♠
www.motgoctroi.com
mến chào bạn
Nói như con vẹt
Lữ Giang
Hôm
13.10.2008 đài BBC đă công
bố bài phỏng vấn bà Nguyễn
Thị B́nh vào tháng 8 vừa qua
tại Hà Nội về nhiều vấn đề.
Người phỏng vấn là Xuân Hồng.
Bà B́nh nguyên là Ủy viên
Trung ương Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam, Trưởng đoàn
thương thuyết của Mặt Trận
tham dự Hội nghị Paris về
Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại
Giao trong Chính Phủ Lâm
Thời Cộng Ḥa Miền Nam Việt
Nam, Bộ Trưởng Giáo Dục, Phó
Chủ Tịch Nước CHXHCNVN, v.v.
Cuộc phỏng
vấn này giúp ta hiểu rơ hơn
chủ trương của nhóm bảo thủ
trong đảng CSVN mà bà Nguyễn
Thị B́nh là một khuôn mặt
tiêu biểu. Tuy nhiên, trước
khi đề cập đến những ư kiến
của bà, chúng tôi xin nói
qua vài nét về cuộc đời của
bà
VÀI NÉT VỀ NGUYỄN
THỊ B̀NH
Nguyễn Thị B́nh có tên
thật là Nguyễn Châu Sa hay
Nguyễn Thị Châu Sa,
sinh ngày 26.5.1927 tại tỉnh
Sa Đéc (nay thuộc
tỉnh Đồng Tháp).
Thân phụ bà là ông Nguyễn
Đồng Hợi, người Điện Bàn,
Quảng Nam, và thân mẫu bà là
bà Phan Thị Châu Lan
(tục gọi là cô Mè)
là con gái thứ hai của nhà
chí sĩ Phan Chu Trinh, cũng
người Tây Lộc, Quảng Nam.
Như vậy gốc gác của bà là
Quảng Nam.
Ông Nguyễn Đồng Hợi là tham
tá công chánh
(agent
technique)
thời Pháp thuộc, được đổi
lên làm việc ở Phnom Penh,
Kampuchia, nên lúc nhỏ bà
học ở trường Lycée Sisowath
tại Phnom Penh. Đây là một
trường nổi tiếng dạy bằng
tiếng Pháp. Bà học hết Tú
Tài I. Năm 1944, mẹ bà qua
đời, lúc đó bà mới 17 tuổi.
Bà theo gia đ́nh trở về nước
rồi tham gia Mặt Trận Việt
Minh.
Sau khi Pháp tái chiếm Nam
Bộ vào cuối năm 1945, thân
phụ bà theo Ủy Ban Hành
Chánh Kháng Chiến Nam Bộ đi
ra chiến khu, bà ở lại chăm
sóc các em và hoạt động bí
mật cho Việt Minh trong khối
sinh viên học sinh và phụ nữ
với bí danh là Yến Sa. Năm
1948, bà được kết nạp Đảng
Cộng Sản Đông Dương. Năm
1951, bà bị Pháp bắt giam và
bị tra khảo tại bót Catinat,
Sài G̣n, sau đó bị giam ở
Khám Chí Ḥa
(1951-1953).
Năm 1954, bà
được phóng thích theo Hiệp
Định Genève ngày 20.7.1954.
Mới được phóng thích một
thời gian, vào tháng 10 năm
1954, bà tham gia ngay Phong
Trào Ḥa B́nh do Luật sư
Nguyễn Hữu Thọ thành lập để
yểm trợ cho Việt Minh đ̣i
quân đội Pháp rút khỏi miền
Nam và tổ chức tổng tuyển cử.
Ngày 9.2.1955, 26 thành phần
thân Cộng trong Phong Trào
Hoà B́nh được đưa ra Hải
Pḥng, bà được điệu ra Bắc
tập kết. Tại miền Bắc, trong
năm 1955, bà đă lập gia đ́nh
với ông Đinh Khang, sau này
là Đại Sứ Hà Nội tại Bắc
Kinh. Hai người có với nhau
2 người con: một trai một
gái. Ông Đinh Khang qua đời
năm 1989.
