Tú Gàn
Saigon Nhỏ ngày
15.2.2008
|
Trong bài trước chúng tôi đă đưa một số tài liệu
chứng minh Hà Nội đă quyết định chiếm Huế và giữ lâu
dài, và diễn biến của các cuộc thảm sát theo chỉ thị
của Hà Nội. Trong bài này chúng tôi xin ghi lại một
số chuyện bi thảm đă xẩy ra trong Tết Mậu Thân và
sau Tết Mậu Thân ở Huế do một số nhân chứng kể lại.
Có lẽ cuốn sách viết đầy đủ hơn cả về vụ thảm sát
Tết Mậu Thân ở Huếlà cuốn “The Vietcong
Massacre at Hue” (Cuộc thảm sát của Việt
Cộng ở Huế) xuất bản năm 1976 của Bác Sĩ Elje
Vannema, người có mặt ở Huế khi biến cố xẩy ra. Mới
đây, hai linh mục Phan Văn Lợi và Nguyễn Hữu Giải có
đưa ra lời khai của một nhân chứng dấu tên kể lại vụ
thảm sát ở Khe Đá Mài. Đọc câu chuyện này chúng tôi
thấy gióng hệt câu chuyện do một người có bí danh là
Lương đă kể và được Bác Sĩ Elje Vannema ghi lại
trong cuốn “The Vietcong Massacre at Hue”,
chỉ thêm bớt một số chi tiết. Chúng tôi tin câu
chuyện do Bác Sĩ Elje Vannema và Linh mục Phan Văn
Lợi ghi lại cùng do một người kể. Đây là một câu
chuyện rất bi thảm.
Lời tường thuật của các nhân chứng khác, Việt Nam
cũng như ngoại quốc, cũng sẽ giúp chúng ta thấy rơ
hơn sự dă man của các cuộc thàm sát.
Trong một bài tường thuật dười đầu đề “Mậu Thân:
Nỗi Đau Không Dứt Của Huế”, cụ Lê Hàn Sinh,
người chứng kiến các cuộc thảm sát ở Gia Hội, Huế,
đă cho chúng ta thấy các cuộc thảm sát đó đă được
tiến hành như thế nào. Cụ viết:
“Với người dân Huế, khi nhắc đến hai chữ Mậu Thân,
gần như nó không c̣n gắn liền theo thứ tự của mười
hai con giáp, mà là một tiếng gọi đặc biệt, tượng
trưng cho một cuộc tàn sát man rợ.
Thủ tiêu, ám sát, chôn sống, giết người bằng mă tấu,
bằng bọng cuốc phang vào sau đầu, trói bằng dây thép
gai. Cụ thể là ở khu phố 4 Gia Hội
(sau khi chiếm
Huế Cộng Sản chia thành phố ra làm 4 khu) với tên
thợ nề vô học tên Bé được giữ chức chủ tịch khu phố.
Mọi sinh sát nằm trong tay y. Ước lượng nạn nhân của
bọn này lên tới hàng trăm. V́ tư thù cá nhân, chúng
giết cả những thường dân vô tội.
Cái chết của bà Trâm ở đường Mạc Đĩnh Chi
(đường Ngự
Viên) là một thí dụ. Bà bị thị Gái bắn bằng súng AK
ngay tại nhà. Gái nguyên là Việt Cộng nằm vùng
chuyên đi giúp việc quanh các nhà ở phường Phú Cát,
Quận 2. Tuy là đi giúp việc nhưng lúc nào áo quần
cũng bảnh bao, tóc búi kiểu Lào. Gái v́ dây dưa với
chồng bà Trâm nên bị bà này mắng chửi thậm tệ và
h́nh như cũng có đánh đập ǵ đó nên giờ Gái trả thù
món nợ t́nh ngày trước.
Cũng cần nói thêm về tên Bé thợ nề. Không ai biết
xuất xứ của hắn. Y hành nghề một cách độc lập, rất
lương tâm; làm từ 7 giờ sáng tới 6 giờ chiều, không
nghỉ trưa, ăn uống thế nào cũng được, tiền công
không đ̣i cao hơn kẻ khác. Do vậy, người này làm
xong lại giới thiệu cho bạn bè. Cứ thế mà Bé âm thầm
điều tra nắm rơ ai làm ǵ ở đâu, cơ quan nào... để
báo cáo cho tổ chức. Nhờ thế, khi Việt Cộng vào là
chúng đă có một danh sách khá đủ thành phần mà chúng
cho là quan trọng để thanh toán ngay sáng mùng một
Tết, không cần phải gọi ra tŕnh diện tại trường Gia
Hội.
