|
Nhỏ ăn nhỏ lớn ăn
lớn
Lữ Giang
Chúng ta nhớ lại, năm 2006, một
cuộc hội thảo về đề tài “Văn
Hóa và Tham Nhũng ở Đông Nam Á”
(Culture and
Corruption in South East Asia)
đă được tổ chức tại Bangkok,
Thái Lan, trong hai ngày 3 và
4.3.2006, có 40 học giả từ các
nước Indonesia, Thái Lan, Việt
Nam và CHLB Đức đến tham dự.
Khi tŕnh bày về tham nhũng tại
các nuóc Đông Nam Á, ông Sombat
Benjasirimongkol, đại diện của
Thái Lan, đă phát biểu rằng tham
nhũng ở Việt Nam mới đạt “tŕnh
độ nhà trẻ so với tŕnh độ sau
đại học của Thái Lan”.
Lời tuyên bố này bị một số ngưới
phản đối nhưng nó đă phản ảnh
t́nh trạng thực tế tại Việt Nam.
Sau đây là một vài thí dụ cụ thể:
Xe đ̣ mỗi khi đi qua các trạm
kiểm soát đều phải nộp tiền măi
lộ cho nhân viên kiểm soát mới
khỏi bị sách nhiễu. Đi xe trái
luật chỉ cần dúi cho cảnh sát
lưu thông một số tiền là khỏi bị
biên giấy phạt. Muốn đưa hàng
lậu qua biên giới, cách tốt nhất
và an toàn nhất là đưa hối lộ
cho cảnh sát biên pḥng hay thuê
cảnh sát biên pḥng chuyển giúp.
Xin kư chuyển nhượng nhà đất hay
bất cứ giấy tờ ǵ quan trọng,
phải đưa tiền lót tay cho các
viên chức xă, nếu không sẽ bị
ngâm từ tháng này qua tháng khác,
v.v. Đó không phải là tham nhũng
theo “tŕnh độ nhà trẻ” hay sao?
Chúng ta khó t́m thấy lối tham
nhũng “tŕnh độ nhà trẻ” này ở
Singapore, Đài Loan hay Đại Hàn.
Tuy nhiên, sau vụ PCI, chúng ta
thấy tham nhũng ở Việt Nam không
phải chỉ với “tŕnh độ nhà trẻ”
mà có nhiều cấp bậc khác nhau.
Nhưng hôm nay chúng tôi muốn đưa
ra một số sự kiện để cho độc giả
thấy rằng tham nhũng và lường
gạt không phải chỉ xẩy ra ở các
nước chậm tiến như Việt Nam hay
Cambodia mà c̣n xẩy ra ở các
nước văn minh, nhất là tại nước
Mỹ này. Càng văn minh, kỷ thuật
tham nhũng và lường gạt càng cao.
ĐÔNG TÂY GIÓNG NHAU
Ngày 25.8.2008, bốn cựu viên
chức của công ty Tư vấn Quốc tế
Thái B́nh Dương (PCI)
của
Nhật đă bị truy tố v́ hối lộ một
viên chức Việt Nam tại Sài G̣n
vào năm 2003 và 2006, vi phạm
Luật chống cạnh tranh không b́nh
đẳng của Nhật Bản. Năm 2001 và
2003, công ty PCI đă thắng thầu
tổng trị giá 3,1 tỷ yen cho dịch
vụ tư vấn trong một dự án xây
dựng đại lộ Đông - Tây của thành
phố Sài G̣n. Các bị cáo
Masayoshi Taga, Kunio Takasu,
Haruo Sakashita và Tsuneo Sakano
thú nhận việc chuyển cho một
viên chức cao cấp Việt Nam tại
thành phố Sài G̣n số tiền hối lộ
820.000 đôla để thắng thầu dự án
phát triển cơ sở hạ tầng có này,
sử dụng vốn ODA của Nhật.