Năm 1960, Mặt Trận Dân Tộc
Giải Phóng Miền Nam Việt Nam
được thành lập. Năm 1962, bà
được điều trở lại miền Nam
với cái tên mới là Nguyễn
Thị B́nh, giữ chức vụ Ủy
Viên Trung Ương Mặt Trận
Giải Phóng, phụ trách về đối
ngoại, kiêm Phó Tổng Thư Kư
Hội Phụ Nữ Giải Phóng.
Cuối năm 1968, bà được cử
làm Trưởng thương thuyết của
Mặt Trận Giải Phóng đi dự
Hội nghị Paris về Việt Nam.
Vào tháng 1 năm 1969, Trần
Bửu Kiếm được cử giữ chức vụ
trưởng đoàn, c̣n bà được đưa
về nước chuẩn bị thành lập
Chính Phủ Lâm Thời Cộng Ḥa
Miền Nam Việt Nam. Ngày
6.6.1969, Chính Phủ Lâm Thời
Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam
được thành lập, bà được cử
làm Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao.
Sau đó bà lại qua Paris nhận
lại chức vụ Trưởng đoàn
thương thuyết của Chính phủ
lâm thời.
Sau khi Đảng CSVN thống nhất
đất nước, bà làm Bộ Trưởng
Bộ Giáo Dục
(1976-1987),
rồi Ủy viên Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khoá V
(03/1982-1986),
Phó Trưởng Ban Đối Ngoại
Trung Ương Đảng
(1987-1992),
Đại biểu Quốc hội từ khoá VI
đến khoá X
(1976-2002).
Năm
1992, tại kỳ họp Quốc hội
khóa IX, bà được bầu làm Phó
Chủ Tịch Nước CHXHCNVN và
giữ chức vụ này liên tục
trong 10 năm
(1992-2002).
Bà nghỉ hưu từ năm 2002.
Chúng
tôi đă nghe một nhân viên an
ninh có nhiệm vụ thẩm vấn bà
B́nh năm 1951 khi bà vừa bị
bắt, kể lại những chuyện đă
xẩy ra. Tuy nhiên, có một
tin đồn mà cho đến nay chúng
tôi vẫn chưa kiểm chứng được.
Chúng ta nhớ lại, vào ngày
19.6.1965, Tướng Nguyễn Cao
Kỳ đă thành lập chính phủ
mới gồm 5 tổng ủy viên
(tổng trưởng),
10 ủy viên (bộ
trưởng)
và 2 thứ ủy (thứ
trưởng).
Luật sư Đinh Trịnh Chính
được cử làm Bộ Trưởng Tâm Lư
Chiến.
Luật
sư Chính là em của Đinh
Khang, chồng của bà B́nh,
đang làm Đại Sứ của Hà Nội
tại Bắc Kinh.
Vào khoảng tháng 7 năm 1967,
một nguồn tin mật cho biết
nhân viên an ninh đă theo
dơi và bắt được bà Nguyễn
Thị B́nh đang ở trong nhà
Luật sư Đinh Trịnh Chính.
Nhưng ngày hôm sau, Đại Sứ
Bunker đến và cho biết bà
B́nh đang làm việc với Hoa
Kỳ nên yêu cầu thả ra. Tổng
Nha Cảnh Sát phải trả bà lại
tại nhà Luật sư Đinh Trịnh
Chính. Đây là thời kỳ Hoa Kỳ
đang cố gắng tiếp xúc với
Bắc Kinh và Hà Nội để mở
cuộc thương thuyết. Tuy
nhiên, cho đến nay nguồn tin
trên vẫn không thể kiểm
chứng được.
TIẾP TỤC NGUỴ BIỆN
Xuân Hồng của
đài BBC đă phỏng vấn bà
Nguyễn Thị B́nh như là một
khuôn mặt tiêu biểu của phụ
nữ Việt Nam, về 3 chủ đề
chính sau đây: Số phận của
MTGPMN sau khi chiến tranh
chấm dứt, những người bất
đồng chính kiến, và sự phá
sản của nền giáo dục Việt
Nam.