Người đi bắt và bắn chết không ai khác hơn tên
Linh (Diệu Linh), người Quảng Ngăi làm nghề thầy
bói, khoác áo Việt Nam Quốc Dân Đảng Thừa Thiên.
Thời gian bầu cử tổng thống lúc ông Vũ Hồng Khanh về
Huế vận động, chính y là người ngồi cùng xe bên cạnh
ông Khanh. Nghe đâu y cũng là cộng tác viên cho cảnh
sát đặc biệt Thừa Thiên. Sáng mùng một, hắn bận
complet màu đà (bộ hắn vẫn thường mặc) tới nhà t́m
tôi nhưng không gặp.
Cho tới nay tôi vẫn không hiểu tại sao mà ông Rớt
(có bà vợ bán bún ḅ ngon nhất Huế) ở trên đường
Nguyễn Du lại bị bọn Linh bắn chết.
(Người chung
quanh nghi ông làm cộng tác viên cho cảnh sát và
nghe đâu ông xin được chết gần gia đ́nh nên chúng
bắn ông tại nhà).
Măi cho đến ngày 20 tháng giêng bọn chúng mới bắt
đầu làm mạnh, nghĩa là ra lệnh tŕnh diện lần hai
rồi giữ lại thủ tiêu luôn.
Trên đường Gia Hội
(tức đường Chi Lăng) bọn chúng
bắt giết anh Lê Văn Cư, nguyên là Phó giám đốc cảnh
sát quốc gia vùng một và anh Phú (em vợ anh Cư),
Quận Trưởng Quận 2. Cả hai bị bắn cùng một lần. Cũng
trên đường này anh Dự h́nh như đang làm trưởng ty
cảnh sát Phan Rang về thăm nhà cũng bị bắt giết. Vơ
Nguyên Pha, nhà ở ngay sau lưng chùa Diệu Đế, nghe
đâu đă trốn sang hữu ngạn rồi lại sốt ruột v́ vợ con, trở về để lănh bản án tử h́nh.
Câu chuyện cái chết của anh Từ Tôn Kháng, Thiếu tá
Tỉnh đoàn trưởng Xây Dựng Nông Thôn Thừa Thiên,
không biết thực hư đến mức nào. Nghe đâu Cộng Sản
bao vây nhà anh, tra khảo bắt chị Kháng chỉ chỗ ẩn
của chồng nếu không th́ phải chết. Anh Kháng nằm núp
trên máng nước, đành phải xuống
(có người bảo chị đă
chỉ chỗ ẩn của chồng. Hoàn cảnh này dù có xảy ra th́
tôi nghĩ cũng không nên buộc tội chị).
Ở đường Vơ Tánh có anh Vĩnh sĩ quan cảnh sát bị bắn
chết ngay nhà, mấy năm sau tôi vẫn thấy ngôi mộ đất
vẫn c̣n nằm ngay trước cổng nhà. Nhà anh Vĩnh nằm
ngay cạnh chùa Áo Vàng, nơi Cộng Sản làm trụ sở
tŕnh diện cho các công viên chức và sĩ quan quân
đội cộng ḥa, nên không trốn vào đâu được. Gần đó có
anh Hồ Đắc Cam, làm công nhân nhà đèn Huế, bị bắn v́
có tên trong Đại Việt Quốc Dân Đảng. Điều đáng buồn
là anh Cam bị anh Kim Phát, cũng đảng viên Đại Việt,
khai ra. Cộng Sản biết Kim Phát là người Đại Việt
nên bắt anh phải khai những người trong tổ chức. Anh
đến nhà tôi đầu tiên nhưng tôi không có ở nhà. Sau
đó Kim Phát cũng chịu chung số phận như bạn bè.
Đường Bạch Đằng có anh Hiền, một lăo tướng đá bóng
trong hội S.E.P.H của Huế thời thập niên 40. Anh
chẳng liên hệ ǵ tới chính quyền thế mà bị giết.
Người ta đoán anh bị bắn v́ trước đó đă tạt tai một
thằng bé gần nhà. Tên này sau khi Cộng Sản vào tham
gia thanh niên khu phố nên có dịp trả thù.
Không ít người chết v́ không hiểu Cộng Sản, tưởng
cộng tác với chúng là được tha. Điển h́nh là ông
Soạn làm Chủ tịch phường Phú Cát, Quận 2 và hai anh
em song sanh tên Lan (con ông Sâm cho mượn đồ đưa
đám tang trên đường Chi Lăng); một trong hai người
này làm cảnh sát.
