|
♠
www.motgoctroi.com
mến chào bạn
Một nhà thờ cho
TP Đồng Hới
Lữ Giang
Hôm 15.2.2009, phái đoàn ngoại
giao Toà Thánh Vatican do Đức
ông Pietro Parolin, thứ trưởng
Ngoại giao, đặc trách các vấn đề
quan hệ với các quốc gia, làm
trưởng Phái đoàn, cùng với Đức
ông Phanxico Cao Minh Dung, đặc
trách vùng Đông Nam Á Châu của
phủ Quốc Vụ Khanh, và Đức ông
Barnabê Nguyễn Văn Phương, vụ
trưởng Bộ Truyền Giáo, đă đến
viếng thăm Việt Nam. Phái đoàn
sẽ thăm và làm việc ở Việt Nam
từ 16 đến 21.2.2009. Đây là lần
viếng thăm thứ 16 của phái đoàn
và là lần viếng thăm thứ tư của
Đức Ông Parolin, thứ trưởng
ngoại giao của Toà Thánh.
Bản tin của AP ngày 12.2.2009
cho biết từ nhiều năm nay hai
bên đă thảo luận về việc có thể
mở lại quan hệ ngoại giao với
nhau, dù các cuộc thảo luận
trước đây diễn ra với sự tham dự
của các giới chức Việt Nam ở một
cấp bậc thấp hơn. Tuần tới đánh
dấu lần đầu tiên vấn đề này được
chính Bộ Ngoại Giao đảm nhận, và
đây có thể là một dấu hiệu cho
thấy các cuộc thảo luận đang
trên đà tiến triển.
Trong khi đó, một số bản tin hay
b́nh luận “kiểu tung bong bóng”
được đưa ra nhằm “hướng dẫn”
phái đoàn Toà Thánh đi vào những
vấn đề mà họ cho rằng đáng quan
tâm. Nhưng trước khi lên đường,
phái đoàn đă nhận chỉ thị của
Toà Thánh về những vấn đề sẽ
phải thảo luận và đường lối giải
quyết của Toà Thánh nên những
tin hay b́nh luận kiểu này sẽ
không ảnh hưởng ǵ.
Tuy nội dung của các cuộc thảo
luận chưa được tiết lộ, nhưng
sau đây là những vấn đề c̣n tồn
động giữa Giáo Hội Công Giáo và
Chính Phủ Việt Nam chỉ mới được
giải quyết một phần trong các
lần trước:
1. Vấn đề b́nh thường hóa quan
hệ ngoại giao giữa Vatican và
Việt Nam
2. Việc bổ nhiệm một số giám mục
cho các giáo phận c̣n chưa có
giám mục. Giáo Hội muốn được tự
do bổ nhiệm các giám mục cho các
giáo phận v́ đó là việc nội bộ
của Giáo hội.
3. Giáo Hội muốn chính quyền
Việt Nam trả lại các cơ sở tôn
giáo thuộc Giáo hội, đặc biệt
Toà Khâm Sứ cũ ở Hà Nội và Đại
Chủng Viện Pio X ở Đà Lạt.
4. Giáo Hội muốn tham gia vào
việc giáo dục như: mở các trường
đại học, trung học và tiểu học
để phục vụ quần chúng và đặc
biệt giới trẻ, góp phần vào việc
kiến tạo đất nước và giáo hội.
5. Giáo
Hội muốn tham gia vào các công
tác từ thiện, bác ái, như mở
bệnh viện, cô nhi viện, nhà phát
thuốc, v.v... hầu phục vụ dân
nghèo và những người bị xă hội
bỏ rơi không được ai chăm sóc...
Hôm nay, nhân dịp phái đoàn Toà
Thánh đến thăm Việt Nam, chúng
tôi xin nêu lên một vấn đề, tuy
thuộc phạm vi điạ phương, nhưng
cũng rất quan trọng, đó là yêu
cầu được tái thiết lại một thánh
đường tại thành phố Đồng Hới
thuộc tỉnh Quảng B́nh. Thành phố
này đă bị bom đạn san bằng trong
chiến tranh, nay đă được tái
thiết, trừ ngôi thánh đường lớn
nhất của tỉnh Quảng B́nh. Đây là
một thành phố duy nhất trên toàn
quốc không một cơ sở công giáo
nào được phục hồi và hoạt động.