Mặc dầu Xuân
Hồng đă cố gắng đưa ra những
câu hỏi rất nhẹ nhàng, nhưng
nghe những câu trả lời của
bà B́nh ai cũng thất vọng!
Kể từ khi làm
Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao
trong Chính Phủ Lâm Thời
Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam
đến nay, bà B́nh có một lối
trả lời phỏng vấn không thay
đổi: Thứ nhất, bà nổi tiếng
là một “thợ né” rất vụng về,
luôn tránh trả lời trực tiếp
câu hỏi được đưa ra mà chỉ
t́m cách biện giải hay nguỵ
biện. Thứ hai là bảo thủ.
Những ǵ bà được học để trả
lời báo chí khi c̣n làm Bộ
Trưởng Ngoại Giao trong
Chính Phủ Lâm Thời, nay bà
vẫn tiếp tục nhai lại, mặc
dầu t́nh thế đă đổi thay:
Đảng CSVN không c̣n đi xuống
xă hội chủ nghĩa nữa mà đi
lên chế độ tư bản. Đảng cũng
từ bỏ chủ trương “chống Mỹ
kíu nước” và đang nỗ lực
“nhờ Mỹ cứu đảng”. Do đó,
những câu trả lời của bà
thường lạc lỏng.
1.- Về số
phận MTGPMN sau 1975
Bà B́nh nói tổ chức này khi
ấy đă hoàn thành "nhiệm vụ
lịch sử". Bà giải thích thêm:
"Những ai có thể tham gia
vào tổ chức nhà nước, đoàn
thể... cũng đă tích cực tham
gia. Chúng tôi ḥa vào cái
chung của dân tộc, cùng nhau
xây dựng đất nước."
Nhưng rồi bà cũng phải thừa
nhận
"không phải ai cũng vừa
ḷng với cái ḿnh có, nhưng
cơ bản, những người nào c̣n
tiếp tục đóng góp th́ vẫn
được đánh giá tốt."
Thật sự, sau
khi chiếm được miền Nam, Hà
Nội đă quyết định loại bỏ
MTGPMN, một công cụ xâm
chiếm miền Nam của họ. Ngày
25.4.1976 Hà Nội cho bầu cử
trên toàn quốc để thống nhất
đất nước. Các thành phần của
MTGPMN không chống đối, được
đưa vào giữ những chức vụ
ngồi chơi xơi nuớc, c̣n
những thành phần chống đối
như Thượng Tướng Trần Văn
Trà, Bộ Trưởng Tư Pháp
Trương Như Tảng đều bị loại.
2.- Về những
thành phần bất đồng chánh
kiến
Phóng viên Xuân Hồng hỏi bà
B́nh nghĩ ǵ về những phong
trào bất đồng chính kiến, mà
một điển h́nh là Câu lạc bộ
Kháng chiến cũ, xuất hiện
cuối thập niên 1980. Nhóm
này h́nh thành năm 1986, với
phần lớn hội viên là cựu
chiến binh cộng sản miền
Nam.
Bà B́nh không trả lời thẳng
câu hỏi nhưng cho rằng
"mỗi người có suy nghĩ của
ḿnh, nhưng nếu có ư thức
xây dựng th́ nhà nước không
xem đó là chuyện nặng nề...
Hiện nay cũng có những ư
kiến khác nhau, nhưng hành
động phải đi một hướng, mới
có kết quả. Những ǵ thống
nhất, ta thực hiện; những ǵ
chưa thống nhất, ta tiếp tục
trao đổi.”
