www.motgoctroi.com mến chào bạn 

Nh́n thế giới đi tới

Tú Gàn

Saigon Nhỏ ngày 11.1.2008

 

Chúng ta đă bước vào năm thứ 8 của thế kỷ 21. Nhân ngày đầu năm, ngồi đọc lại “Tuyên Ngôn Thiên Niên Kỷ của Liên Hiệp Quốc” (UN Millennium Declaration) được công bố ngày 8.9.2000 do 152 nhà lănh đạo các quốc gia trên thế giới kư tên, chúng tôi cảm thấy vô cùng phấn khởi. Nếu trong thế kỷ 21 này, các nghị quyết ghi trong bản tuyên ngôn đó được thực hiện, cuộc sống của nhân loại, nhất là của những người nghèo và những người bị áp bức, sẽ ngày càng được thăng tiến hơn. Trong 7 năm qua, nhiều tổ chức đă được trao phó sứ mạng thực hiện những nghị quyết này và đă đem lại một số kết quả đáng khích lệ.

Tuy nhiên, khi nh́n lại khối cộng đồng người Việt hải ngoại, chúng tôi có cảm tưởng như đa số đang tiếp tục sống ở thế kỷ 20 với những quan niệm và hành động của thời kỳ chiến tranh lạnh, nên đă trở thành những kẻ lạc lỏng, đi bên ngoài nhịp sống của nhân loại. Làm thay đổi cách nh́n và phương thức hành động của lớp người này, nhất là những người có dính líu đến cuộc chiến Viêt Nam, không phải là chuyện dễ dàng v́ gần như nó đă trở thành bản năng.

Một thí dụ cụ thể: Nh́n vào cuộc chiến chống “Việt Cộng bán nước và Trung Cộng cướp nước” hiện nay, chúng ta nhận thấy cộng đồng người Việt đang hành động một ḿnh, không cần biết các nước trong vùng Biển Đông, kể cả khối ASEAN, đă và đang làm ǵ để chống lại sự lấn chiếm dần dần của Trung Quốc.

Người Việt chống cộng chỉ lặp lại cách suy tư và hành động theo cảm tính như thời kỳ đấu tranh bảo vệ “Ải Nam Quan của ta”, chỉ khác một điều là lần trước Mặt Trận Hoàng Cơ Minh đóng vai tṛ khơi động, c̣n lần này là Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa Hải Ngoại. Không ai chịu t́m hiểu một cách cặn kẻ những ǵ đang thật sự xẩy ra và có thể làm ǵ để đối phó hữu hiệu hơn, ngoài việc ra tuyên ngôn tuyên cáo và biểu t́nh.

Một cuộc hội thảo lớn như cuộc hội thảo do Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa Hải Ngoại tổ chức tại thành phố Westminster ngày 23.12.2007 cũng chỉ là nơi để các “chuyên gia đọc điếu văn” thay nhau lên diễn đàn chửi “Việt Cộng bán nước và Trung Cộng cướp nước”, và nhận những tràng pháo tay rồi ra về “thư thái hân hoan”, không cần biết tổ quốc rồi sẽ đi về đâu!

CÔNG NHẬN HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA ĐĂ BỊ MẤT?

Gần như ai lên diễn đàn tố cáo Trung Cộng và Việt Cộng cũng nhắc lại công hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng ngày 14.9.1958 gới Thủ Tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, xác nhận rằng “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1959 của Chính phủ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc” và coi đó như một văn kiện bán nước. Nếu công hàm này đúng là một văn kiện bán nước cho Trung Cộng, như vậy là Việt Nam đă mất Hoàng Sa và Trường Sa rồi sao?