Báo Nhật đă nêu danh tính viên
chức VN bị cáo buộc nhận hối lộ
là ông Huỳnh Ngọc Sỹ, Phó Giám
Đốc Sở Giao Thông Công Chính
thành phố Sài G̣n, kiêm Giám Đốc
Ban Quản Lư PMU Đông-Tây.
Chuyện các viên chức ngoại quốc
hối lộ cho các viên chức các
nuóc chậm tiến theo h́nh thức
của PCI không phải là chuyện mới
lạ.
Ngày 8.5.2006 một bản báo có
được đăng trên tờ Thời Báo Tài
Chánh London, đă tiết lộ rằng
ông James Giffen đă bị chất vấn
và truy tố v́ đă đưa hối lộ 51
triệu Mỹ kim "tiền thù lao" cho
viên chức cố vấn chính phủ
Kazakh.
Ông James Giffen là một cố vấn
đứng ra thương lượng các khế ước
về những giếng dầu tại
Kazakhstan cho Công Ty Xăng Dầu
Mobil. Ông đă bị bắt và bị buộc
tội v́ trong những nhiệm vụ giao
phó, ông đă nhận hơn 78 triệu Mỹ
kim từ Công Ty Xăng Dầu Mobil và
những công ty dầu khác tại Tây
phương rồi sau đó ngầm chuyển
bất hợp pháp tới các viên chức
cao cấp của chính phủ Kazakh.
Bộ Thương Mại Hoa Kỳ ước tính
rằng từ trung tuần tháng 5/1994
cho tới tháng 4/2002, nạn hối lộ
đút lót đă ảnh hưởng đến hậu quả
của 474 khế ước trị giá 237 tỷ
USD.
MỘT VỤ LỪA ĐẢO CHẤN ĐỘNG
Nhưng có lẽ vụ làm cho nhiều
người ngở ngàng nhất là vụ nhiều
tỷ phú, ngân hàng quốc tế và các
hiệp hội bất vụ lợi đă bị ông
Madoff ở Mỹ lừa mất khoảng 50 tỷ.
Ông Bernard Madoff đă bị bắt
ngày 11.12.2008 sau khi ngày
truóc đó ông thú nhận với hai
người con trai rằng ông làm mất
50 tỷ USD của nhiều nhà đầu tư
trong một vụ “lừa đảo”. Hai
người con trai khuyên ông tự nộp
ḿnh cho cảnh sát.
Ngày 15.12.2008, ông Bernard
Madoff đă bị truy tố về tội lừa
đảo, nhưng được tại ngoại hậu
tra sau khi đóng tiền thế chân
chỉ 10 triệu (khỏe
re!).
Một thẩm phán tại ṭa New York
tuyên bố các nạn nhân trong vụ
lừa đảo của ông Bernard Madoff
được bảo vệ bởi Đạo Luật Bảo Vệ
Người Đầu Tư (SIPA)
và đưa công ty của Madoff qua
ṭa án phá sản.
Ông Bernard Lawrence Madoff sinh
ngày 29.4.1938 tại Hoa Kỳ. Ông
là một nhà kinh doanh đă từng
làm Chủ Tịch Thị Trường Chứng
Khoán NASDAQ. Ông thành lập
“Wall Street firm Bernard L.
Madoff Investment Securities
LLC” vào năm 1960 và là Chủ Tịch
của tổ hợp này cho đến ngày
11.12.2008, ngày ông bị bắt.
Bảng liệt kê sơ khởi cho biết có
22 tổ chức đă bị ông Madoff lừa
đảo, chẳng hạn như Banco
Santander, ngân hàng hàng đầu tư
của Tây Ban Nha mất 3,6 tỷ USD;
Ascot Partners, một công ty kế
toán và tư vấn tài chính mất 1,8
tỷ USD; Benbassat & Cie., một
ngân hàng tư nhân của Thụy Sỹ
mất 935 triệu USD; Ngân hàng
Nomura tại Tokyo công bố số tiền
bị dính vào vụ lừa đảo của
Madoff khoảng hơn 300 triệu USD,
nhưng không lo bị mất nhiều. Các
ngân hàng lớn ở Pháp cũng dính
khoảng 1,5 tỷ USD, trong đó có
ngân hàng lớn thứ tư là Natixis
với 450 triệu Euro.
