|
Gần đây, sau khi “Nhóm Thân Hữu Già Lam” xuất hiện với chủ trương đưa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), thường được gọi là Giáo Hội Ấn Quang, về “hợp tác” với Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước, một số tác giả đă viết bài nói đến trách nhiệm của Ḥa Thượng Thích Trí Quang trong việc đưa GHPGVNTN vào các cơn khủng hoảng liên tục, kể cả ngày hôm nay. Những phê phán về Ḥa Thượng Thích Trí Quang đă tăng lên kể từ khi Tập San Biệt Động Quân số 19, Xuân Đinh Hợi 2007, cho đăng bài “Biến động Miền Trung, những chuyện chưa ai nói” của ông Liên Thành, Cựu Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên – Huế và giới thiệu ông như là môt Phật tử thần thành. Bài này đă kể lại các biến cố Phật Giáo tại Huế và Thừa Thiên từ 1963 đến 1966 mà ông đă chứng kiến. Trong bài đó, ở đoạn nói về Ḥa Thượng Trí Quang, ông có viết như sau: “Theo hồ sơ của Sở Liêm Phóng tức Mật Thám Pháp c̣n lưu tại ban Văn Khố Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên, Huế và sau này tin tức thẩm vấn cán bộ Việt Cộng được cập nhật thêm, th́ Thích Trí Quang là đảng viên Cộng Sản. Thích Trí Quang gia nhập đảng Cộng Sản Việt Nam vào năm 1949 tại mật khu Long Miêu, Dương Ḥa, là một làng nhỏ nằm phía tây lăng vua Gia Long cách làng Đ́nh Môn khoảng 30 cây số đường bộ. Người kết nạp và chủ tọa buổi lễ gia nhập cho Thích Trí Quang là Tố Hữu, đảng viên cao cấp của đảng Cộng Sản Việt Nam.” (tr. 203 – 204). Cùng có nhận định tương tự, bà Tôn Nữ Hoàng Hoa ở Texas đă cho phổ biến trên các diễn đàn Internet hôm 11.2.2008 bài “Sự thật về Thích Trí Quang qua biến động Miền Trung và Pháp Nạn của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hôm nay”, với câu hỏi của nhiều người: “Tại sao Phật Giáo ḿnh lung tung vậy?" Trước hết, bà đưa ra một nhận định tổng quát: “Cho đến nay trước những mưu toan xâm chiếm GHPGVNTN bắt nguồn từ những vị Sư Quốc Doanh đă trà trộn trong Phật Giáo VN đă từ từ lộ diện. Tuy những tổ chức trá h́nh Thân Hữu Già Lam, Nhóm Tăng Ni Hải Ngoại đi từ Giao Điễm, Giao Điễm về Nguồn đă cho thấy lực lượng Sư Quốc Doanh trong GHPGVNTN đă lặn sâu để hôm nay nhất định phải trèo cao hầu thực hiện giai đoạn chót của những kẻ đạo tặc trong GHPGVNTN đang biến Đạo vào Đảng hôm nay.” Bà viết tiếp: “Cho dù đứng dưới lăng kính nào, cho dù bất cứ một suy nghĩ nào dù cho các vị cao tăng trong GHPGVNTN cũng phải đồng ư ngầm một điều rằng bất cứ những biến cố nào đang xảy ra hôm nay cũng đều được điều hướng bởi "Thái Thượng Hoàng". Một Thái Thượng Hoàng mà trong bức tâm thư cùa TT Thich Chơn Tâm đă gởi ra cách đây không lâu đă có nhắc đến trước âm mưu soán ngôi của Đại Lăo Hoà Thương Thích Quăng Độ của nhà thơ, nhà tu, nhà ước mơ Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây ca khúc khải hoàn Thích Tuệ Sỹ. “Thái Thượng Hoàng đó mà Thích Chơn Tâm ám chỉ là ai? Xin thưa cùng qúi vị đó chính là Thích Trí Quang. Một thời đă "chống Mỹ cứu nước lẫy lừng " qua biến cố Miền Trung 1963-1966. “Thích Trí Quang hiện đang cư ngụ tại Chùa Già Lam của Thích Trí Thủ, ở Việt Nam.” Trong phần chính của bài, bà kể lại