Chúng ta nhớ lại, năm Tân Sửu (1301) vua Chiêm Thành là Chế Mân đă dâng vàng bạc và Châu Ô, Châu Rí để xin cưới công chúa Huyền Trân. Vua Trần Anh Tông thuận gả. Tháng 6 năm Bính Ngọ (1306) công chúa Huyền Trân về Chiêm Thành, và Châu Ô, Châu Rí trở thành lănh thổ của Việt Nam. Thời đó, Chiêm Thành và Việt Nam đều đang sống dưới chế độ quân chủ, vua có quyền tối thượng, trong đó có cả quyền bán nước hay “dâng” nước. Do đó, quyết định của vua Chế Mân có hiệu lực pháp lư biến Châu Ô và Châu Rí của Chiêm Thành thành lănh thổ của Việt Nam. Nhưng khi chế độ quân chủ không c̣n, những người lănh đạo quốc gia như Chủ Tịch Nước, Tổng Thống hay Thủ Tướng không có quyền tối thượng như thế nữa.

Chúng ta cứ tưởng tượng coi, một hôm nào đó Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng của CSVN qua thăm Hoa Kỳ. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ dụ Nguyễn Tấn Dũng: “Chú tuyên bố Vịnh Cam Ranh là của Mỹ đi, ta sẽ cho chú 1 tỷ Mỹ kim, và cho chú và gia đ́nh được định cư tại Mỹ.” Nguyễn Tấn Dũng nghe bùi tai, gởi một công hàm cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tuyên bố Vịnh Cam Ranh là của Hoa Kỳ. Như vậy là Việt Nam mất Vịnh Cam Ranh hay sao?

Điều chắc chắc là lănh thổ hay lănh hải của một quốc gia không thể bị mất một cách dễ dàng chỉ v́ công hàm của một viên chức cao cấp nào đó trong chính phủ như Thủ Tướng, Chủ Tịch Nước hay Tổng Thống chẳng hạn. Tại sao? 

Trở lại công hàm ngày 14.9.1958 của Phạm Văn Đồng, chúng ta thấy công hàm này vô giá trị về phương diện pháp lư v́ các lư do sau đây:

Lư do thứ nhất: Về phương diện luật quốc nội, điếu 23 Hiến Pháp ngày 9.11.1946 của Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (tức CSVN) quy định rằng các thỏa ước kư với nước ngoài đều phải có sự chuẩn y của Quốc Hội. Công hàm ngày 14.9.1958 của Phạm Văn Đồng về lănh thổ và lănh hải của Việt Nam không hề được Quốc Hội phê chuẩn nên không có giá trị.

Lư do thứ hai: Về phương diện quốc tế công pháp, Công Ước Genève ngày 29.4.1958 cũng như Công Ước Liên Hiệp Quốc ngày 30.4.1982 về Luật Biển đều quy định rằng những bản tuyên bố (declarations) hay hiệp ước liên hệ tới luật biển đều phải được đăng kư tại Văn Pḥng Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc mới có giá trị đối kháng với quốc gia đệ tam. Tại sao? V́ biển có liên hệ đến quyền xử dụng và quyền lợi của nhiều quốc gia trên thế giới, nên phải công bố để các quốc gia thấy các quyền của nước họ trên biển có bị xâm phạm hay không và đưa ra những sự phản ưng nếu cần.

Công hàm ngày 14.9.1958 của Phạm Văn Đồng không hội đủ hai điều kiện pháp lư nói trên, nên không có giá trị.

Lư do thứ ba: Hiệp định Genève ngày 20.7.1954 lấy vĩ tuyến 17 để phân chia đất nước: Phần phía Bắc thuộc về CSVN và phần phía Nam thuộc về chính phủ quốc gia. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm ở phia Nam vĩ tuyến 17, nên thuộc về chính quyền miền Nam. Vậy Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng Miền Bắc, lấy tư cách ǵ để “dâng” hay “bán” hai quần đảo này cho Trung Quốc?

Do đó, mặc dầu trong bản tuyên bố dười đầu đề “Vấn đề Biển Nam Trung Quốc” (The Issue of South China Sea) được công bố vào tháng 6 năm 2000, Trung Cộng có viện dẫn công hàm của Phạm Văn Đồng để chứng minh Việt Nam công nhận Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc, chúng ta phải nói với Trung Quốc và các quốc gia trên thế giới rằng công hàm đó không có giá trị về về phương diện pháp lư. Do đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn là của Việt Nam.