Theo nằm vùng cộng sản nhận định, nhóm tiểu thương
chợ Đông Ba là lực lượng yểm trợ mạnh nhất trong
cuộc đấu tranh Phật giáo ở Huế vào các năm 1963 và
1966. V́ thế để lấy ḷng nhóm này chúng lôi anh Phú
ra giết. Anh Phú có phần hùn đấu thuế chợ Đông Ba
nên vẫn hay ra thu thuế bạn hàng. Tưởng thế, nhưng
cái chết của Phú chẳng gây phản ứng nào nơi nhóm
tiểu thương...”
Ở các khu khác, câu chuyện thảm sát cũng đă xẩy ra
gióng hệt như thế.
TRÊN ĐƯỜNG ĐẾN KHE ĐÁ MÀI
Trong cuốn “The Vietcong Massacre at Hue”
(Cuộc thảm sát của Việt Cộng ở Huế) Bác Sĩ Elje
Vannema đă ghi lại câu chuyện các nạn nhân đă bị dẫn
đi thảm sát trên đường từ chùa Từ Đàm đến Khe Đá Mài
do một nhân chứng chạy thoát được kể lại. Đọc câu
chuyện này, không ai không cảm thấy đau ḷng và tự
hỏi tại sao Cộng Sản đă hành động dă man như vậy. V́
bài báo có giới hạn, chúng tôi chỉ ghi lại những
đoạn quan trọng:
Bên trong nhà thờ chính ṭa Phủ Cam, đàn ông và
thiếu niên được lệnh sắp thành hàng rồi bước ra
ngoài với cán bộ hộ tống. Từ nhà thờ họ băng qua các
đường Phủ Cam lên Chùa Từ Đàm. Bị giữ ở đấy một ngày
rồi lại tiếp tục đi về phía Nam, hướng Nam Giao. Đàn
bà trẻ con nhao lên nhưng được trấn an rằng cha,
chồng, con họ phải ra phục dịch bên ngoài thành. Một
số bà đi theo xa xa, nhưng rồi bị chặn lại. Trong số
người ra đi có anh lính trẻ Cộng Ḥa và Lương
(nhân
vật kể lại câu chuyện này).
Ngày kế tiếp, cuộc hành tŕnh kéo dài suốt chiều tới
tối, thoạt tiên rời Từ Đàm đi về hướng Nam rồi bẻ
hướng Đông Nam. Sáu cây số đường đi mà Lương nghĩ là
một cuộc trường chinh. Không ai nói với ai. Chỉ một
lần yên lặng bị cắt đứt bởi một câu hỏi của ai đó:
"Ta đi mô đây?". Có tiếng phụ họa: "Lên núi hay tới
chỗ chết?".
Bộ đội Mặt Trận nói là họ được đưa đi học tập. Không
ai biết ḿnh đi đâu nhưng tự thâm tâm nhiều người
tin rằng có lẽ đời ḿnh sắp kết thúc. Ông già đi bên
cạnh Lương bổng ngă quỵ. Cho tới lúc đó anh không
biết có ông già đi bên ḿnh. "Bắt gió cho ông ta", tiếng ai đó vang lên... Lương ôm lấy ông cho tới khi
người canh gác tới.
Mắt ông già hé mở trong chiều xẩm tối. Tiếng nói lạc
giọng thều thào: "Xin để tui ở lại đây. Tui không đi
xa hơn được nữa!" Ông van xin, bàn tay xương xẩu níu
lấy cánh tay người gác. Có lệnh: "Đứng dậy!".
Ông già gượng dậy, cố thẳng người thêm được vài bước
rồi lại ngă. Người gác đoàn lúc này hết kiên nhẫn,
đạp ông ra lề đường rồi bỏ đi. Vài phút sau, một
phát súng xé không khí cùng với một tiếng kêu yếu ớt
vang lên... Xác ông được dập vào một hố gần đó, hai
tù nhân được lệnh lấp đất. Một tháng sau xác ông
được đồng bào khám phá.
Vô vọng, đoàn người bước đi càng lúc càng chậm, câm
lặng, uất nén. Người gác cứ hối thúc. Rồi có tiếng
hô: "Dừng lại!". Lương thấy đám người phía trước
được lệnh bỏ túi xách xuống và ngồi xuống. Họ đă tới
đích!
Đám canh gác phía sau miệng là hét thúc những những
người c̣n lại đi nhanh hơn, chân họ đá vào sườn
những kẻ đi chậm... Sau này, Lương nhớ lại ḿnh đă
đi qua thôn Tu Tay.
Ít lâu sau, chừng 18 người đă bị kêu lên phía trước.
Hợ bị tố cáo có tội ác với nhân dân. Các nạn nhân bị
lôi đi ngay. Chả ai biết ǵ về số phận của họ v́
chẳng bao giờ gặp lại họ nữa. Những người khác được
lệnh đi về phía lăng Đồng Khánh.