những ǵ mà Ḥa Thượng Trí Quang đă gây ra cho Phật Giáo và đất nước trước 30.4.1975. TẠI SAO CÓ SỰ LIÊN KẾT NÀY? Chuyện Ḥa Thượng Trí Quang đă gây khủng hoảng nghiêm trọng cho Phật Giáo Việt Nam và Miền Nam Việt Nam, ai cũng biết. Nhưng sở dĩ một số người tin rằng hiện nay Ḥa Thượng Trí Quang đang đóng một vài tṛ nào đó trong chủ trương của Nhóm Thân Hữu Già Lam v́ ông đang cư ngụ tại chùa Già Lam và có ảnh hưởng rất lớn đối với hai thành phần chủ chốt của nhóm này là Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ và Thượng Tọa Thích Pháp Siêu, tức Giáo Sư Lê Mạnh Thát, hai nhân vật đang chủ trương “hợp tác” với Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước để xây dựng Phật Giáo. Chúng tôi xin nhắc lại hôm 14.9.2007, Thượng Tọa Thích Không Tánh ở trong nước, đă gởi lên các diễn đàn Internet một văn thư nói về những chuyện gây lủng củng trong nội bộ Giáo Hội Ấn Quang, trong đó có đoạn như sau: “Những năm 1977, 78 v́ VC họ nắm được và điều khiển được HT Trí Quang, Minh Châu, Trí Tịnh (Ghi chú của TG: và luôn cả HT Trí Thủ. Viện Trưởng VHD Ấn Quang)... cho nên VC mới bắt và giam cầm nhị vị HT Huyền Quang, HT Quảng Độ... Nếu Quư HT theo VC mà có tinh thần Pháp Lữ th́ VC không thế nào lập được GHPG Quốc doanh như ngày hôm nay được! “Thầy Trí Siêu LMT (Lê Mạnh Thát) và Thầy Tuệ Sĩ là học tṛ, là cháu của HT Trí Quang và HT Minh Châu cho nên cũng đang đi theo con đường của Chú và Thầy ḿnh, nhưng ngại dư luận lên án, nên phải nói là “Trá hàng VC để làm Văn Hóa, Hoằng Pháp...”! 1.- Vài nét về Tuệ Sỹ và Trí Siêu Như chúng ta đă biết, Thượng Tọa Tuệ Sỹ tên thật Phạm Văn Thường, sinh năm 1943 tại Thahine, Pakse, Lào, v́ thân phụ ông đến lập nghiệp tại Lào từ thập niên 30, nhưng ông quê ở Đức Phổ, Quảng B́nh, một làng chỉ ở cách làng Diêm Điền của Ḥa Thượng Trí Quang khoảng 2 cây số. Đa số dân hai làng này đều theo Cộng Sản và năm 1954 chúng tôi không thấy dân hai làng này có ai di cư vào Nam, mặc dầu họ có thể ra đi một cách dễ dàng. Năm 12 tuổi, cậu Phạm Văn Thường về thọ giới Sa Di tại chùa Từ Đàm, Huế. Sau đó, ông được Thầy Trí Quang gởi vào học Phật Pháp ở Học Viện Hải Đức, Nha Trang, rồi về thiền viện Quảng Hương Già Lam ở G̣ Vấp. Giáo Sư Lê Mạnh Thát sinh năm 1943 tại Quảng Trị, xuất gia năm 1955 và theo học Phật học tại Chùa Bảo Quốc Huế. Từ năm 1964 đến 1974, ông được đi du học tại viện đại học Wisconsin-Madison (Hoa Kỳ), tốt nghiệp tiến sĩ triết học Ấn Độ. Sau đó ông về nước, dạy học tại Viện Đại Học Vạn Hạnh. Sau vụ chống đối việc thành lập Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước, cả Thượng Tọa Tuệ Sỹ lẫn Thượng Tọa Trí Siêu đều bị bắt giam và bị tuyên án tử h́nh vào tháng 10 năm 1988. Nhưng đến tháng 9 năm 1998, hai Thượng Tọa này đă được phóng thích cùng với Ḥa Thượng Quảng Độ và một số tù nhân lương tâm khác. 2.