Điều đáng tiếc là thay v́ xác định như vậy, nhiều tổ chức và cá nhân chống cộng đă hô to Việt Cộng đă bán hay “dâng” đất và biển cho Trung Cộng (giống như Chế Mân đă dâng Châu Ô và Châu Rí cho việt Nam). Như vậy chúng ta công nhận Hoàng Sa và Trường Sa đă mất rồi hay sao?

CHIẾM XONG MIỀN NAM, CSVN TRỞ GIỌNG

Chúng tôi đă nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng CSVN đă áp dụng một cách linh động phương châm của Kark Marx là “Cứu cánh biện minh cho phương tiện”, có nghĩa là có thể xử dụng bất cứ phương pháp nào, dù tốt hay xấu, miễn là đem lại kết quả th́ thôi, v́ thế Cộng Sản đă chiếm được toàn thể đất nước. Trái lại, “người Việt quốc gia” cứ ôm chặt chủ trương BỐN KHÔNG, nên đă phải bỏ chạy hai lần và để mất nước vào tay Cộng Sản!

Năm 1958, Hà Nội đang lập kế hoạch xâm chiếm miền Nam nên rất cần vũ khí, quân trang quân dụng và tiếp liệu của Trung Cộng, do đó Trung Cộng bảo tuyên bố như thế nào, họ cứ làm theo để được Trung Cộng viện trợ. Sau khi chiếm được miền Nam với sự trợ giúp gần như vô giới hạn của Trung Cộng, CSVN bắt đầu trở giọng.

Bản tin ngày 3.12.1992 của Thông tấn xă Việt Nam đă đăng lời tuyên bố của Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm trong cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2.12.1992, giải thích về công hàm của Phạm Văn Đồng nói trên như sau:

"Các nhà lănh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo hiệp định Genève năm 1954 về vấn đề Đông Dương th́ tất cả lănh thổ từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào Nam là thuộc chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này.

“Thêm vào đó, vào lúc ấy Việt Nam phải tập trung hết mọi lực lượng vào cuộc chiến chống Mỹ nên cần bạn bè khắp nơi. T́nh hữu nghị Việt-Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung Quốc là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị.

“Trong tinh thần đấy th́ do t́nh thế cấp bách, quan điểm của lănh đạo ta (tức ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Ḥang Sa và Trường Sa) là cần thiết v́ nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc.

“Đặc biệt, việc này c̣n nhắm vào nhu cầu cấp thiết lúc đó là ngăn ngừa đế quốc Mỹ không sử dụng các quần đảo đó để tấn công chúng ta. Việc lănh đạo ta tạm công nhận như thế với Trung Quốc không có can hệ ǵ đến chủ quyền lịch sử và pháp lư của Việt Nam trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cả".

Hiện này, v́ coi chửi “Việt Cộng bán nước và Trung Cộng cướp nước” là mục tiêu tối hậu của cuộc đấu tranh, đa số người Việt chống cộng, kể cả các “chuyên gia”, đă không nh́n thấy được phạm vi rộng lớn của vấn đề cần phải được giải quyết và nỗ lực của các quốc gia trong vùng Biển Đông để bảo vệ quyền lợi của họ. Gần như đa số chỉ nhắm vào công hàm ngày 14.9.1958 của Phạm Văn Đồng để chửi Cộng Sản bán nước cho sướng mồm, ít ai nghĩ đến một giải pháp cho toàn bộ vấn đề.