Khi Xuân Hồng
so sánh về hoạt động thời
trẻ của bà B́nh với hoạt
động của những người bất
đồng chính kiến gần đây như
luật sư Lê Thị Công Nhân và
hỏi bà có suy nghĩ ǵ, bà
cười và cho rằng phóng viên
BBC "mở rộng vấn đề". Bà nói:
"Tại sao tôi tham gia
kháng chiến? Ông Hồng nên
nhớ nhân dân Việt Nam bắt
buộc phải cầm vũ khí chống
xâm lược. Nhưng bây giờ
chúng tôi chủ trương đoàn
kết dân tộc, trên cơ sở Hiến
pháp, luật pháp."
Bà nhấn mạnh:
"Những việc làm của họ
[những người đấu tranh chính
trị]
trong t́nh h́nh này không
đem lại lợi ích cho đất nước."
3.- Nền giáo
dục Việt Nam phá sản
Câu hỏi thứ
ba đă cho thấy rơ sự thiếu
hiểu biết và tṛ nguỵ biện
vụng về của bà B́nh.
Khi được hỏi
có nhiều nguồn tin nói giáo
dục Việt Nam đang phá sản,
bà nghĩ sao, bà B́nh trả lời
rằng nói giáo dục mà phá sản
th́ không đúng đâu... Theo
bà, giáo dục là một bộ phận
văn hoá của dân tộc. Trong
thời gian qua, giáo dục đă
đóng góp vào công cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc và
trong những năm vừa rồi nó
cũng đóng góp vào việc kiến
thiết lại đất nước. Tuy
nhiên, trước những nhu cầu
mới của đất nước, có những
vấn đề cần được chấn chỉnh
lại để đáp ứng lại những nhu
cầu và nhiệm vụ mới. Bà công
nhận rằng “nền giáo
dục hiện tại có nhiều bất
cập” nhưng không cho
rằng nó đang phá sản.
Khi được hỏi
giáo dục tư nhân có đóng góp
ǵ được cho nền giáo dục
hiện tại hay không, bà B́nh
cho rằng cần phải huy động
tiềm năng của đất nước, v́
thế nhà nước cũng chủ trương
nới rộng nền giáo dục ra
ngoài nhà nước, ngoài công
lập để bổ sung cho công lập,
nhưng phải tuỳ theo t́nh
h́nh, nhất là cái mục tiêu...
Xuân Hồng hỏi
có thể cho các tôn giáo tham
gia vào việc giáo dục hay
không, bà lại lặp lại câu
trả lời nói trên và nhấn
mạnh đến “cái mục tiêu”. Tuy
bà không nói rơ, nhưng chúng
ta phải hiểu rằng điều kiện
chủ yếu là nền giáo dục phải
phục vụ chế độ hiện tại. Đây
chính lại là lư do đang làm
cho nền giáo dục Việt Nam
ngày càng suy thoái.
Xuân Hồng nói
rằng trước đây Công Giáo có
Đại Học Minh Đức, Phật Giáo
có Đại Học Vạn Hạnh..., họ
cũng đóng góp tốt cho việc
giáo dục thanh niên, bà nghĩ
sao? Bà B́nh nói rằng không
phải nền giáo dục nào cũng
cho phép tôn giáo tham gia
vào việc giáo dục vô giới
hạn, ở Pháp hay ở Mỹ cũng
vậy. Bây giờ nhà nước chưa
xét đến vấn đề này. Xuân
Hồng hỏi khi nào mới xét, bà
nói rằng khi nào cần thiết!
NỀN GIÁO DỤC CÓ
NHIỀU BẤT CẬP
Sau cuộc
phỏng vấn bà Nguyễn Thị B́nh,
báo Dân Trí ở trong nước
trong số ra ngày Chủ Nhật,
31.8.2008 có đăng bài “C̣n
nhiều điều bất cập về Giáo
dục Đại học” của
Khuất Thanh, với nội dung
như sau:
“Đúng là c̣n
nhiều cái cần bàn về Giáo
dục Đại học ở nước ta. Với
cách nh́n của “người trong
cuộc”, tôi xin đóng góp một
số ư kiến trong tầm hiểu
biết của ḿnh.