- Con đường “hợp tác” của Trí Siêu Sau khi được phóng thích, cả Thượng Tọa Tuệ Sỹ lẫn Trí Siêu đều về sống tại Chùa Già Lam. Thượng Tọa Tuệ Sỹ c̣n tiếp tục chống đối nhà cầm quyền một thời gian dài, nhưng Thượng Tọa Trí Siêu chủ trương “hợp tác” với Giáo Hội Nhà Nước để làm văn hóa. V́ thế, “con đường danh vọng” của ông ở trong nước ngày càng đi lên. Ngày 10.11.2007 vừa qua, ông được Nhà Nước chọn làm Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Tế (IOC) đồng thời là Tổng Thư Kư Ủy Ban Điều Phối Quốc Gia Đại Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc (VESAK) và Đại Hội Phật Giáo Quốc Tế Lần Thứ 5 từ ngày 13 đến 17.5.2008 tại Hà Nội, với dự tính sẽ có khoảng 4.000 người tới tham dự, trong đó có đại diện của 70 quốc gia trên thế giới. Thiền Sư Nhất Hạnh cũng đă được mời. Nhưng nhóm GHPGVNTN không được dự. 3.- Vài nét về lễ Vesak LHQ Để độc giả có thể nắm vững vấn đề hơn, chúng tôi xin tŕnh bày qua vài nét về lễ Vesak LHQ: VESAK là tên gọi tháng thứ 4 của năm theo lịch Ấn Độ. Người Ấn Độ có tín ngưỡng Phật giáo xem tháng Vesak là tháng linh thiêng v́ theo truyền thuyết, vào ngày trăng tṛn của tháng này đă diễn ra 3 sự kiện quan trọng gắn với thân thế và sự nghiệp đức Phật: Phật đản sinh, Phật thành Đạo và Phật nhập Niết bàn. Ngày 15.12.1999, tại phiên hợp thứ 54, theo đề nghị của 34 nước, Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đă chính thức công nhận lễ Vesak là một lễ hội văn hóa, tôn giáo quốc tế của Liên Hợp Quốc. Từ đó, lễ Vesak bắt đầu được tổ chức tại các nơi khác nhau trên thế giới: Lễ Vesak LHQ đầu tiên được tổ chức tại trụ sở LHQ ở New York năm 2001. Lễ Vesak lần 2 được tổ chức tại Mumbai, Ấn Độ vào năm 2005. Hai lễ Vesak tiếp theo được tổ chức tại Thái Lan: năm 2006 tại Trung tâm Phật giáo Quốc gia Buddhamonthon và năm 2007 tại Trường Đại học Mahachulalongkom. Năm 2008 lễ Vesak được tổ chức tại Hà Nội. Vào tháng 5 năm 2006, Giáo sư Lê Mạnh Thát cũng đă được chọn làm thành phần trong phái đoàn Phật Giáo Nhà Nước đi dự Đại Hội Phật Giáo ở Thái Lan. Một vài sự kiện nói trên cho thấy Giáo Sư Lê Mạnh Thát đang trở thành con bài lớn của Mặt Trận Tổ Quốc và Ban Tôn Giáo Chính Phủ. Do đó, việc ông chủ trương đưa GHPGVNTN về “hợp tác” với Giáo Hội Nhà Nước là chuyện không có ǵ đáng ngạc nhiên. Hiện nay, báo chí trong và ngoài nước đang viết bài ca tụng ông như là một siêu nhân của Phật Giáo, nhất là “những phát hiện lịch sử chấn động” của ông. Nhưng chúng tôi đă đọc một số tác phẩm của ông và nhận thấy ông cũng như các thiền sư Việt Nam khác, chỉ chú tâm đến những huyền thoại về Phật Giáo và “bỏ quên” tất cả các “Pháp nạn” đau xót của Phật Giáo trong lịch sử. Vấn đề được đặt ra là những quyết định của hai Thượng Tọa Tuệ Sỹ, Trí Siêu và Nhóm Thân Hữu Già Lam có chịu ảnh hưởng của Thượng Tọa Trí Quang như nhiều người đă nói không? THỬ T̀M CÂU TRẢ LỜI 1.- Mục tiêu giống nhau Mọi người đều biết, tham vọng của Ḥa Thượng Trí Quang cũng như nhóm trí thức Phật Giáo trong Nhóm Thân Hữu Già Lam là muốn thống lănh Phật Giáo để từ đó tiến tới thống lănh đất nước, nhưng khó tin được chính Ḥa Thượng Trí Quang đă hướng dẫn Nhóm Thân Hữu Già Lam tham gia vào Giáo Hội Nhà Nước để xâm chiếm dần giáo hội này và đợi khi chế độ cộng sản sụp đổ, sẽ thống lănh Phật Giáo Việt Nam và từ đó thống lănh đất nước, v́ Ḥa Thượng Trí Quan không bao giờ có những “cao kiến” như thế. 2.