Trong số các nạn nhân có một
nhân vật nổi tiếng là Thượng
Nghị Sĩ Frank Lautenberg thuộc
tiểu bang New Jersey, người được
coi là giầu nhất Thượng Viện Mỹ.
Quỹ từ thiện của ông đă đưa tiền
cho ông Madoff đầu tư. Trong năm
2006 quỹ Lautenberg đă phát
765.000 USD cho những cơ quan từ
thiện khác, có nơi nhận được
300.000 USD.
Quỹ từ thiện của ông Zukerman,
một tỷ phú chủ nhân của những tờ
báo New York Daily News và US
News and World Report cũng mất
khoảng 30 triệu USD v́ đưa tiền
cho Madoff đầu tư.
Madoff thú nhận rằng công việc
ông ta làm đúng là một vụ lừa
đảo kiểu PONZI, cũng gọi là Kim
Tự Tháp, tức là lấy tiền của
người đóng góp sau trả cho người
trước một cách đều đặn và đầy đủ,
do đó tạo nên h́nh ảnh những vụ
đầu tư lúc nào cũng có lời. Đây
là một mánh khóe lừa đảo rất
thông dụng có khắp thế giới, như
một vụ nổi tiếng đă xẩy ra ở
Albania năm 1997 đánh lừa được
gần 2/3 dân số xứ này với số
tiền hơn một tỷ USD. Khi nội vụ
bị đổ vỡ, dân chúng biểu t́nh
khiến chính phủ sụp đổ.
Mánh khóe này được mang tên
CHARLES PONZI, v́ Charles Ponzi
là kẻ đă đánh lừa nhiều người ở
Boston vào năm 1920 bằng lời hứa
hẹn trả tiền lời 50% trong ṿng
45 ngày, thu hút được hơn 40
ngàn người và thu lời 15 triệu
USD.
Phương pháp Madoff có hơi khác
Ponzi. Madoff không lôi cuốn
người có tiền bằng những lời hứa
trên trời dưới biển như Ponzi.
Công ty đầu tư của ông đă trả
tiền lời đều đặn từ 10% trở lên
và không bao giờ cao quá, trong
hàng chục năm nay. Công ty
Madoff chỉ nhận tiền gửi đầu tư
của những người được những nhà
triệu phú khác giới thiệu. Những
người đó không ngờ có ngày tiền
bay đi mất.
T̀M CÁI CHẾT V̀ BỊ LỪA
ĐẢO
Hăng tin
AFP cho biết cảnh sát Mỹ đă t́m
thấy thi thể của ông
Rene-Thierry Magon de la
Villehuchet tại văn pḥng ở
Manhattan, New York. Theo cảnh
sát, một nhân viên an ninh tại
văn pḥng của Villehuchet đă
phát hiện ông này chết trong tư
thế ngồi tại bàn làm việc vào
khoảng 8 giờ sáng 23.12.2008
(giờ địa phương).
Theo cảnh sát, ông Villehuchet,
65 tuổi, có thể đă tự tử bằng
cách uống thuốc ngủ và dùng con
dao khui hộp cắt gân máu ở tay.
Họ t́m thấy một cái hộp được kê
dưới tay ông để đựng máu. Các lọ
thuốc ngủ nằm trên bàn làm việc
của ông, c̣n con dao khui hộp
nằm trên nền nhà. Cảnh sát không
t́m thấy bất cứ thư tuyệt mệnh
nào. Trước đó, theo lời kể của
các nhân viên an ninh tại văn
pḥng th́ chiều 22.12.2008 ông
này đă yêu cầu mọi người rời
khỏi pḥng trước 7 giờ tối. Chưa
đầy 13 tiếng sau th́ người ta
phát hiện ra thi thể của ông.