“Chất lượng đào tạo đại học
ở nước ta vốn đă thấp kém v́
chương tŕnh và cách thức tổ
chức đào tạo c̣n nhiều bất
cập, qua quá tŕnh đổi mới
chưa thấy nâng lên mà ngược
lại c̣n sa sút hơn. Điều đó,
có nguyên nhân quan trọng
trước hết là do sự “bùng nổ”
của các trường đại học và
cao đẳng kéo theo sự tăng
quá nhanh số lượng sinh viên,
không thể đáp ứng đủ về cơ
sở vật chất cần thiết, nhất
là chất lượng đội ngũ giảng
viên giảm đi rơ rệt, vừa
thiếu tŕnh độ chuyên môn
cũng như kinh nghiệm thực tế.
Phương pháp đào tạo vẫn
không có ǵ đổi mới, c̣n
giảng theo kiểu lư thuyết
suông, đơn giản chỉ là viết
lư thuyết lên bảng mà không
có thực hành.
“Đối với các sinh viên thuộc
các ngành kinh tế c̣n tạm
chấp nhận được v́ không cần
pḥng thí nghiệm và xưởng
thực tập; những sinh viên
các ngành công nghệ th́ rất
thiếu phương tiện thực hành.
Thực tế ở nước ta, chỉ có
thể đếm trên đầu ngón tay về
các trường có gần đủ các
phương tiện thực tập như Đại
học: Bách khoa hay Xây dựng.
C̣n một số trường khác như
Đại học Công nghiệp Hà Nội
hay khá hơn như Đại học Giao
thông Vận tải vẫn ở t́nh
trạng nghèo nàn về cơ sở vật
chất và trang bị kỹ thuật,
chưa nói đến các trường mới
được nâng cấp từ trung cấp
lên cao đẳng.
“Trường nào
cũng vậy, toàn là những
xưởng thực tập không ra sao,
cứ mỗi lần sinh viên đi thực
hành lại phát hiện thêm ở
xưởng đó có bao nhiêu thiết
bị hư hỏng, có bao nhiêu con
linh kiện không c̣n hoạt
động để lần sau nhỡ có kiểm
tra th́ nên tránh xa kẻo mà
bị vạ lây...
“Một nguyên nhân thứ hai, mà
tôi nghĩ là là không kém
phần quan trọng, đó là do
chế độ đăi ngộ dành cho cán
bộ giảng dạy, nhất là cán bộ
trẻ, quá thấp, không đủ bảo
đảm cuộc sống. Thời nay mà
các thầy lao động từ sáng
tới trưa được “bồi dưỡng”
bằng một suất cơm b́nh dân
đạm bạc th́ hỏi lấy đâu ra
sức lực mà nhiệt t́nh giảng
dạy. Đă có nhiều giáo viên
dùng tiết học để giăi băy
nỗi niềm lo toan về vấn đề
cơm áo gạo tiền với các sinh
viên - những chủ nhân tương
lai của đất nước - cứ như là
để cho các em biết mà tránh
xa cái nghề “trồng người”
chỉ cần ăn… không khí để có
thể làm nên sự nghiệp ươm
hạt giống cho đất nước vậy.
“Điều đáng quan tâm khác, đó
là vấn đề tiêu cực trong môi
trường giáo dục. Không biết
có phải ai cũng sợ thầy cho
nên rất ít nghe thấy đài báo
nói về những tiêu cực trong
môi trường này. T́nh h́nh
phổ biến ở nhiều trường, môn
nào sinh viên không qua được
th́ cứ “nộp” 2 hoặc 3 “lít”
(trăm
ngh́n)
cho thầy là có thể yên tâm
về những thứ mà đáng lẽ ra
ta phải mất ăn mất ngủ v́
chưa học được, chưa nắm được.
“Có thầy cô c̣n lộ liễu mà
ép sinh viên đi nộp “lệ phí”.