- Con người thật của Trí Quang Theo bản chất và qua quá tŕnh hoạt động của Thích Trí Quang, chúng ta thấy ông là người có nhiều tham vọng, cuồng tín, cực đoan và bốc đồng, nhưng ông lại là người không có mưu lược, miệng hùm gan sứa, khi gặp thời th́ hống hách, kiêu căng, phách lối, nhưng khi thất thế lại t́m cách chạy trốn, để mặc hậu quả cho những kẻ theo ông gánh chịu... Cuốn Bạch Thư của Ḥa Thượng Thích Tâm Châu công bố ngày 31.12.1993 có trích dẫn lá thư viết tay của Đại Đức Thích Quảng Thành ở Huế, dài 10 trang đề ngày 31.12.1973, gởi cho Thượng Tọa Trí Quang lên án một cách nặng nề thái độ hèn nhát của Thượng Tọa này. Đại Đức viết: “Năm 1964, khi Thiên Chúa Giáo xuống đường dưới thời chính phủ Nguyễn Khánh, Thượng Tọa đă trút bỏ trách nhiệm, cạo bỏ râu mày, cải trang trốn sang Cao Miên. Nữa đường, nghe t́nh thế biến chuyển, Thượng Tọa mới trở về. Trong những cuộc đấu tranh, cứ đến khi nào bí lối, nguy hiểm, Thượng Tọa đều dùng h́nh thức tuyệt thực, để giao trách nhiệm và công việc cho các Thượng Tọa khác”. Các báo cáo c̣n để lại, cũng những các cuộc phỏng vấn Thiếu Tá Đặng Sĩ, Phó Tỉnh Trưỡng Nội An ở Huế và ông Lê Văn Dư, Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia ở Huế thời đó đều cho biết người hoạch định kế hoạch tổ chức Lễ Phật Đản ở Huế năm 1963 một cách rầm rộ khác thường để khiêu khích chính quyền theo kế hoạch của CIA là Thượng Tọa Thích Thiện Minh chứ không phải Thượng Tọa Thích Trí Quang. Mặc dầu đă có những lời lẽ hằn học và kích động trong bài thuyết pháp vào sáng 8.5.1963 tại chùa Từ Đàm, sau khi biến cố xẩy ra ở đài phát thanh Huế, Thích Trí Quang đă chấp nhận giải pháp ḥa giải của ông Ngô Đ́nh Cẩn. Đại Đức Thích Quảng Thành cho biết như sau: “... Nhưng chưa ai biết, sau buổi lễ này (lễ Phật Đản tại chùa Từ Đàm năm 1963), Thượng Tọa lại gửi thơ cho ông Cẩn, nhân danh Hội Trưởng Hội Phật Giáo Trung Phần Việt Nam, qua trung gian của ông Nguyễn Văn Đẳng, Thị Trưởng Huế lúc bấy giờ, để xin cam đoan không có chuyện ǵ sẽ xẩy ra nữa, sẽ chấm dứt mọi chuyện, nếu ông Cẩn cho tổ chức một lễ cầu siêu. Sau khi gửi thư, Thượng Tọa gặp ông Cẩn và sau đó, Thượng Tọa giao hết mọi chuyện cho các Thượng Tọa khác, Thượng Tọa chỉ c̣n gặp ông Woulf. Nếu các Thượng Tọa khác cũng làm như Thượng Tọa th́ liệu có hay không cuộc cách mạng 1963?” Đại Đức Thích Quảng Thành c̣n trách Thượng Tọa Trí Quang: “Đem con bỏ chợ. Đầu hàng nữa chừng. Trốn tránh trách nhiệm. Không xứng đáng làm gương cho Tăng, Ni noi theo”. 3.- Một con người nguy hiểm Người ngăn cản mọi giải pháp ḥa giải và t́m cách làm cho t́nh h́nh ngày càng nghiêm trọng hơn để cướp chính quyền là Thượng Tọa Thích Thiện Minh. Một báo cáo mật đề ngày 17.8.1963 của cơ quan CIA ở Sài G̣n (mới được giải mă), cho biết trong khi đang thương lượng với chính phủ, Thích Thiện Minh, Phó Chủ Tịch Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam (GAVB) tại Trung Phần, và Thích Trí Quang “đă soạn thảo một danh sách sơ khỏi những người họ muốn thấy có mặt trong chính phủ nếu ông Diệm bị lật đổ, trong đó có cả Phan Khắc Sửu...” Mặc dầu Tướng Đỗ Mậu đă ra lệnh đốt bỏ tất cả các tờ khai của