VÀI NÉT VỀ QUẢNG B̀NH & ĐỒNG HỚI
Quảng B́nh là một tỉnh duyên hải
ở Trung Việt, bắc giáp Hà Tỉnh,
nam giáp Quảng Trị, tây giáp Lào,
và phía đông là Biển Đông có bờ
biển rất đẹp với các đảo Ḥn La,
Ḥn Gió, Ḥn Nồm, Ḥn Cỏ và Ḥn
Chù. Diện là tỉnh Quảng B́nh là
8065,27 km2. Dân số 831.600
người. Phong cảnh nổi tiếng nhất
là Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ
Bàng cách thành phố Đồng Hới 50
km, Vào năm 2003, phong cảnh này
đă UNESCO công nhận là di sản
thiên nhiên thế giới. Động Phong
Nha dài 7729 m, có 14 hang do
ḍng sông ngầm dài 13.969m hoà
tan đá vôi tạo thành. V́ thế, du
khách, nhất là người ngoại quốc,
cứ đua nhau kéo nhau về đây.
Ngoài trung tâm hành chính của
tỉnh là thành phố Đồng Hới,
Quảng B́nh có 6 huyện với tổng
cộng có 159 xă, phường và thị
trấn (cả Đồng Hới). Sáu huyện là:
Bố Trạch, Lệ Thủy, Minh Hóa,
Quảng Trạch, Quảng Ninh và Tuyên
Hóa.
NHỮNG NGÀY ĐIÊU TÀN
Sau khi Hiệp Định Genève 1954
được kư kết, tỉnh Quảng B́nh
được trao cho Việt Minh. Quân
đội, công chức và dân chúng khắp
nơi trong tỉnh t́m mọi phương
tiện để rời khỏi Quảng B́nh. Hai
phương tiện được dùng để di cư
đồng bào một cách nhanh chóng là
tàu thủy và máy bay.
Lúc đó tôi và một số anh em đă
tham gia vào toán tiếp cư do
linh mục Georges Neyroud, tuyên
úy Quân Đội Pháp thành lập. Ngày
1.8.1954, linh mục cho biết linh
mục phải vào gấp Đồng Hà và Đà
Nẵng để lo cho đồng bào mới vào.
Linh mục cần mấy người biết
tiếng Pháp ở lại tiếp tục đón
tiếp các đồng bào ở xa tới và
cấp giấy cho họ đi.
Gia đ́nh chúng tôi đă vào Đà
Nẵng hết rồi, nhưng tôi và một
số anh em vẫn c̣n ở lại lo công
việc tiếp cư. Khi nghe Linh mục
Georges Neyroud hỏi như trên,
tôi, anh Nguyễn Kim Thuyên và
anh Lê Trung Tha xin t́nh nguyện
ở lại. Thấy chúng tôi c̣n quá
nhỏ, ông hơi do dự, nhưng không
c̣n ai khác, mọi người đă lo đi
càng sớm càng tốt, nên ông đành
chấp nhận cho chúng tôi ở lại và
giới thiệu một Trung Úy người
Pháp đến làm việc chung với
chúng tôi. Ông ném lại cho chúng
tôi hai tạ gạo và một thùng lựu
đạn OF. Đó là lương thực của
chúng tôi. Mỗi ngày chúng tôi
đem một trái lựu đạn OF ném
xuống sông Nhật Lệ rồi lặn xuống
bắt cá đem lên luộc ăn với cơm.
Sông Nhật Lệ quá nhiều cá nên có
khi chúng tôi ăn cá thay cơm.
Sáng 8.8.1954, Trung Úy ngưới
Pháp đến báo tin cho chúng tôi
biết phải rời thành phố chiều
hôm nay và phải đi bằng đường bộ
vượt qua sông Bến Hải, v́ không
c̣n phương tiện tàu thủy hay máy
bay nữa. Con đường từ Đồng Hới
đến Bến Hải dài 71 cây số. Cách
đây một năm, ba chúng tôi đă dám
vượt qua các băi ḿn, đi bộ từ
Bến Hải đến Đống Hới, nên khi
được bảo phải đi bằng đường bộ,
chúng tôi không có chút lo ngại
nào. Đúng là điếc không sợ súng!