Nếu không đi th́ nguy cơ
được thầy cô “quư mến” là
cái chắc. Cứ thử hỏi bất kỳ
một sinh viên nào th́ chắc
chắn rằng họ sẽ không có
dưới 3 cái tên mà họ đă từng
phải “lụy” hay ít ra là nghe
thấy uy danh của quư thầy cô
nào đó. Thử hỏi trong môi
trường như thế làm sao mà
tránh được tiêu cực cơ chứ.
“Điều đáng quan tâm cuối
cùng, đó là sự “thăng hoa”
của lối sống đua đ̣i. Qúa
nhiều yếu tố của thời buổi
cơ chế thị trường khiến cho
sinh viên có thể sa ngă bất
kỳ lúc nào. Đó là việc mê
mẩn chơi đề, Internet, đua
nhau sống thử, hút hít thử,
dùng thuốc lắc thử... Ai
cũng biết, ai cũng nói,
nhưng vẫn thiếu cảnh giác và
chẳng ai t́m ra biện pháp
hữu hiệu để pḥng ngừa từ xa.
Mọi người cứ tưởng đâu những
sinh viên hư hỏng ấy có thể
là đứa này đứa kia, nhưng
không bao giờ là con ḿnh,
hay cháu ḿnh.
“Ngay sinh viên nhiều khi cứ
tưởng ḿnh sẽ không thể bị
những tệ nạn ấy cuốn đi.
Nhưng ai học chữ ngờ; nó lại
len lỏi vào bản thân lúc nào
không biết. Thử hỏi phải đối
mặt với nguy cơ khó lường
như vậy th́ sinh viên có bị
phân tâm trong việc học hành
hay không. Đấy là chưa nói
hoàn cảnh xă hội bây giờ,
nhiều khi đồng tiền quyết
định nhiều chuyện, không
những trong quá tŕnh học
tập mà cả lúc ra trường khi
đi xin việc làm, nhiều khi
nó c̣n có ư nghĩa quyết định
hơn cả kết quả phấn đấu của
mấy năm học. Điều bất công
đó nhiều khi cũng làm nản
ḷng chuyên cần của không ít
sinh viên.
BẦN CÙNG HÓA
ĐẤT NƯỚC
Ngày
27.10.2008, hăng thông tấn
AsiaNews đă phóng lên
website AsiaNews.it bài “VTNAM
Education has become a means
to make money, and Vietnam
grows poorer”
(Giáo dục đă trở thành
một phương tiện để kiếm tiền,
bần cùng hóa đất nước)
của Thanh Thủy với nội dung
như sau:
“Giáo dục ở
Việt Nam đă trở thành một hệ
thống để kiếm tiền: không có
tự do tư tưởng trong các
trường học và trường đại học,
và chỉ quan tâm đến việc tạo
ra lợi nhuận, chứ không chú
trọng đào tạo giới trẻ, và
điều này làm bần cùng hóa
đất nước.
“Tất cả mọi
người bị phụ thuộc và bị dẫn
dắt bởi các chính sách của
Đảng Cộng Sản, v́ vậy mà hệ
thống giáo dục được dùng để
đóng vai tṛ quan trọng cho
việc bảo vệ chế độ. Hệ thống
giáo dục suy đồi và tạo ra
“sản phẩm dzỏm” cho đất nước.
Nó thậm chí tạo ra những kẻ
nói láo, những kẻ đang xâm
hại đến đất nước.
“Nhiều
trường học và đại học dân
lập, và ngay cả các trường
đại học nhà nước, đang biến
giáo dục trở thành một cơ sở
thương mại. Những người đứng
đầu các cơ quan giáo dục
đang t́m kiếm lợi nhuận, và
đang bỏ quên hoặc thậm chí
đang coi thường các giá trị
truyền thống của văn hóa
Việt Nam. Họ đang mất dần
truyền thống giáo dục sinh
viên. Một giáo sư kinh tế
của Viện Kế Toán và Quản Trị
Kinh Doanh tại Sài G̣n cho
biết:
“Chúng tôi được thuê như là
những giáo sư ‘thực dụng’,
chứ không phải như là những
người ‘giỏi’.