các cao tăng trong vụ Phật Giáo để phi tang và tự do viết phịa sử, người ta c̣n t́m thấy được một tờ khai của Thượng Tọa Thích Tâm Châu ở Bộ Nội Vụ, trong đó Thượng Tọa nói rơ người ngăn chận mọi cuộc ḥa giải chính là Thích Thiện Minh. Như vậy, người điều khiển kế hoạch của Phật Giáo lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm và chiếm chính quyền là Thích Thiện Minh chứ không phải Thích Trí Quang. V́ biết Thích Thiện Minh là người nguy hiểm nên dưới thời Đệ Nhị Cộng Ḥa, để ngăn chận các kế hoạch phá hoại của Thích Thiện Minh, ngày 25.2.1969, cơ quan an ninh đă lục soát Trung Tâm Phật Giáo Quảng Đức ở số 294 đường Công Lư, Saigon, nơi Thích Thiện Minh đang cư trú và hoạt động, tịch thu một số tài liệu và vơ khí, và truy tố Thích Thiện Minh ra Ṭa Án Quân Sự Mặt Trận Vùng III, tuyên phạt 10 năm khổ sai và 5 năm cấm cố. Sau khi được ân xá, ông đă lập ngay Lực Lượng Ḥa Giải Dân Tộc và giao cho Luật Sư Vũ Văn Mẫu làm Chủ Tịch để yểm trợ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Mặc dầu “có công với cách mạng”, Việt Cộng cũng tin rằng Thích Thiện Minh là thành phần nguy hiểm, nên t́m cách loại trừ: Đêm 6.4.1977, công an lục soát chùa Ấn Quang, bắt ông và một số tăng sĩ khác. Đầu tiên ông bị giam ở công an, sau được đưa vào khám Chí Ḥa, rồi chuyển ra trại Hàm Tân ở B́nh Tuy và ông đă chết rủ tù tại đây vào ngày 17.10.1978, hưởng dương 57 tuổi. Trong khi đó, Thượng Tọa Thích Trí Quang, tuy rất hung hăng con bọ xít, nhưng hữu dỏng vô mưu, nên cả chế độ Đệ Nhị Cộng Ḥa lẫn Việt Cộng không nghĩ rằng phải loại ông, do đó ông vẫn c̣n tồn tại đến ngày hôm nay. 4.- Một cú chơi xỏ đau hơn hoạn Sau khi khai thác Thượng Tọa Thích Trí Quang để lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, ông đă bị CIA bỏ rơi v́ tính ngông cuồng của ông. Ông lại trở thành con bài của Việt Cộng để đánh bại Miền Nam. Nhưng sau khi chiếm xong Miền Nam, Việt Cộng chẳng những không xài ông mà c̣n chơi ông một vố khá nặng: Năm 1981, khi thành lập Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước, Việt Cộng đă dùng tên cán bộ tôn giáo vận Đổ Trung Hiếu để dánh lừa ông, giả vờ mời ông làm Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước để ông không đứng về phe chống đối hay quậy phá. Ông tưởng thật, đă phập phồng chờ đợi... Nhưng trong đại hội Phật Giáo ngày 4.11.1981 tại Chùa Quán Sứ ở Hà Nội, người được bầu làn Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự (bù nh́n) không phải là ông mà là Ḥa Thượng Thích Trí Thủ, nguyên Viện Trưởng Viện Ḥa Đạo của GHPGVNTN! Sau khi bị chơi một vố đau hơn hoạn, ông c̣n bị mời ra khỏi Chùa Ấn Quang. Ông phải về cư ngụ tại Chùa Quảng Hương Già Lam của Ḥa Thượng Trí Thủ. Chùa này ở số 498/11 Lê Quang Định, G̣ Vấp, hiện do Thượng Tọa quốc doanh Thích Đức Chơn trụ tŕ. Tuy bị đá đau, nhưng ông không bao giờ dám đưa ra một lời tuyên bố công khai nào chống lại sự đàn áp Phật Giáo của chính quyền như đa số các chư tằng trong ban lănh đạo GHPGVNTN. Thỉnh thoảng có người quen đến thăm, ông chỉ thốt ra đôi lời bất măn về chế độ mà thôi. NGƯỜI CẦM TINH THÍCH TRÍ QUANG V́ ông Liên Thành xác