Sau một giờ đi, một nhóm nạn nhân được lệnh dừng lại
và được chia thành hai nhóm nhỏ. Họ được lệnh đào
hầm rănh. Họ đào đă hai, ba tiếng, ai nấy im lặng
gặm nhấm suy nghĩ của ḿnh. Người gác nói: “Hố đào
là để trú ẩn và làm mương dẫn nước.” Có lẽ họ đào mồ
cho lớp người tới sau, chứ chính họ th́ chỉ vài mạng
phải nằm ở đây mà thôi!
Như một ác mộng kinh hoàng thăm viếng địa cầu, nhưng
ác mộng không do quỷ ma mà do chính con người tạo
ra. Thoạt tiên, Lương nghĩ chắc ḿnh sẽ không qua
khỏi. Dù vậy, trong một hoàn cảnh có thể nói là
tuyệt vọng, anh và người lính trẻ vẫn cố t́m cách
thoát thân. Hai người thất thần nh́n nhau, mắt mở
lớn. Chung quanh Lương, đám người đói, lạnh, có kẻ
bị bệnh... Không ai dám quay về nh́n thành phố thân
yêu đổ nát đang ch́m trong bóng tối sau lưng họ.
Một tiếng nổ kèm với tiếng la vang lên! Thần chết
vây bủa không gian. Tại sao ḿnh ở đây? Đa số họ là
công giáo, chả ai quan tâm tới chính trị, một số do
hoàn cảnh lịch sử phải vào lính như bao nhiều thanh
niên Việt Nam và các thanh niên khác trên khắp thế
giới đến tuổi như họ.
Sau khi đào xong một hố rănh, đám đông được lệnh đi
tới một đụn cát để nghỉ đêm. Vài người bị dẫn đi.
Một số la thét lên v́ sợ. Lương thấy người bạn ở
cùng phố mà anh quen từ mấy năm nay bật khóc nức nở.
Một người hoảng lên chạy quẩn để rồi bị bắt giữ lại.
Lương hoảng hốt. Chân anh như điện giật. Anh nghĩ
phải liều ngay. Chung quanh cán bộ gác đầy dẫy,
nhưng nếu lao vào được bóng tối th́ có cơ thoát.
Ác mộng tiếp tục. Người la. Kẻ bị đánh. Người rú lên
cười kinh hoàng. Lương ở trong một đám khá đông đang
bước đi. Đám người khập khễnh lê lết xuyên qua một
đám cây rậm đi xuống đụn cát phía Nam. Khi họ xuống
đồi, Lương lách người lao vào bóng tối. Một viên đạn
rít bên tai. Anh phóng qua đám rừng, tai vẫn nghe
tiếng đạn và tiếng la hét. Chỉ vài phút anh tới một
con suối và chạy theo ḍng nước hướng về phía Đông.
Anh đi suốt đêm, thỉnh thoảng bị khuấy động bởi trái
sáng thả từ máy bay và tiếng đại bác. Sáng ra, anh
thấy ḿnh băng qua một con đường sắt. Từ đó anh tiếp
tục đi tới quốc lộ, ḷng mong sớm thoát được vùng tử
địa. Xế chiều anh tới con đường phía Nam cách Phú
Bài mấy dặm. Mải tới ngày 16/2, Lương mới về lại
được thành và kể cho chị Kim những ǵ đă xảy ra...
Người ta đoán rằng đám nạn nhân từ Phú Cam tiếp tục
đi nhiều ngày nữa về hướng Nam, xuyên qua một vùng
cây cối khó đi. Mải tới trung tuần tháng 9 năm 1969
người ta mới t́m thấy xác họ trong một con suối nhỏ,
khe Đá Mài, con suối chảy ra khe Đại đổ vào sông
Hương... Trong số 428 bộ cốt t́m được ở đó, rất ít
được nhận diện. V́ không t́m thấy ở đâu khác, gia
đ́nh họ Nguyễn (thân nhân người lính trẻ) tin rằng
con ḿnh đă chấm dứt cuộc đời nơi khe suối này...
Trong số các nạn nhân bị thảm sát trong Tết Mậu
thân, người ta thấy có cả những người ngoại quốc như
bốn người Đức dạy ở Đại Học Y Khoa Huế: Bác sĩ và bà
Hort Gunther Krainick, Bác sĩ Raimund Discher, và
Bác sĩ Alois Alterkoster. Họ bị bắt ngày 5.2.1968 và
về sau người ta t́m thấy xác họ ở gần chùa Tường
Vân. Bác Sĩ Elje Vannema đă kể lại như sau:
Các bác sĩ đều là người công giáo và họ đă đến Việt
Nam dưới thời ông Ngô Đ́nh Diệm. Sau khi ông Diệm bị
lật đổ họ được khuyên nên rời khỏi Việt Nam, nhưng
đă được mời ở lại ngay sau khi t́nh h́nh lắng dịu...