Có
thể chúng tôi giảng dạy và
bán kiến thức v́ lợi nhuận
của họ. Họ càng có nhiều
sinh viên th́ họ càng có
nhiều tiền.
Các vị
đứng đầu các đơn vị giáo dục
có thể làm việc cho thành
phố v́ họ có 'ô dù’ từ chính
quyền địa phương, và làm
việc cho các văn pḥng công
an của thành phố. V́ vậy, họ
cho ra đời những sinh viên
không được giáo dục tốt.
Ngay cả sinh viên ngành quản
trị kinh doanh và các chương
tŕnh tiến sĩ quản trị kinh
doanh không cần phải viết
luận văn và luận án khi
nghiên cứu trong các khóa
đào tạo”.
“Chính
quyền địa phương đang ăn hối
lộ từ hệ thống giáo dục. Họ
đă cho phép các văn pḥng
giáo dục biến công việc của
ḿnh trở thành cơ sở thương
mại. Công cuộc giáo dục của
họ là làm kinh doanh và kiếm
tiền. Giáo viên và học sinh
không được tự do tư duy: tất
cả mọi thứ đều phụ thuộc và
và bị dẫn dắt bởi các viên
chức chính quyền, bởi các
“cán bộ giáo dục”. Thân, một
giáo viên Anh ngữ tại Trường
Đại Học Mở Tp.HCM cho Tin
Tức Á Châu hay:
“Bây giờ các trường đại học
cạnh tranh với nhau. V́ vậy,
các trường đại học chạy theo
quảng cáo và tiếp thị bằng
sự thiếu trung thực.
Hệ thống giáo dục của Việt
Nam từ nhà trẻ đến đại học
với những người làm kinh
doanh trong giáo dục, làm
quảng cáo bằng cách sử dụng
từ ngữ lừa dối. Trước 1975,
các trường Công Giáo như đại
học, trung học phổ thông và
thậm chí cả các trường tiểu
học không bao giờ làm những
việc giả dối như thế. Rơ
ràng là giáo dục đă bị sa
sút và ‘làm thành chuyện
nhức nhối’ cho xă hội, với
nhiều hiện tượng xấu như
bằng giả, học vẹt, học lư
thuyết nhưng không thực hành,
học tư duy bằng hệ tư tưởng
một chiều”.
“Tất cả những
điều này làm bần cùng hoá
đất nước, với sự nghèo nàn
về kinh tế, đạo đức, và giáo
dục, cũng như không cho phép
tự do tư tưởng.”
ÁCH NGỒI ĐÁY
GIẾNG
Bà B́nh nói
rằng không phải nền giáo dục
nào cũng cho phép tôn giáo
tham gia vào việc giáo dục
vô giới hạn, ở Pháp hay ở Mỹ
cũng vậy. Nói như vậy là bà
B́nh không hiểu ǵ về nền
giáo dục ở Pháp và Mỹ cả.
Chúng tôi xin đưa trường hợp
của Hoa Kỳ ra làm một thí dụ
điển h́nh.
Nh́n một cách
tổng quát, tại Hoa Kỳ hiện
có hơn 19.000 trường đại học
với hai dạng chính: trường
công và trường tư. Luật pháp
và chính phủ Hoa Kỳ cho phép
các trường đại học được
thành lập và phát triển tự
do với ba điều kiện tiên
quyết: giảng viên, chương
tŕnh giảng dạy, hạ tầng cơ
sở.
Muốn được
công nhận là một trường đại
học thực thụ, các trường đại
học ở Hoa Kỳ đều phải đạt
được và duy tŕ chất lượng
giáo dục ấn định.
Bộ Giáo Dục không trực tiếp
can thiệp, kiểm tra các hoạt
động và chất lượng của các
trường đại học, mà giao
nhiệm vụ này cho một số tổ
chức kiểm định giáo dục. Mỗi
tổ chức kiểm định chịu trách
nhiệm giám định chất lượng
cho hàng trăm trường đại học.