quyết Ḥa Thượng Thích Trí Quang là một đảng viên Đảng CSVN, nên chúng tôi thấy cần nói thêm một số hoạt động cho Cộng Sản của Thích Trí Quang để giúp làm sáng tỏ vấn đề. Làng Diêm Diền (thường được gọi là làng Kẻ Nại) ở cách làng tôi chưa đến hai cây số. Tôi biết rất nhiều chuyện đă xẩy ra tại đây trước 1954, kể cả gia đ́nh ông, nơi ông thọ giới sa di..., nhưng khi đọc “Tiểu truyện tự ghi” do chính ông viết nói về thời thơ ấu của ông, làng ông... và nhất là vụ trốn vào Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ ở đường Hàm Nghi, Sài G̣n, tôi thất vọng vô cùng. Tôi không ngờ một Ḥa Thượng mà có thể viết tự truyện một cách bố láo và khôi hài như vậy! Nói một cách vắn tắt, năm 1945, khi Việt Minh cướp chính quyền, cả 4 anh em ông là Phạm Quang, Phạm Minh, Phạm Chính và Phạm Đại đều đi theo Việt Minh. Phạm Chánh đi bộ đội có cấp bậc Trung Sĩ, chỉ huy một tiểu đội du kích của Việt Cộng, đă bị Pháp bắn chết ở Đức Phổ, phía Tây thành phố Đồng Hới vào ngày 4.6.1947 khi mới 21 tuổi. Phạm Minh làm giấy tờ văn pḥng c̣n Phạm Đại làm y tá. Riêng Phạm Quang (trước gọi là Phạm Văn Bồng), tức Thích Trí Quang, giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Phật Giáo Cứu Quốc Quảng B́nh. Ủy Ban này do Ḥa Thượng Thích Quảng Độ, một đảng viên Đảng CSVN làm Chủ Tích. Khi Pháp chiếm Đồng Hới, ông cũng bị bắt, nhưng nhờ sự bảo lănh của một viên chức làm việc cho Pháp ở Huế, ông được trả tự do và trở vào Huế. Sau khi Hiệp Đ́nh Genève được kư kết vào ngày 20.7.1954, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thành lập Phong Trào Ḥa B́nh để yểm trợ cho Việt Minh đ̣i quân đội Pháp rút khỏi miền Nam và tổ chức tổng tuyển cử. Tại Huế, Thích Trí Quang đang giữ chức Hội Trưởng Hội Việt Nam Phật Học, đứng ra phát động phong trào này, nên đă thu hút được một số trí thức Phật Giáo thời đó tại Huế như Bác sĩ Lê Khắc Quyến, Bác sĩ Thú Y Phạm Văn Huyến, Dược Sĩ Nguyễn Cao Thăng, ông Nguyễn Văn Đảng, Giáo Sư Tôn Thất Dương Kỵ... Trước t́nh thế này, ngày 7.11.1954 chính phủ Ngô Đ́nh Diệm đă ra lệnh bắt tất cả những người liên hệ đến Phong Trào Ḥa B́nh thân Cộng. V́ Thích Trí Quang đang là Hội Trưởng Hội Phật Học ở Huế nên công an tŕnh nội vụ cho ông Ngô Đ́nh Cẩn giải quyết. Sau khi xem hồ sơ của Thích Trí Quang, ông Ngô Đ́nh Cẩn thấy Thích Trí Quang là người đồng hương nên quyết định chiêu hồi cả nhóm này. Trước cái thế chẳng đặng đừng, Thượng Tọa Thích Trí Quang đă chấp nhận hợp tác và ông Cẩn đă dùng Thượng Tọa Trí Quang và nhóm của ông để nắm khối Phật Giáo ở Huế. Nhiều người đă ngăn cản ông Cẩn về chuyện này, nhưng ông tin rằng ông có thể nắm Thích Trí Quang được. Nhóm của Thích Trí Quang đều được trọng dụng: Bác sĩ Lê Khắc Quyến được cử giữ chức Giám Đốc Bệnh Viện Trung Ương Huế và khi trường Đại Học Y Khoa Huế được thành lập, ông được cử giữ chức Khoa Trưởng của trường này. Ông Nguyễn Văn Đảng thuộc ngạch Thừa Phái của Tây được chuyển qua ngạch Đốc Phủ Sứ và được bổ làm Tỉnh Trưởng B́nh Định, sau đó ra làm Tổng Thư Kư Ṭa Thị Chính Đà Nẵng từ năm 1955 đến năm 1962, rồi được đưa ra làm Tỉnh Trưởng tỉnh Thừa Thiên kiêm Thị Trưởng