Bác sĩ Discher là người tới sau cùng, và hai vợ
chống ông chẳng bao giờ nói tới chuyện chính trị.
Ông vừa đưa vợ và con về Đức và mới trở lại Việt Nam
trong tháng giêng 1968. Khi tới Hàng Không Việt Nam
đặt vé đi ngày 24 tháng giêng, người ta khuyên ông
chớ nên ra Huế, v́ t́nh h́nh không ổn. Nhưng ông nói
ông phải có mặt với sinh viên, mặc dù lúc đó c̣n
đang là mùa nghỉ Tết. Hàng Không Việt Nam không bay.
ông liền sang đi nhờ máy bay Mỹ ra Huế.
Ông và ba giáo sư người Đức khác đă bị bắt sau khi
Cộng quân chiếm Huế. Họ được đưa về Chùa Từ Đàm ở
phía nam thành phố. Ngày hôm sau họ được chuyển tới
Chùa Tăng Quang Tự, rồi đưa qua một chùa nhỏ có tên
là Tường Vân. Chùa này được bao bọc bởi vài căn
cḥi, nằm cách Tăng Quang Tự độ một dặm. Cha Châu,
một linh mục công giáo làm việc với tôi hồi c̣n ở
trường Pellerin, ngày mồng 6 tháng 2 được yêu cầu
chuẩn bị "thúc ăn Mỹ" cho các bác sĩ Đức. Ngày 7
tháng 2, một kư giả Đức theo chân các thành viên của
Tổ Chức Cứu Trợ Công Giáo (ICC) cố vào t́m các bác
sĩ tại căn nhà họ ở trước đây, nhưng bị lính Mỹ cản.
Ngay cả vào để dọn đồ cũng không được phép. Tôi bước
tới cách nhà độ 15 mét th́ một anh lính Mỹ chĩa súng
vào người và nói: "Ông kia... quay ra". Khi tôi bảo
tôi có quyền vào nhận diện dấu vết những ǵ đă xây
ra, anh lính này dí súng bảo tôi đi. Họ bận rộn
khiêng vác bàn ghế, tranh ảnh và một tấm gương ra
khỏi nhà. Măi tới đầu tháng 4 th́ một sinh viên y
khoa tên Anh, được một vị sư có tên là Châu báo cho
biết có một ngôi mộ trong miếng đất nằm giữa cây
cối, cách Chùa Tường Vân nửa dặm về phía nam. Anh và
hai sinh viên nữa đă tới đó vào chập tối. V́ quá trễ
nên ngày hôm sau họ quay trở lại, đào xác các thầy
ḿnh lên và chuyền về Sài g̣n để hai bác sĩ người
Pháp nhận diện. Vê sau, bác sĩ Le Hir cho tôi hay có
nhiều vết thương nơi đầu và thân ḿnh, nhưng vết
thương kết liễu là viên đạn xuyên qua đầu và ót
Tháng năm, Toà Đại Đứ Đức ở Sài G̣n chính thức thông
báo rằng các công dân của họ đă bị hành quyết...
Sau này, Sư Châu kể rằng một trong các chú tiểu của
ông thấy người ta đào hố và nghe thấy tiếng súng.
Ngày hôm sau chú đi ra xem thấy những nấm đất mới.
V́ quá sợ nên măi mấy tuần sau mới dám hé môi.
Riêng Bác Sĩ Erich Wulff, cũng đến dạy y khoa
ở Đại Học Huế năm 1961 như ba bác sĩ Đức khác. Nhưng
ông đă tích cực ủng hộ phong trào đấu tranh của Phật
Giáo, do đó sau cuộc nổi loạn của Phật Giáo ở Huế và
Đà Nẵng năm 1966 bị thất bại, ông đă rời Việt Nam
năm 1967, nhờ vậy ông thoát chết. Bác Sĩ Discher đến
thay ông nên gặp nạn.
Tạp chí Time, số ra ngày 5.4.1968 có đăng bài
“An efficient massacre” (Một cuộc tàn sát có
hiệu quả) của kư giả Stewart Harris. Tạp chí Time đă
giới thiệu Harris như là một kư giả người Anh chống
lại chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam, Nhưng sau
khi đến Huế để điều tra cuộc thảm sát của Việt Cộng
trong Tết Mậu Thân, ông đă nhận ra được sự thật và
ghi lại như sau:
Vào buổi chiều nắng đẹp, tại một thung lũng xanh cỏ
ở vùng Nam Hoà, cách phía nam Huế 10 dặm, tôi cùng
chuẩn uư Ostara, một cố vấn quân sự của quân đội
VNCH, đứng trên sườn đồi đầy những lỗ vừa mới đào.