Ông De la Villehuchet là đồng
sáng lập tổ chức “Access
International Advisors” vào năm
1994, một công ty gây quỹ từ các
thị trường châu Âu để đầu tư vào
quỹ Madoff. Theo hăng tin AP,
ông Villehuchet bơm tới 1,4 tỉ
USD của các nhà đầu tư châu Âu
vào hệ thống lừa đảo đa cấp của
tỉ phú Madoff. Trong khi đó,
theo AFP th́ số tiền này lên đến
2,1 tỉ USD.
Ông Villehuchet có cuộc sống rất
sung túc. Ông thường đi lại trên
khắp thế giới bằng các du thuyền
sang trọng. Ông cũng là một tay
lái thuyền buồm giỏi, từng tham
gia nhiều cuộc đua thuyền và là
thành viên của Câu lạc bộ Thuyền
buồm New York. Trước lúc qua đời,
ông Villehuchet sống ở khu ngoại
ô sang trọng tại hạt Westchester
thuộc bang New York của Mỹ cùng
với bà vợ Claudine. Hai người
không có con.
Theo báo giới Pháp, ông
Villehuchet đă t́m đến cái chết
do sức ép tâm lư nặng nề sau khi
bộ mặt thật của siêu lừa Madoff
được đưa ra ánh sáng. Báo La
Tribune của Pháp cho biết ông
Villehuchet đă làm việc cật lực
trong suốt tuần qua để t́m cách
thu hồi lại số tiền đă lỡ đầu tư
vào quỹ "ma" của Madoff.
Một người bạn thân của ông
Villehuchet nói: "Ông ta không
thể chịu đựng được sức ép sau
khi vụ Madoff bị phanh phui.”
Theo ông này, ông Villehuchet
trước khi chết đang quản lư
khoảng 2 tỉ Euro (2,79 tỉ USD)
từ các khách hàng châu Âu và 75%
số tiền này đă được đầu tư vào
quỹ Madoff. Do đó, khi vụ Madoff
đổ bể, ông Villehuchet đă bị suy
sụp tinh thần và lo sợ khách
hàng sẽ khởi kiện. Ông nói tiếp:
"Access là cả cuộc đời của ông
ấy và Madoff là một nhà quản lư
mà ông Villehuchet đă đặt trọn
niềm tin". Cũng theo ông này,
Villehuchet có cả một đội ngũ
chuyên theo dơi, ghi lại tất cả
mọi hoạt động của Madoff và ông
Villehuchet đă không ngờ tất cả
chỉ là giả mạo.
CHUYỆN GIAN LẬN CHỨNG
KHOÁN
Chuyện gian lận chứng khoán ở
Wall Street không phải là chuyện
nới lạ. Ủy Ban Giao Dịch Chứng
Khoán (SEC) Mỹ cho biết chỉ
trong 5 năm đă có hàng trăm vụ
tiết lộ trái phép thông tin nội
bộ và hàng ngàn vụ giao dịch mua
bán chứng khoán và cổ phiếu trái
luật được phát hiện. Đặc biệt có
đến 4 ngân hàng đầu tư tài chính
có uy tín ở Wall Street là UBS,
Morgan Stanley, Bank of America
và Bear Stearns trở thành nạn
nhân của vụ tai tiếng lớn này. Ở
đây chúng tôi chỉ đưa một vài vụ
cụ thể.
1.- Vụ Mitchell Guttenberg
Theo hồ sơ của Ủy Ban Giao Dịch
Chứng Khoán Mỹ cho biết vào
tháng 11-2001, tức sau biến cố
911 chưa đầy hai tháng, Mitchel
Guttenberg, 41 tuổi, giám đốc
điều hành bộ phận nghiên cứu
chứng khoán của UBS Securities
LLC, hẹn gặp Erik Franklin, 39
tuổi, nguyên giám đốc một quỹ
đầu tư cơ hội của Bear Stearns,
ở nhà hàng Con Hàu để bàn chuyện
trả 25.000 USD mà Guttenberg vay
của Franklin. Guttenberg đề nghị
trả nợ bằng một loại “tiền” có
giá trị gấp nhiều lần tiền USD ở
Wall Street.