thành phố Huế. Nguyễn Cao Thăng được giao cho đứng tên sang lại hảng được phẩm OPV của Pháp và làm chủ hảng này. Đây là một cơ sở kinh tài quan trọng của Đảng Cần Lao. Riêng Bác sĩ Thú Y Phạm Văn Huyến đă được Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm cử làm Tổng Ủy Phụ Trách Đồng Bào Tỵ Nạn. Ông Vĩnh Phúc, một người thân tín của Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, có kể lại: Nhân có đại hội Phật Giáo tại Tích Lan, Phật Giáo Việt Nam đă cử hai Thượng Tọa Thích Thiện Minh và Thích Trí Quang đi tham dự. V́ hai vị sư này rất thân với ông Cẩn, nên ông Cẩn đă viết cho Bác Sĩ Trần Kim Tuyến một tấm thiệp nhỏ, vỏn vẹn ghi mấy chữ: “Giới thiệu hai đồng chí Thượng tọa Thích Trí Quang và Thượng tọa Thích Thiện Minh.” Điều này cho thấy hai Thượng Tọa này rất được ông Cẩn tin cậy. Tôi biết chắc trong hồ sơ t́nh báo của VNCH do Pháp để lại có ghi Đại Đức Thích Minh Châu và Vơ Đ́nh Cường (Huynh Trưởng Gia Đ́nh Phật Tử ở Huế - vừa qua đời ngày 6.3.2008 tại Sài G̣n) đă gia nhập đảng CSVN năm 1943. Thích Minh Châu phụ trách về văn hóa và giáo dục, c̣n Vơ Đ́nh Cường trở thành Ủy Viên Dân Vận của Tỉnh Ủy Thừa Thiên. Nhưng tôi không t́m thấy một dấu vết nào cho thấy Thích Trí Quang có gia nhập đảng CSVN. Năm 1955, qua một cuộc lục xét, đoàn công tác đặc biệt của Dương Văn Hiếu đă bắt được một cán bộ cộng sản là Lê Thị Chanh (tên thật là Phan Thị Chanh), cháu của cụ Phan Bội Châu. Qua khai thác, đoàn đă bắt được gần như toàn bộ các thành viên của Tỉnh Ủy Thừa Thiên, trừ viên Bí Thư Tỉnh Ủy chạy thoát được. Nguyễn Văn Đạt, Phó Bí Thư, và Vơ Đ́nh Cường cũng bị bắt luôn. Nhưng Thích Trí Quang đă can thiệp nên ông Cẩn đă ra lệnh thả Vơ Đ́nh Cường ra. Tôi đồng ư với ông Liên Thành, sau khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ, T́nh Ủy Thừa Thiên đă được tái lập và nấp dưới các cơ sở Phật Giáo ở Huế để hơạt động. Hoàng Kim Loan, người thay Nguyễn Văn Đạt làm Phó Bí Thư Tỉnh Ủy Thừa Thiên đă nấp sau lưng Ḥa Thượng Đôn Hậu để hoạt động và dùng Chùa Từ Đàm làm nơi liên lạc. Lúc đó chùa này do Thượng Tọa Thích Thiện Siêu trụ tŕ. Tuy nhiên, mọi kế hoạch vận động Phật Giáo do Khu Ủy Trị Thiên - Huế hay Tỉnh Ủy Thừa Thiên hoạch định đếu được giao cho Vơ Đ́nh Cường thi hành. Vơ Đ́nh Cường đă xử dụng Thích Trí Quang để gây ra các biến động. Vơ Đ́nh Cường đă bị bắt rất nhiều lần, nhưng lần nào cũng được Thích Trí Quang can thiệp xin thả ra. Có thể nói, từ năm 1964 đến năm 1975, Vơ Đ́nh Cường là người “cầm tinh” Thích Trí Quang. Chúng tôi nhớ lại, vào đầu tháng 4 năm 1975, khi Đà Nẵng vừa bị mất, nhóm Trần Kim Tuyến và Nguyễn Cao Kỳ đă họp với các nhóm khác tổ chức lật đổ Tổng Thống Thiệu và thành lập một chính phủ “ba thành phần”. Thượng Tọa Thích Trí Quang đă đồng ư. Nhưng khi Vơ Đ́nh Cường đại diện Thích Trí Quang đến họp, đă đ̣i phải tuyên bố trung lập và Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam ngay, Ông Trần Kim tuyến nói Thầy Trí Quang đă đồng ư thành lập chính phủ “ba thành phần”, Vơ Đ́nh Cường trả lời ngay: “Tôi là người quyết định chứ không phải Thích Trí Quang.” Chúng tôi tin rằng Đảng