Chiều hôm đó, khi chúng tôi qua
khỏi phà Quản Hàu, cách thành
phố Đồng Hới khoảng 3 cây số,
quay nh́n lại th́ thành phố đang
cháy!
Trong thời gian chiến tranh, ba
tỉnh bị lănh bom đạn của Mỹ
nhiều nhất là Nghệ An, Hà Tĩnh
và Quảng B́nh. Riêng tỉnh Quảng
B́nh bị oanh tạc nặng nề nhất v́
nằm sát với vỹ tuyến 17. Người
ta ước lượng từ 1965 đến 1972 đă
có khoảng 40.000 phi vụ oanh tạc
Quảng B́nh và khoảng 3.000 trận
pháo kích do các tàu chiến ở
ngoài khơi hay phía Nam bờ Bền
Hải bắn vào. V́ thế, Quảng B́nh
gần như bằng địa. Không một
chiếc cầu nào bắc qua quốc lộ 1
c̣n tồn tại và quốc lộ này không
c̣n xử dụng được nữa. Dân chúng
phải di tản ra khỏi vùng ven
biển. Thành phố Đồng Hới được
dời lên Cổn ở vùng núi phía Tây...
Ngôi nhà thờ lớn nhất và đẹp
nhất của thành phố Đồng Hới và
tỉnh Quảng B́nh là nhà thờ Tam
Toà đă bị máy bay Mỹ phá sập vào
năm 1968, chỉ c̣n chừa lại cái
tháp cao chơi vơi. H́nh như
người Mỹ muốn giữ lại cát tháp
này làm một dấu ghi nhớ
(point de repère)
để mỗi khi trở lại oanh tạc Đồng
Hới, cứ theo dấu đó mà lao vào.
Năm 1987, khi tôi trở lại thăm
thành phố Đồng Hới th́ thấy gần
như không c̣n ḥn đá nào chồng
trên ḥn đá nào. Ngoài cái tháp
nhà thờ Tam Toà, không c̣n nhà
của hay đường sá ǵ. Tôi không
thể nhận ra ngôi nhà tôi ở và
ngôi trường tôi học khi c̣n nhỏ
nằm ở đâu. Lũy Thầy hay Lũy
Trường Dục không c̣n dấu vết ǵ.
Thành Đồng Hới được Vua Mênh
Mạng cho xây cất năm 1825 gióng
như kiểu thành Huế nhưng nhỏ hơn,
nay chỉ c̣n mấy khúc tường ngắn.
Phải đến năm 1989, khi Quảng
B́nh được tách ra khỏi tỉnh B́nh
Trị Thiên, nhờ sự giúp đỡ của
Cuba và Pháp, Đồng Hới mới được
tái thiết lại và năm 2004 được
nâng lên hàng thành phố loại 3.
Bây giờ Đồng Hới trông rất hoành
tráng nhưng khu nhà thờ Tam Toà
vẫn c̣n là một băi đất vắng với
cái tháp nhà thờ sứt mẽ đứng
chơi vơi. Ngày 26.3.1997, UBND
tỉnh Quảng B́nh ra quyết định
lấy nhà thờ Tam Ṭa làm “di tích
tội ác chiến tranh của Mỹ”!
VÀI NÉT VỀ TAM TOÀ
Giáo xứ Tam Toà có một tiến
tŕnh lịch sử khá bi thương
nhưng cũng rất kiên cường. Giáo
xứ Tam Ṭa được thành lập khoảng
năm 1631, lúc đầu với cái tên là
giáo xứ Động Hải (tên
làng nơi lập giáo xứ)
hay c̣n được gọi là Họ Lũy
(tức Lũy Thầy hay Lũy
Trường Dục).
Năm 1798, sau khi lực lượng Chúa
Trịnh chiếm được Đàng Trong và
san bằng Lũy Thầy, giáo xứ Động
Hải được chuyển về khu vực Sáo
Bùn thuộc phường Phú Hải ở phiá
Nam, cách Đồng Hới khoảng 4 cây
số, và lấy tên địa phương là
giáo xứ Sáo Bùn. Ngày 24.6.1886,
quân Văn Thân mở cuộc tấn công
giáo xứ Sáo Bùn, đốt nhà thờ và
giết 52 giáo dân đang ẩn trốn
trong nhà thờ.