Dưới chân đồi là những tấm chiếu phủ trên bạt ni
lông. Ostara lật chiếu lên, tôi thấy hai xác người,
tay họ bị trói phía trên cùi chỏ, giật ngược về phía
sau. Nạn nhân bị bắn từ phía sau đầu, đạn trổ ra
đằng miệng. Khó mà nhận diện được nạn nhân. Ngày hôm
trước, 27 người đàn bà trong làng đă vác cuốc chim
đi đào xới kiếm xác chồng con họ ở một nơi cách làng
3 dặm, sau khi nghe nói có người nghe tiếng đào xới
đất đá ở cạnh con đường mà Việt Cộng đă đi qua để
đến Huế. Việt Cộng đă bắt đi 27 người, trong đó có
vài người là viên chức trong làng và một số là thanh
thiếu niên, để làm phu khuân vác, hay để xung vào bộ
đội của chúng.
Bob Kelly, một cố vấn cao cấp của tỉnh Thừa Thiên
cho biết, các nạn nhân chỉ đơn giản bị ṭa án nhân
dân kết án một cách vội vă rồi bị xử tử với tội
danh: "Kẻ thù của nhân dân". Họ là những viên chức
xă ấp, thường là ở cấp thấp. Một số người khác bị
giết v́ họ không c̣n hữu ích cho Việt Cộng, hoặc
không cộng tác với chúng. Vài cộng tác viên của ông
Bob Kelly bị phanh thây một cách thảm khốc. Ông Bob
Kelly cho rằng những người này bị chặt ra thành từng
khúc sau khi họ đă bị giết. Nạn nhân bi trói và bị
bắn từ phía sau đầu. Ông Kelly đă giúp đào xới t́m
xác một nạn nhân. Ông Bob Kelly đă nói với người
viết bài này rằng một người Việt Nam mà ông hằng
kính trọng cho biết, một số nạn nhân đă bị chôn
sống.
Trung Uư Gregory Sharp, một cố vấn Hoa Kỳ của tiểu
đoàn 21 Biệt Động Quân cho tôi biết, hôm 14 tháng 3,
binh sĩ của ông ta đă t́nh cờ khám phá ra 25 ngôi mộ
mới trong một nghĩa trang ở cách Huế 5 dặm về hướng
đông. Trong số những ngôi mộ đó, có đến 6, 7 nạn
nhân bị chôn ngập đến cổ, đầu nhô lên khỏi mặt đất.
Theo Trung Uư Sharp th́ h́nh hài nạn nhân chẳng c̣n
nguyên vẹn, v́ đă bị kên kên và chó tranh nhau xâu
xé. Trung Úy Sharp cho biết, một số nạn nhân bị bắn
vào đầu, một số khác không bị bắn, mà bị chôn sống.
Cũng theo viên trung úy này th́ ở một vài nơi ông ta
đă thấy những vệt kéo trên mặt cát, như thể nạn nhân
cố bám vào mặt đất khi bị kéo lê. Ở Khu Tả Ngạn, 3
sĩ quan Úc đă t́m thấy 7 thi hài trong 3 hố chôn.
Những người này bị trói thúc ké và bị bắn từ phía
sau đầu. Ngay sau khi đến Huế, tôi đă dùng xe jeep
đi chung với 3 sĩ quan Việt Nam để xem xét một vài
địa điểm đang khai quật t́m kiếm thi hài nạn nhân
của vụ thảm sát. Đầu tiên chúng tôi đến Trường Trung
Học Gia Hội ở Quận 2, phía đông Huế. Ở đó người ta
đă t́m thấy 22 hố chôn mới. Mỗi hố có từ 3 đến 7 nạn
nhân. Không khí kinh hoàng vẫn bao trùm khu vực này.
Các sĩ quan cho tôi biết, các nạn nhân đều bị trói,
bị bắn từ phía sau đầu, hoặc bị chôn sống như ở
những nơi khác.
Điều ǵ đă xẩy ra đối với khoảng 40 ngàn dân Công
Giáo ở Huế? Ba phần tư số giáo dân này sống ở vùng
Phủ Cam, khu ngoại ô phía Nam thành phố Huế. Họ đă
chống cự mănh liệt khi Việt Cộng đến, một số bị giết
chết. Bốn giáo sĩ Việt Nam bị bắt đem đi, ba giáo sĩ
ngoại quốc bị giết. Hai giáo sĩ người Pháp được Việt
Cộng cho phép trở lại Phủ Cam để giúp các bà sơ,
nhưng họ đă bị giết trên đường về. Một giáo sĩ người
Pháp bị hành quyết có lẽ v́ ông ta là Tuyên Uư của
Quân Đội Hoa Kỳ.