UBS cho biết Guttenberg là một
thành viên của ủy ban xét duyệt
bản phân tích và đánh giá các
loại chứng khoán và cổ phiếu
trước khi nó được công bố nên có
đủ tin tức chính xác để làm
chuyện trái luật này. Franklin
dựa vào tin của UBS do
Guttenberg cung cấp để thực hiện
những cuộc mua bán chứng khoán
và cổ phiếu chắc chắn có lời cho
cá nhân ḿnh và cho hai quỹ đầu
tư cơ hội là Q Capital
Investment Partners và Lyford
Cay Capital mà ông ta đang phụ
trách. Franklin chia lại tiền
lời cho Guttenberg.
Mỗi buổi sáng sớm, Guttenberg
báo những thông tin mật cho
Franklin bằng tin nhắn SMS mă
hóa trên điện thoại di động xài
Sim trả trước. Đây là cách rất
an toàn v́ khó phát hiện.
Franklin không chỉ hành động đơn
độc mà c̣n rủ rê nhiều người
khác làm ăn với ḿnh.
Một ví dụ cụ thể: Ngày
22.10.2002, Guttenberg mớm cho
Franklin biết trước tin UBS
khuyến cáo các khách hàng của
ḿnh nên bán cổ phiếu của Công
ty Marsh & McLennan v́ sắp tụt
giá. Lập tức Franklin toa rập
với Mark E. Lenowitz, 43 tuổi -
một đối tác của Franklin ở Công
ty Q Capital - bán ra 96.000 cổ
phiếu của công ty Marsh &
McLennan. Trong vụ này Franklin
lời 94.410 USD, c̣n Lenowitz lời
6.640 USD. Trong ṿng hơn 5 năm,
với những phi vụ tương tự, quỹ
đầu tư cơ hội Lyford Cay Capital
của Bear Stearns và cá nhân
Franklin thu lợi bất chính trên
5 triệu USD.
Guttenberg cũng không chỉ làm ăn
với Franklin mà c̣n tiết lộ
thông tin mật cho nhiều “đồng
chí” khác, trong đó có David
Tavdy, 38 tuổi, một tay mua bán
chứng khoán cho công ty môi giới
Andover. Tavdy dùng thông tin
của Guttenberg để bán lại cho
người khác là David Glass, chủ
một công ty mua bán chứng khoán
trong ngày, thu lợi bất chính 6
triệu USD. Việc làm này bị hai
đồng nghiệp của Tavdy ở Assent
biết được. Họ yêu cầu Tavdy và
Glass hối lộ 150.000 USD nếu
không muốn bị tố cáo. Hai người
này đă phải trả làm nhiều kỳ,
mỗi kỳ 30.000 USD.
Theo Ủy Ban Giao Dịch Chứng
Khoán Mỹ, có ít nhất 8 chuyên
viên về chứng khoán, ba quỹ đầu
tư cơ hội, hai người môi giới
chứng khoán, đă thực hiện hàng
ngàn vụ mua bán cổ phiếu một
cách bất chính, thu lợi cả chục
triệu USD nhờ Guttenberg cung
cấp thông tin mật.
2.- Vụ Smart Online
Hôm 12.9.2007 Dennis Michael
Nouri, Giám Đốc Smart Online,
người anh là Reeza Eric Nouri và
4 nhà môi giới chứng khoán khác
bị truy tố về tội hối lộ cho các
nhân viên môi giới chứng khoán
để thổi phồng giá cổ phiếu của
công ty này lên. Đơn khởi tố cho
biết giữa tháng 5 năm 2005 và
tháng 1 năm 2006, Michael Nouri
đă trả cho các môi giới chứng
khoán 170.000 USD để bán hơn
267.000 cồ phần của Smart
Oneline, tức khoảng 10% khối
lượng giao dịch của các nhà đầu
tư trong giai đoạn đó.