Một trường đại học muốn được
giám định phải trải qua một
quá tŕnh phức tạp: đáp ứng
đầy đủ các tiêu chuẩn do tổ
chức kiểm định đưa ra, và
chịu sự kiểm tra, đánh giá
thường xuyên của tổ chức này
về chất lượng. Có những
trường tuy có cơ sở hẳn hoi,
nhưng v́ chưa đáp ứng được
các yêu cầu về chất lượng
nên vẫn không được kiểm định.
Như vậy, ở
Hoa Kỳ gần như không có sự
hạn chế nào trong việc thành
lập các đại học tư hay đại
học tôn giáo, chỉ với điều
kiện phải đạt những tiêu
chuẩn đă nói trên. Cũng
không hề có luật lệ nào bắt
buộc các trường đại học phải
hướng chương tŕnh giáo dục
vào việc phục vụ chế độ
đương quyền. Hiện nay tại
Hoa Kỳ, các đại học danh
tiếng đều là các đại học tư
như Harvard, Yale, Stanford,
Massachusetts Inst Tech,
Princeton, v.v. Như vậy đại
học tư và đại học tôn giáo
đă góp phần đáng kể vào việc
giáo dục thế hệ tương lai.
Tại sao nhà cầm quyền lại từ
chối sự đóng góp của các đại
học tư và đại học tôn giáo?
THỬ NH̀N VỀ Á CHÂU
Năm 2004, Thánh Bộ Giáo Dục
Công Giáo của Vatican cho
biết tại Á Châu hiện có hơn
500 trường Đại Học Công Giáo,
và hơn một nửa số Đại Học
Công Giáo trên toàn thế giới
thuộc về các nước đang phát
triển.
Ấn Độ là nước
có nhiều trường Đại Học Công
Giáo nhất với tổng số trường
lên đến 291. Tiếp theo là
Phi Luật Tân với 164 trường.
Nam Dương nơi đa số dân
chúng theo Hồi Giáo cũng có
đến 48 trường Đại Học Công
Giáo. Nhật Bản có 39 trường.
Pakistan, Đài Loan và Thái
Lan mỗi nước có 3 trường.
Tại xứ sở Phật Giáo và Ấn
Giáo chiếm đa số, người Công
Giáo chưa có tới 1% như Sri
Lanka cũng có 2 trường Công
Giáo. Các nước như
Bangladesh, Iraq, Lebanon,
Nepal và Singapore mỗi nước
có 1 trường Đại Học Công
Giáo. Nếu tính cả trường
tiểu học và trung học, ở Ấn
Độ hiện nay có trên 25.000
trường Công Giáo.
Bản tin của
hăng thông tấn AsiaNews ngày
30.9.2008 cho biết riêng tại
giáo phận Bangkok, Thái Lan,
đă có 300 trường công giáo
với khoảng 400.000 sinh viên
và học sinh, trong đó tại
thủ đô Bangkok có 65.775
sinh viên và học sinh. Hầu
hết các sinh viên là Phật
Giáo hay Hồi Giáo, số sinh
viên công giáo chỉ chiếm
khoảng từ 5% đến 10%.
Bản tin viết rằng các trường
công giáo cống hiến
“sự ưu tú nhất”
trong việc giáo dục và hầu
hết những người tốt nghiệp
nạp đơn vào đại học đều đă
vượt qua các cuộc khảo hạch.
(Catholic schools offer
“absolute excellence” in
education and most graduates
who apply to university get
through the entry exams).
Bản tin này
được AsiaNews phổ biết với
mục đích nhắc nhở nhà cầm
quyền Việt Nam rằng các
trường tư thục và trường tôn
giáo đă cung ứng một nền
giáo dục tốt cho thế giới.
Chính quyền không thể viện
bất cứ lư do ǵ, kể cả lư do
bảo vệ chế độ, để loại hệ
thống giáo dục này ra ngoài.
Lữ Giang
Ghi chú:
Muốn t́m các bài của chúng
tôi, xin vào website
motgoctroi.com, mục “Mỗi
tuần một chuyện”