Trong cuốn “Vietcong Stratregy of Terror”
(Chiến lược khủng bố của Việt Cộng), Giáo Sư
Douglas Pike đă mô tả cuộc t́m xác của các nạn nhân
ở Khe Đá Mài như sau:
“Binh đoàn 101 Không Vận HK thấy không thể dùng
đường bộ đến khe Đá Mài. Đường không có lối ra và
không đi qua được. Tầng lá cây dày đặc, ở VN người
ta gọi đó là cái lọng đôi, nghĩa là có hai tầng lá,
một ở gần mặt đất, gồm cây và bụi rậm, và một tầng
lá cao, che phủ bên trên. Bên dưới chỉ có ánh sáng
lờ mờ. Công Binh Quân đội Hoa Kỳ đă phải mất hai
ngày để chọc thủng một cái lỗ xuyên qua cái lộng đôi
bằng cách cho trực thăng bay lưng chừng bên trên rồi
tḥng chất nổ xuống qua khỏi các tầng lá cây và cho
nổ để tạo lỗ trống cho những chiếc trực thăng hốt
cốt có thể đáp xuống được. Rơ ràng đây là nơi xác
chết có thể được giấu kín không cần chôn cất.
“Trên một đoạn khe dài hơn một trăm mét là sọ người
chết, các bộ xương và các mănh xương người. Xác chết
được để trên mặt đất (theo thuyết vật linh, linh hồn
của những người không được chôn cất sẽ đi lang thang
măi măi trên trái đất), và trong ṿng 20 tháng, nước
suối chảy đă làm cho xương sạch trơn và trắng bạch.”
Trong bài “Mậu Thân 1968: Cải táng đồng bào bị
thảm sát”, ông Vơ Ngọc Tụng, Quận Trưởng
Quận Phú Thứ ở Thừa Thiên, đă kể lại câu chuyện ông
đi t́m các hố chôn tập thể và cải táng các nạn nhân
như sau:
Khi biến cố Tết Mậu Thân xảy ra, tôi là một sĩ quan
thuộc Pḥng 3 Bộ Tham Mưu Sư Đoàn I bộ binh đóng tại
Mang Cá, Thành Nội Huế, nơi duy nhất không bị Cộng
Sản chiếm trong đêm đầu, tức đêm mồng 1 Tết.
Sau đó, tôi được biệt phái qua Tiểu Khu Thừa Thiên
đi làm Quận Trưởng kiêm Chi Khu Trưởng Phú Thứ - một
trong ba quận có nhiều mồ chọn tập thể dân Huế. Đó
là các quận Phú Vang, Phú Thứ và Nam Hoà tỉnh Thừa
Thiên.
Vùng có nhiều hố chôn tập thể hơn cả là vùng cát gần
các thôn Xuân Ô, Xuân Đợi, Ba Lăng, Quảng Xuyên,
Lương Viện, Viễn Tŕnh. Nạn nhân bị bắt được CS dẫn
đi theo hai lộ tŕnh chính: Một lên hướng Nam Hoà đi
vào khe Đá Mài (nhiều trăm xác được t́m thấy tại
đây). Hai qua ngă Chợ Cống hoặc Dạ Lê rồi đi về các
vùng Đông Đổ, Ba Lăng, Lương Viện, Trường Hà, Mộc Tụ
thuộc quận Phú Thứ.
Việc t́m kiếm các hố chôn tập thể có nhiều cách. Một
trong những cách đó là dân theo hướng những tiếng rú
hăi hùng trong đêm. Bởi khi bị dồn thành hàng dưới
các hố rănh, biết rằng ḿnh sẽ bị hành h́nh nên các
nạn nhân đă rú lên kinh hoàng. Dân các làng chung
quanh tùy theo chiều gió đă nghe rất rơ những tiếng
rú ấy trong đêm khuya.
Mỗi cuộc cải táng phải có sự phối hợp chu đáo giữa
xă, quận và tỉnh.
Trước hết phải thành lập các toán nhận dạng nạn
nhân. Họ là những người chuyên môn và t́nh nguyện,
thường là một nhóm 6 người gồm 3 người đặc trách
nhận dạng. Khi lấy xác lên, họ t́m kiếm giấy tờ nếu
có, kiểu và màu sắc áo quần, giới tính, tóc, răng
hay những điểm nổi bật khác.
Sau ba, bốn ngày hoặc ngắn hơn tùy theo số lượng xác
t́m được vượt quá số từ 500 - 600, một lễ cải táng
được tổ chức trang nghiêm để đưa lên nghĩa trang Ba
Đồn, Ba Tầng gần Nam Giao. Rất nhiều xe GMC được
trưng dụng, mỗi xe chở 10 "tiểu" có gắn biểu ngữ, cờ
tang và có ban nhạc đi theo.