CSVN không bao giờ chấp nhận một người háo thắng, bốc đồng và vô kỷ luật như Ḥa Thượng Trí Quang vào Đảng Cộng Sản. Ông chỉ được Cộng Sản xử dụng như một c̣n bài, xài xong th́ bỏ. Chúng ta chỉ biết hiện nay có những tăng sĩ Phật Giáo cao cấp sau đây là đảng viên đảng CSVN, đó là Ḥa Thượng Thích Thanh Tứ ở Hà Nội, Ḥa Thương Thích Minh Châu và Ḥa Thượng Thích Trí Quảng ở Sài G̣n. CON TẨY ĐĂ BỊ LẬT LÊN Sau 33 năm “chống cộng cứu Phật Giáo”, nhóm Thân Hữu Già Lam thấy rằng con đường này chẳng những không tạo cho GHPGVNTN được một chỗ đứng nào ở Việt Nam mà c̣n làm cho giáo hội này ngày càng hao ṃn đi, nên đă thay đổi chiến thuật: “Hợp tác” với Giáo Hội Nhà Nước để dần dần xâm nhập vào các cơ quan lănh đạo của giáo hội này, với hy vọng sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, sẽ thống lănh Phật Giáo và tiến lên thống lănh đất nước, thành lập một chính quyền Phật Giáo do họ điều khiển. Nhận định này được thu gọn trong lời tuyên bố của Trần Quang Thuận, nguyên Vụ Trưởng Vụ Giao Tế của Giáo Hội Ấn Quang, trong cuộc hội thảo về “Nhân Quyền Cho Việt Nam” tại tại thành phố Westminster vào chiều 8.1.1995. Trần Quang Thuận bảo có người từ Việt Nam mới về đă đưa ra một nhận định “rất độc đáo” như thế này: “Cái hiểm họa mà Phật Giáo mắc phải trước đây và có thể cả sau này, thật sự không phải là Cộng Sản mà là Thiên Chúa Giáo. Ông nói Phật Giáo với bản chất hiền lành như thế đó không làm sao có thể ngăn chận được cái sự xâm nhập của Thiên Chúa Giáo. Chỉ có Cộng Sản làm được việc đó không mà thôi. Như vậy đó, tại sao các ông lại chống chính quyền, chống Cộng Sản ở bên đó. Chính Cộng Sản đă tiếp tay cho các ông làm những chuyện như vậy.” Nhưng tham vọng của Nhóm Thân Hữu Già Lam khó thực hiện được v́ các lư do sau đây: Lư do thứ nhất: Khi con bài tẩy đă bị lật lên rồi th́ không c̣n xài được nửa. Cả hai bên sẽ t́m cách khai thác: Trong khi Đảng CSVN tiếp đón nhóm này một cách niềm nở, trao cho một số chức vụ ở mặt nổi để chiêu dụ rồi dùng nhóm để làm biến mất dần GHPGVNTN, CIA lại t́m cách ngăn chận hay phá vỡ. Điều chắc chắn là nhóm Thân Hữu Già Lam không có khả năng để qua mặt được Việt Cộng và CIA. Họ sẽ bị biến thành công cụ của Cộng Sản. Lư do thứ hai: Tham vọng đưa ra quá lớn và phiêu lưu, nhóm Thân Hữu Già Lam không đủ uy tính và kinh nghiệm để thực hiện. Lư do thứ ba: Kinh nghiệm lịch sử cho thấy không một chế độ nào, dù cộng sản hay không cộng sản, có thể chấp nhận chủ trương cửa Nhóm Thân Hữu Nhà Lam v́ chủ trương này nếu được đem thực hiện chắc chắn sẽ gây ra những biến loạn như năm 1966 tại Miền Trung. Cuối cùng, chủ trương này sẽ bị các thế lực chính trị vô hiệu hóa bằng những biện pháp khác nhau. Trong bài "Buddhism and Politics”, Ḥa Thượng Sri Dhammananda có nhận định như sau: “Khi tôn giáo bị sử dụng để thỏa măm các ư đồ chính trị th́ tôn giáo sẽ phải hi sinh các lư tưởng đạo đức cao quí của ḿnh và trở nên bị hạ thấp giá trị do những nhu cầu chính trị trần tục.” (When religion is used to pander to political whims, it has to forego its high moral ideals and become debased by worldly political demands.) Lữ Giang
|