Trong Biển Đông, vấn đề trang chấp về quần đảo Trường Sa phức tạp hơn về quần đảo Hoàng Sa nhiều, v́ có nhiều nước can dự. Như chúng tôi đă tŕnh bày, Trường Sa gồm khoảng 100 ḥn đảo lớn nhỏ nằm rải rác trên một diện tích gần 410.000 cây số vuông ở giữa Biển Đông, gần sát Philippines hơn là Việt Nam, đa số là băi san hô phủ cứt chim và đá (reefs), rất thấp, hầu hết ở mức 0 m hoặc thấp hơn mực nước biển, chỉ nổi lên khi biển rút. Nơi cao nhất là 4 m. Đảo chính có diện tích nhỏ hơn 5 cây số vuông. Tuy là một quần đảo không lớn, nhưng Trường Sa là một vùng giàu có về tài nguyên dầu mỏ và khí đốt, do đó đă xẩy ra những sự tranh chấp giữa Việt Nam, Đài Loan, Trung Quốc, Philippines, Malaysia và Brunei. Mỗi nước tuyên bố chủ quyền nhiều phần. Nói cách khác, hiện nay Việt Nam không chỉ tranh chấp Trường Sa với Trung Quốc mà c̣n phải tranh chấp với 4 quốc gia khác nữa.

Nh́n lên bản đồ do Energy Information Administration cung cấp, chúng tôi thấy Trung Quốc đang chiếm 10 đảo, Philippines 8 đảo, Malaysia 4 đảo, Việt Nam 21 đảo và Đài Loan 1 đảo. Việt Nam đặt Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà, Philippines đặt thuộc tỉnh Palawan, Trung Quốc đặt thuộc tỉnh Hải Nam, c̣n Malaysia đặt thuộc tỉnh Sabah.

Kể từ tháng 1 năm 1990 đến nay, đă có rất nhiều hội nghị cấp vùng để tŕnh bày quan điểm của mỗi quốc gia và t́m giải pháp cho các tranh chấp về Biển Đông. Các chuyên gia quốc tế đă cung cấp cho chúng ta nhiều tài liệu hữu ích, nhờ vậy chúng ta biết rơ về Trường Sa hơn.

Trong cộng đồng người Việt hải ngoại cũng có một số chuyên gia có khả năng nghiên cứu và tŕnh bày vấn đề trước các hội nghị này để bảo vệ quyền lợi của Việt Nam, nhưng họ gặp một khó khăn rất khó vược qua: Nếu viết và tŕnh bày vấn đề theo cảm tính của đa số người Việt hải ngoại, tố cáo “Việt Cộng bán nước và Trung Cộng cướp nước”, sẽ được đồng bào ta vổ tay hoan hô rất lớn, nhưng sẽ không được dùng tại hội nghị v́ không có giá trị. Trái lại, nếu viết đúng theo quan điểm về địa lư, lịch sử và quốc tế công pháp về luật biển, có thể bị tố cáo là “không có lợi cho việc chống cộng” hay “đặc công cộng sản nằm vùng”. Do đó, đi ngủ sướng hơn! Thành ra trong cuộc chiến này, tiếng nói của người Việt chống cộng gần như chẳng ai nghe cả!

ƯỚC VỌNG LỚN CỦA LHQ

Ngoài cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa, trong các cuộc chiến khác, người Việt chống cộng cũng đang đi bên ngoài thời đại.

Trong chiến dịch lạc quyên để cừu trợ đồng bào bị lụt tại miền Trung vừa qua, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn c̣n nghe một số người viết bài hay gọi vào các chương tŕnh phát thanh phản đối chiến dịch lạc quyên này. Họ cho rằng trách nhiệm cứu trợ nạn lụt và giúp đỡ đông bào là trách nhiệm của chính quyền CSVN, chúng ta không nên làm thay họ. Có người c̣n cho rằng số tiền gởi về sẽ không tới được tay dân nghèo mà sẽ lọt vào tay bọn cán bộ cộng sản hay gia đ́nh của bọn này.

Một số khác lại chống đối việc người Việt gởi tiền về cho thân nhân ở Việt Nam, về Việt Nam thăm gia đ́nh hay đi du lịch Việt Nam. Họ cho rằng chính số tiền “viện trợ” này đă làm cho chế độ tồn tại lâu hơn. Nếu không có số tiền đó, CSVN đă sụp đổ rồi!