Tài liệu của toà án cho biết
nhóm này đă muốn tăng giá cổ
phiếu của công ty Smart Online
trước khi được niêm yết trên thị
trường chứng khoán Nasdaq. Cổ
phiếu của công ty này đă được
niêm yết trên thị trường chứng
khoán thứ cấp (OTC), tức thị
trường giao dịch không đ̣i hỏi
các yêu cầu nghiêm ngặt về kiểm
toán và công bố thông tin.
Trong các cuộc hội thoại đă được
ghi âm sau khi Uỷ Ban Chứng
Khoán Mỹ hoăn việc giao dịch cổ
phiếu Smart Online ở Nasdaq, ông
Dennis Nouri thú nhận đă làm thế
nào để nói dối, che giấu kế
hoạch với các nhà điều tra. Các
bị can trong vụ này đă bị truy
tố về tội gian lận chứng khoán
và âm mưu gian lận chứng khoán.
Tội âm mưu có thể chịu h́nh phạt
cao nhất là 5 năm tù, c̣n tội
gian lận chứng khoán có thể chịu
mức án tối đa 20 năm tù.
ỦY BAN CHỨNG KHOÁN MỸ BẤT LỰC?
Ngày 8.3.2007, để cảnh cáo,
Chính Phủ Hoa Kỳ đă công bố hàng
chục loại cổ phiếu bị lũng đoạn
giá v́ những kẻ chuyên gửi thư
rác (spam).
Ủy ban
Chứng khoán (UBCK)
Mỹ đă công bố một chiến dịch
“tiêu diệt thư rác”, nhưng h́nh
như sáng kiến chống thư rác của
UBCK (SEC's Anti-Spam
Initiative)
vẫn chưa đem lại kết quả bao
nhiêu.
Thư rác là một khối điện thư hay
thư quảng cáo được gởi một lượng
lớn (junk mail).
Loại thư này rất rẻ và dễ gởi
nên những kẻ lừa dối đă xử dụng
nó để t́m các nhà đầu tư cho
những kế hoạch đầu tư không có
thật hay tung những tin tức giả
về một công ty.
Người xử dụng thư rác có thể
dùng một “bulk e-mail program”
để gởi hàng ngàn và thậm chí
hàng triệu e-mail đến cá nhân
những người xử dụng Internet
cùng một lúc. Quư vị đừng ngạc
nhiên tại sao họ biết e-mail của
quư vị. Họ có nhiều cách và một
h́nh thức giản dị nhất là dùng
hacker để lấy.
Giám đốc Văn pḥng Chế tài của
UBCK Mỹ đă khám phá có 35 loại
cổ phiếu tăng giá nhờ những
chiến dịch thư rác. Thư rác về
chứng khoán trở thành một h́nh
thức công nghệ cao của thủ thuật
d́m giá và thổi giá: Những kẻ cổ
động gửi đồng loạt hàng triệu
email quảng bá về những cổ phiếu
“không thể bỏ qua”. Khi có nhiều
người cả tin và mua vào, giá cổ
phiếu tăng lên. Những kẻ tuyên
truyền sẽ bán cổ phiếu của ḿnh
ở cao điểm của quả bong bóng.
Thư rác đă xuất hiện và phát
triển theo tiến tŕnh lịch sử
của của email và Web, và đă trở
nên cực kỳ tệ hại trong mấy năm
qua. Theo số liệu của công ty
Postini chuyên về bảo mật thông
tin, số thư rác về chứng khoán
đă tăng 120% trong sáu tháng
qua. Chủ đề chứng khoán, theo
đại học MIT công bố, trước đây
hai năm chỉ chiếm không đầy 1%
trong tổng số thư rác, đến nay
đă lên đến 20%. UBCK Mỹ ước tính
mỗi tuần có đến 100 triệu thư
rác về chứng khoán được gửi đi.
