
hăi. Nhưng cái Quy Tắc Hành
Xử đă rơ ràng: "Những tù
nhân Mỹ không thể chấp nhận
tha có điều kiện, ân xá hoặc
đặc ân". Tôi nói là để tôi
suy nghĩ về vấn đề đó. Tôi
hiểu việc phóng thích tôi sẽ
ảnh hưởng như thế nào tới
cha tôi và các bạn đồng tù,
và sau đó tôi được biết cái
mà người Việt Nam hy vọng sẽ
dành được.
Ngày 4 tháng 7 cha tôi được
thăng lên chức Tư Lệnh Thái
B́nh Dương. Phía Việt Nam
định chào mừng cha tôi bằng
một ấn tượng tuyên truyền
gây chú ư là trả tự do cho
con trai của ông và coi đó
như một hành động "thiện chí".
Hai tháng trôi qua, không có
ǵ xảy ra. Và những đợt hành
hạ lại bắt đầu. Tôi bị lôi
vào trong căn pḥng trống và
giam ở đó 4 ngày. Từng đợt,
bọn lính gác trở lại đánh
đập tôi. Một tên giữ tôi cho
những tên khác đánh đập túi
bụi. Tôi bị găy mấy xương
sườn và hai cái răng. Suy
nhược v́ bị đánh đập và kiết
lỵ, chân phải của tôi lại
trở nên vô dụng, do đó tôi
không thể đứng được.
Tới đêm thứ ba th́ tôi nằm
trên máu, phân và nước tiểu
của ḿnh, v́ mệt mỏi và đau
đớn, tôi không thể chuyển
động được. Ba tên lính gác
đỡ cho tôi đứng dậy rồi
chúng đánh tôi cực kỳ khủng
khiếp. Chúng để tôi nằm trên
sàn nhà rên rỉ v́ cực kỳ đau
đớn ở cánh tay lại mới bị
găy ra.
Tuyệt vọng v́ đau đớn không
thuyên giảm và tra tấn th́
tàn bạo hơn. Tôi cố tự sát.
Sau vài lần không thành công,
tôi t́m cách để đứng dậy.
Lật úp cái bô đựng phân và
nước tiểu, tôi đứng lên đó,
níu vào tường bằng cánh tay
c̣n lành, tôi luồn cáo áo
của tôi qua cái cửa chớp và
buộc thành ṿng tṛn. Khi
tôi đang lồng cái ṿng ấy
vào cổ. Tên lính gác nh́n
thấy cái áo của tôi luồn qua
cửa sồ, kéo tôi xuống và
đánh tôi. Sau đó tôi lại làm
lần thứ hai, một cố gắng tự
sát nhẹ nhàng hơn. Vào ngày
thứ tư, tôi đành chịu thua.
Tôi đă kư vào bản tự thú
rằng: "Tôi là một tên tội
phạm độc hại, và tôi đă thực
hiện những công việc của một
phi công". Mấy tên lính gác
bắt tôi cho thâu lời thú tội
này vào trong băng ghi âm.
Tôi từ chối, và bị đánh đập
cho tới khi tôi đồng ư.
Đó là hai tuần lễ kinh khủng
nhất trong đời tôi. Tôi rùng
ḿnh, như thể sự nhục nhă
của tôi là một cơn sốt, và
sẽ không c̣n ai nh́n tới tôi
nữa, ngoại trừ trong sự
thương hại hoặc khinh bỉ.
Người Việt Nam dường như
không bao giờ bận tâm tới
việc làm thương tổn tới
chúng tôi, nhưng họ luôn
luôn thận trọng không để
chúng tôi bị chết.
Chúng tôi tin chắc rằng một
số tù binh đă bị tra tấn tới
chết và hầu hết là bị đối xử
dă man. Có một người, Dick
Stratton, có những vết sẹo
lớn bị nhiễm độc trên hai
cánh tay v́ bị tra tấn bằng
giây thừng. Hai móng ngón
tay cái bị xé rách toạc ra,
và anh ấy bị châm bỏng bằng
thuốc lá.
Tuy nhiên, người Việt Nam
đánh giá chúng tôi như những
con bài để mặc cả trong vấn
đề thương lượng hoà b́nh, và
thường th́ họ không có ư
định giết chúng tôi khi họ
tra tấn để buộc chúng tôi
phải hợp tác với họ.
Tới cuối năm 1969, những sự
đánh đập thường lệ được
ngừng lại, thỉnh thoảng
chúng tôi nhận được những
khẩu phần ăn thêm. Hoàn cảnh
của chúng tôi không c̣n thảm
khốc như những năm trước đó
nữa.
Tôi được trả tự do và trở về
Mỹ khi chiến tranh kết thúc,
tính tới tháng 3 năm 1973,
tôi đă bị cầm tù trong 5 năm
rưỡi.
Chúng tôi được dạy phải có
niềm tin nơi Thượng Đế, nơi
tổ quốc, và tin nhau. Hầu
hết chúng tôi đă sống như
vậy. Nhưng điều cuối cùng
của những niềm tin này -
niềm tin vào nhau – là vũ
khí pḥng vệ tối hậu của
chúng ta, là những thành lũy
mà kẻ thù của chúng ta không
thể vượt qua được. Đó là
niềm tin tôi đă ấp ủ từ
trong Học Viện Hải Quân.
Đó là niềm
tin của cha tôi, ông tôi.
Trong nhà tù, tôi là một
người dơ dáy, què quặt, suy
nhược, tất cả những ǵ tôi
c̣n giữ lại trong phẩm hạnh
của tôi là niềm tin của cha-ông
(FATHERS) tôi. Như vậy là đủ.”
(Phỏng theo
và trích dẫn từ niềm tin của
Tổ Tiên ḍng họ tôi, tác giả:
JOHN McCAIN)
Lữ Giang
Ghi chú:
Muốn t́m các bài của chúng
tôi, xin vào website
motgoctroi.com, mục
“Mỗi tuần
một chuyện”
Có người hỏi
tại sao đọc bài trên
Internet hơi khác trên báo.
Chúng tôi xin thưa rằng bài
đưa lên Internet đă được
điều chỉnh và bổ túc thêm
nên hơi khác.