Đây là chủ trương cấm vận của thời kỳ chiến tranh lạnh. Nhưng các quốc gia Tây phương cho rằng cấm vận không đem lại kết quả làm sụp đổ một chế độ, trái lại nó đă làm cho cuộc sống của người dân cơ cực hơn. Bằng chứng là trước đây Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương đă áp dụng cấm vận với Cuba, Việt Nam, Bắc Hàn, Miến Điên, Iraq, Zimbabwe, v.v., mà có làm cho chế độ tại các quốc gia này sụp đổ đâu? Ở Miến Điện, cấm vận c̣n gây ra một hậu quả nghiêm trọng khác, đó là chính quyền quân nhân tại nước này đă cho trồng cây thuốc phiện ở trung tâm và miền Nam của tiểu bang Shan để “sinh tồn”. Hiện nay, Miến Điện là nước sản xuất thuốc phiện lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Afghanistan!

Các nước Tây phương cho rằng các chế độ cộng sản và độc tài trên thế giới đă dùng 3 thứ sau đây để chế ngự quần chúng: ĐÓI (Hungry), DỐT (Ignorance) SỢ (Fear). Chỉ cần phá vỡ ba thứ này, các chế độ cộng sản và độc tài sẽ hết đất dụng vơ nữa. Muốn phá vỡ những thứ này, phải dùng “diễn biến ḥa b́nh” chứ không thể dùng vũ lực hay cấm vận để làm thay đổi được. Đây chính là chủ trương của Liên Hiệp Quốc được ghi trong Tuyên Ngôn Thiên Niên Kỷ. Bản Tuyên Ngôn đă đưa ra 8 mục tiêu phải thực hiện:

1.- Xóa bỏ t́nh trạng cùng cực và thiếu đói.

2.- Đạt phổ cập giáo dục tiểu học.

3.- Tăng cường b́nh đẳng giới và nâng cao vị thế phụ nữ.

4.- Giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh.

5.- Tăng cường sức khỏe bà mẹ.

6.- Pḥng chống bệnh HIV/AISD, sốt rét và các bệnh khác.

7.- Đảm bảo bền vững môi trường.

8.- Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu v́ mục đích phát triển.

Nh́n 8 mục tiêu được đưa ra trên, chúng ta thấy “xóa đói giảm nghèo” được coi là mục tiêu ưu tiên hàng đầu. Mục tiêu ưu tiên thứ hai là nâng cao tŕnh độ giáo dục của người dân lên. Trong bài hôm nay chúng tôi chỉ có thể nói về mục tiêu thứ nhất.

Chương Tŕnh Phát Triển Liên Hiệp Quốc (United Nations Development Programme – viết tắt là UNDP) được giao thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Tuyên Ngôn Thiên Niên Kỷ đưa ra chỉ tiêu là đến năm 2015, phải chấm dứt t́nh trạng số người trên thế giới chỉ có thể thu nhận được dưới 1 USD môi ngày, chấm dứt số người sống dưới mức nghèo khổ và chấm dứt t́nh trạng những người không có nước sạch để uống. Hiện nay, tổ chức này đă có mặt tại 166 quốc gia trên thế giới. Dưới đây chúng tôi chỉ xin nói qua về kế hoạch “xóa đói giảm nghèo” của Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam.

NH̀N QUA VIỆT NAM

Hiện nay, chuẩn nghèo của thế giới quy định quốc gia có thu nhập trung b́nh hàng năm dưới 735 USD/người được coi là nghèo. Thu nhập trung b́nh của Việt Nam khoảng 400 USD/người, nên chưa vượt qua chuẩn nghèo.

Từ năm 1993 UNDP đă hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng và thực hiện các chiến lược và chương tŕnh xóa đói giảm nghèo. Cho đến nay, Việt Nam đă nhận được viện trợ khoảng 4 tỷ 450 triệu USD để xóa đói giảm nghèo.

Theo các chuyên gia UNDP, khối người thuộc hơn 50 sắc dân thiểu số ở Việt Nam chỉ chiếm 14% dân số nhưng tỉ lệ nghèo túng của họ lên tới mức gần 1/3. Ông Konishi của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu nói rằng chính phủ cần tăng cường những nỗ lực xóa đói giảm nghèo ở nông thôn.