Những kẻ gửi thư rác đă biết
phát huy những lợi thế về công
nghệ. Trước đây họ gửi thư rác
từ một máy tính, do vậy những hệ
thống lọc thư rác dễ dàng phát
hiện và chặn lại. Ngày nay, họ
chuyển sang dùng một mạng lưới
các máy tính liên kết với nhau (gọi
là botnet). Băng thông rộng cũng
giúp họ có thể gửi hàng tỉ thư
và chữ viết dưới dạng h́nh ảnh.
Những thư rác dùng h́nh ảnh
(gọi là image spam)
đọc
không khác ǵ những thư rác
thông thường, nhưng lách qua
được những hệ thống lọc thư v́
hầu hết các hệ thống này chỉ lọc
chữ mà không lọc được h́nh ảnh.
Ông Daniel Druker, Phó Chủ tịch
của công ty Postini, cho biết:
“Không chỉ ngày càng nhiều thư
rác mà ngày càng có nhiều thư
lọt qua được hệ thống lọc.”
Đă có hàng triệu nhà đầu tư
chứng khoán không chỉ đọc thư
rác mà c̣n đầu tư theo đó. Nhờ
vậy, lợi nhuận do tung thư rác
rất cao. Thông tin của UBCK Mỹ
cho thấy, ngày 15/12/2006 cổ
phiếu của công ty Apparel
Manufacturing Associates chỉ có
giá 6 cents. Sau chiến dịch thư
rác kéo dài 4 ngày, giá vọt lên
45 cents. Đến ngày 17/12/2006,
giá tụt xuống c̣n 10 cents.
Tương tự, giá cổ phiếu của công
ty Goldmark Industries chỉ là 17
cents ngày 19/12/2006, sau một
tuần thư rác, đă tăng lên 35
cents. Đến ngày 9/1/2007, giá
tụt xuống c̣n 15 cents.
Một cuộc nghiên cứu năm 2006 của
Giáo sư tài chính Laura Frieder
(Đại học Purdue)
và Giáo sư
luật Jonathan Zittrain
(Viện nghiên cứu Internet,
Đại học Oxford)
kết luận rằng thư rác về chứng
khoán có tác động đến thị trường.
Hai nhà nghiên cứu xem xét các
nhà đầu tư mua những cổ phiếu
được đánh bóng và bán đi khi
chiến dịch thư rác kết thúc,
trung b́nh thua lỗ 5.5%. C̣n
những kẻ phát động thư rác đă
chủ động mua cổ phiếu trước đó
và bán ra trong chiến dịch gửi
thư, kiếm lời trung b́nh 5,79%.
Ông Cromwell Coulson, Giám đốc
công ty Pink Sheets chuyên cung
cấp dịch vụ tài chính và mạng
thông tin về giá cổ phiếu OTC đả
nói: “Giống như bạn nh́n thấy tờ
giấy bạc trong ngơ tối, chạy vào
nhặt th́ bị đập vào đầu.”
Từ tháng 4/2006, công ty Pink
Sheets đă đề xuất lên UBCK Mỹ
một luật mới, qui định những
người gửi thư cổ động cho chứng
khoán phải ghi rơ danh tính,
nguồn tài trợ, và mối quan hệ
với các công ty. Những thư không
ghi đủ các dữ kiện đó phải được
coi như vô giá trị. Nhưng đề
nghị này vẫn chưa được áp dụng.
ooo
Trên đây chỉ là một vài thí dụ
để giúp chúng ta thấy được tầm
quan trọng của những tṛ tham
nhũng và lường gạt trên thế giới.
Nhiều chuyện khác đă được quư vị
đọc hay nghe hàng ngày trên báo
chí hay truyền thanh và truyền
h́nh.
Người Việt chống cộng thường coi
Việt Cộng nhưng một tên gian
manh ba đầu sáu tay. Nhưng sau
khi ở Mỹ một thời gian, người
Việt chống cộng đă gọi Mỹ là “siêu
cộng sản”. Điều đó
quá đúng! Do đó, nếu Mỹ không
lừa Cộng Sản th́ thôi, đừng sợ
Mỹ bị Cộng Sản lừa.
Lữ Giang
|