Lần tổ chức cải táng sau cùng ở Phú Thứ để dời lên
nghĩa trang Ba Đồn và Ba Tầng, người ta đă t́m được
454 xác, trong đó có một hố với 4 xác chôn sống của
2 linh mục và 2 thầy đại chủng viện. Đó đó là xác
linh mục Bửu Đồng và linh mục Đẳng, c̣n lại hai thầy
tôi không nhớ tên. V́ có cảm t́nh riêng với linh mục
Bửu Đồng, tôi đă ḍ theo dấu vết ngài từ họ Sư Lỡ
qua các thôn ấp, gia đ́nh ngài trú ngụ và cuối cùng
dẫn ra chỗ chôn ngài. Trên người ngài c̣n đủ cả giấy
tờ và h́nh ảnh với 1 lá thư do chính tay ngài viết
gởi cho mẹ. Lần đào xác nầy có một số kư giả ngoại
quốc đến Bộ Chỉ Huy tại Quận Phú Thứ. Tôi có ư định
mời họ đến tận nơi quan sát nhưng v́ mỗi lần tổ
chức, CS tăng gia hoạt động để phá hoại an ninh và
việc cải táng nên các kư giả không thể đến nơi để
thấy tận mắt được...”
Ông Vơ Văn Bằng, Trưởng Ban Truy T́m và Cải Táng Nạn
Nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân, đă hồi tưởng:
“Các hố
cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người.
Trong các hố, người th́ đứng, nào là nằm, nào là
ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương
đă ră ra. Trên thi hài c̣n thấy những dây lạt trói
lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với
nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số
người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là
do cuốc xẻng.” (RFA 31.1.2008).
Như chúng tôi đă tŕnh bày, Đảng CSVN muốn tạo sự
kinh hoàng trong quần chúng để mọi người hoảng sợ và
tuân phục, nên đă ra lệnh thực hiện những cuộc tàn
sát dă man như thế. Đây là chính sách mà Lénin đă áp
dụng tại Liên Sô trước đây.
Trong quyển "The Unknown Lenin", ông
Richard Pipes, Giáo sư Sử Học Nga thuộc Harvard
University, ghi nhận rằng yếu tố lạnh người nhất là
Lenin đă ra lệnh "tạo sự kinh hoàng" trong quần
chúng trên toàn quốc. Hồi đầu tháng 9/1918,
Lenin viết: "Cần thiết và khẩn cấp chuẩn bị
cho sự kinh hoàng, một cách bí mật". Tháng
8/1919, Lenin chỉ thị cho bọn cầm quyền tỉnh Penza
phải treo cổ ít nhất 100 người, một cách công khai.
Lénin truyền lệnh: "Hăy thực hiện chuyện này
bằng một phương cách mà người ta sẽ thấy, từ xa hàng
trăm dặm, run sợ, biết đến, và gào thét. Họ bị treo
cổ, và sẽ treo cổ đến chết bọn địa chủ hút máu".
Đảng CSVN cũng bắt chước đường lối này khi nghĩ rằng
có thể chiếm giữ Huế lâu dài.
Người Cam-bốt có hai tác phẩm danh tiếng nói lên tội
ác diệt chủng của Khmer Đỏ, đó là cuốn
“Survival in the Killing Fields” (Sống c̣n
trong Các Cánh Đồng Chết) của Haing Ngor, Roger
Warner, và cuốn “When Broken Glass Floats –
Growing up under the Khmer Rouge” (Khi mảnh
chai nổi lên – Lớn lên dưới chế độ Khmer Đỏ) của
Chanrithy Him. Cuốn “Survival in the Killing
Fields” đă được đóng thành phim dưới cái tên "Killing
Field". Hai tác phẩm này đă đánh động được lương
tâm nhân loại, nên ngày nay các lănh tụ Khmer Đỏ
đang phải ra trước ṭa án h́nh sự để bị trừng phạt
về tội diệt chủng và tội ác chống nhân loại.
Người Việt “quốc gia chống cộng” có tŕnh độ văn hóa
và cuộc sống cao hơn người Cam-bốt, nhưng ngoài
những bài chửi Cộng Sản bằng dao to búa lớn, không
có một tác phẩm nào nói về tội ác của CSVN trong Tết
Mậu Thân có giá trị tư pháp hay sử liệu như hai tác
phẩm nói trên, nên những kẻ phạm tội vẫn c̣n ung
dung tại vị. Đó là một điều đáng buồn, rất đáng
buồn!