Tỉ lệ nghèo ở nông thôn là 26,4% so với 13,7% của thành thị. Hiện có 69,3% hộ dân tộc thiểu số sống dưới mức nghèo khổ so với 23,1% hộ của người Kinh.

Nhật báo The Japan Times ngày 2.5.2007 trích dẫn các số liệu của UNDP cho biết tỉ lệ những người có thu nhập dưới 1 đô la mỗi ngày ở Việt Nam đă giảm mạnh từ mức 58% trong năm 1993 xuống c̣n 24% trong năm 2004. Các giới chức ở Hà Nội hy vọng tỉ lệ này sẽ giảm xuống c̣n 11% vào năm 2010.

Như chúng tôi đă nói ở trên, nhiều người Việt chống Cộng đă phản đối một cách mạnh mẽ chương tŕnh “xóa đói giảm nghèo” này v́ cho rằng số tiền mà UNDP đưa ra sẽ không đến tận tay người nghèo, mà nó sẽ lọt hết vào tay cán bộ hay gia đ́nh cán bộ. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng UNDP đang hoạt động tại 166 quốc gia trên thế giới, họ có rất nhiều kinh nghiệm về vấn đề này, họ biết làm sao để sự giúp đỡ có thể đến với người nghèo. UNDP cũng công nhận một thất thoát tối thiểu nào đó, v́ là chuyện khó tránh khỏi.

MỤC VỤ XIN TIỀN

UNDP phải bao trùm một phạm vi quá rộng lớn, nên khó có thể thực hiện chu đáo kế hoạch xóa đói giảm nghèo tại từng quốc gia, do đó các tổ chức bác ái và tôn giáo đă phải góp phần vào.

Chúng tôi nhớ lại vào tháng 7 năm 2007 vừa qua, ĐGM Thanh Hóa Nguyễn Chí Linh có nói với phóng viên UCAN về những khó khăn của người dân Thanh Hoa như sau:

“Tỉnh Thanh Hoá cho đến nay, với một khối lượng dân đông đến 4 triệu người, vẫn là một trong những tỉnh nghèo nhất của VN. Có đến 90% dân Thanh Hoá sống bằng nghề nông làm ruộng nước, thu nhập thấp, mức sống dưới ngưỡng nghèo khó. Giáo dân nghèo th́ địa phận cũng phải nghèo. Cho đến nay, giáo phận vẫn không có một hoạt động kinh tế nào. Mọi sự đều phải trông vào trông vào ḷng hảo tâm của ân nhân xa gần, một cái phao để cứu nguy, rất cần nhưng cũng bấp bênh, trôi dạt.”

Mặc dầu vậy, nhiều sáng kiến đă được thực hiện để giúp đỡ những người nghèo và kém may mắn. Sau đây là một vài thí dụ cụ thể:

Hợp Tác Xă Hiệp Nhất ở thị trấn Đạ Tẻh tỉnh Lâm Đồng, đă được Linh mục Dương Công Hồ, Chánh xứ Đạ Tẻh, thành lập hơn một năm nay để giúp những đồng bào nghèo người K’Hor.

Công việc được chuẩn bị từ năm 2004, nhưng đến tháng 4 năm 2006, HTX mới chính thức ra đời với tổng vốn ban đầu là 500 triệu đồng. Ngành nghề chính của HTX này là đan lát thủ công từ các nguyên liệu dây rừng, dây mây, lục b́nh, dây nhựa, may gia công và sản xuất nước đá tinh khiết. HTX đă tạo công ăn việc làm cho 485 lao động, chưa kể lao động vệ tinh tại các gia đ́nh.

Ông K’Đua, 58 tuổi, người dân tộc Mạ ở thôn 1, cho biết ông làm việc ở HTX từ năm 2006 đến nay. Gia đ́nh ông hiện có 3 lao động đang làm cho HTX: vợ chồng ông đan lát, c̣n cô con gái 21 tuổi th́ làm nghề may. Gia đ́nh ông có 6 con, nhưng nhờ có việc làm ổn định ở HTX và chịu thương chịu khó, nên ông đă xây được ngôi nhà một tầng lầu, mua TV và xe gắn máy.

Linh mục Dương Công Hồ nói: “Cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người dân địa phương, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho họ là con đường đúng đắn”.

Một thí dụ điển h́nh thứ hai: Đại đức Thích Tục Khang, trụ tŕ ở chùa Hồng Phúc, Hải Pḥng, đă thành lập một cơ sở sản xuất nước uống tinh khiết để giúp các thiều nhi bụi đời có tiền ăn học.

Thầy Tục Khang cho biết chùa Hồng Phúc là một ngôi chùa hẻo lánh, nằm trong một khu dân cư “đất rộng người thưa”, đường vào ṿng vèo. Đa số các thiếu nhi ở đây không được đi học, thường đi lang thang ở chợ và đường sá. Thầy nghĩ phải t́m cách giúp chúng trở lại nhà trường. Bổng nhiên, một số chuyên gia về khai thác nước ngầm đă phát hiện trong núi đá cạnh chùa có một nguồn nước ngầm làm được nước uống tinh khiết. Đại Đức liền bắt tay vào việc thành lập một cơ sở sản xuất nước uống tinh khiết. Trong ngày ra lô nước đầu tiên, Đại Đức đă phấn khởi nói: “Bây giờ th́ tôi đă có hy vọng để làm những điều tốt đẹp hơn đối với các cháu, đối với những người lang thang cơ nhỏ”.

Hiện nay, thầy đang đề nghị các công ty và cơ quan trong vùng giúp xây dựng một ngôi nhà t́nh thương, bước đầu nuôi dưỡng khoảng 100 em nhỏ, cho chúng đi học và tạo công ăn việc làm cho chúng, làm bớt đi những nỗi bất hạnh trong xă hội.

Hai thí dụ điển h́nh trên đây cho thấy các nhà hoạt động bác ái và tôn giáo có tấm ḷng và sáng kiến thực hiện những chương tŕnh nâng cao cuộc sống của những người bất hạnh. Nhưng họ không có tiền, họ cần đến sự giúp đỡ của đồng hương ở trong cũng như ngoài nước. Nói rơ ra là họ phải thực hiện “MỤC VỤ XIN TIỀN”.

Chúng tôi biết tại vùng Nam Cali, có nhiều người lănh trợ cấp xă hội chỉ 870 USD/tháng, nhưng họ vẫn dành dụm được 200 USD để gởi về giúp các tổ chức bác ái ở trong nước. Các chương tŕnh kêu gọi ḷng hảo tâm của đồng bào hải ngoại được phát động liên tục, nhưng sức đóng góp của đồng bào cũng chỉ có giới hạn. Vậy cần phải thực hiện các kế hoạch dài hạn như một số Giáo Hội Tin Lành đang làm.

Samuel Johnson (1709 – 1784), một học giả nổi tiếng của Anh đă từng nói: “Nghèo là một kẻ thù lớn của hạnh phúc nhân loại; chắc chắn nghèo phá hủy sự tự do, và nghèo làm cho một số đức hạnh không thể thực hành được và một số khác cực kỳ khó khăn.” (Poverty is a great enemy to human happiness; it certainly destroys liberty, and it makes some virtues impraticable and other extremely difficult.)

Nói cách khác, nghèo không thể có tự do dân chủ được. Do đó, Tuyên Ngôn Thiên Niên Kỷ của Liên Hiệp Quốc đă đặt xóa nghèo lên mục tiêu ưu tiên hàng đầu.

Chúng tôi biết có nhiều người Việt chống cộng không đồng ư chủ trương này của Liên Hiệp Quốc, họ cho rằng làm như vậy sẽ giúp cho cho chế độ cộng sản tồn tại lâu hơn. Nhưng LHQ nghĩ rằng dó là con đường tốt đưa nhân loại đi lên nên tiếp tục thực hiện

Trên đây chúng tôi chỉ mới nói vài nèt về CHỐNG NGHÈO. Chúng tôi sẽ nói đến CHỐNG DỐTCHỐNG SỢ trong những bài khác.

Tú Gàn