Sau khi các vụ bách hại chấm dứt,
Linh mục Claude Bonin đă tập
trung các giáo dân tỵ nạn ở phía
nam Quảng B́nh lại và quyết định
thành lập một giáo xứ mới ở phía
bắc thành Động Hải (sau
này gọi là Đồng Hới)
và lấy tên
là giáo xứ Tam Ṭa, v́ nơi đây
có miếu Tam Ṭa hư hỏng, bỏ
hoang từ lâu. Ngôi thánh đường
Tam Ṭa đầu tiên được linh mục
Claude Bonin (1839 –
1925)
xây dựng và khánh thành vào ngày
8.12.1887.
Nếu Linh mục Claude Bonin là
người có công thành lập giáo xứ
Tam Ṭa th́ Linh mục Réné
Toussaint Morineau (thường
gọi là Cố Trung)
là người có công lớn trong việc
xây dựng giáo xứ Tam Ṭa. Năm
1934, ngài được bổ nhiệm làm
Chánh xứ Tam Ṭa. Tại đây, ngài
đă thực hiện những công tŕnh
lớn sau đây:
- Năm 1940
xây cất nhà thờ Tam Ṭa
(hiện nay chỉ c̣n lại cái tháp).
- Làm nhà cha sở trong một khu
vườn rộng rất đẹp và khang trang.
- Thiết lập hệ thống đường sá
trong giáo xứ, nhất là con đường
nối liền nhà thờ với quốc lộ 1.
- Vận động sở Công Chánh xây một
bờ đê kiên cố từ Cầu Mụ Kề đến
hết nhà cha xứ.
- Xây dựng trường Sainte Marie.
- Xây Ḍng Mến Thánh Giá đối
diện với nhà cha sở.
- Xây nhà dục anh ở cuối làng để
nuôi trẻ mồ côi.
Những công tŕnh xây cất của
giáo xứ Tam Ṭa mà chúng ta thấy
trước khi rời Tam Ṭa năm 1954
đều do cha Morineau xây. Giáo xứ
Tam Toà về sau đă trở thành một
giáo xứ lớn nhất của tỉnh Quảng
B́nh và thuộc Giáo Phận Huế. Năm
1953, DHY Nguyễn Văn Thuận, sau
khi chịu chức Linh Mục, đă đến
làm cha phó của giáo xứ này đầu
tiên.
Sau Hiệp Định Genève năm 1954,
gần như toàn bộ giáo dân giáo xứ
Tam Ṭa đă đi cư vào thành phố
Đà Nẵng. Phần phía nam Quảng
B́nh được giao cho Giáo Phận
Vinh. Giáo dân c̣n lại ở phiá
nam sông Giang do hai Linh mục
Trần Quang Nghiêm và Lương Minh
Thể coi sóc. Đến năm 1962, Linh
mục Thể qua đời, và năm 1964,
khi Mỹ bắt đầu oanh tạc Quảng
B́nh, cả thành phố dời vào trong
núi, tất cả dân cư đểu phài đi
theo. Năm 1968, nhà thờ Tam Toà
bị bom phá sập.
NIỀM TIN SỐNG LẠI
Quảng B́nh từ sông Gianh trở vào
vốn thuộc Giáo Phận Huế, nên Đức
TGM Nguyễn Như Thể đă nhiều lần
xin chính quyền Quảng B́nh cho
một linh mục ở Huế ra làm mục vụ
cho giáo dân Quảng B́nh, nhưng
bị từ chối. Một linh mục đă đến
quan sát t́nh h́nh tại chỗ nhưng
bị đưổi về.
Trong thời gian “cải tạo xă hội
chủ nghĩa”, chính quyền các tỉnh
Quảng B́nh, Quảng Nam, Quảng
Ngăi và B́nh Định vốn nổi tiếng
sắt máu.
V́ không được phái linh mục đến
làm mục vụ tại Quảng B́nh, ngày
15.5.2006, Đức Cha Nguyễn Như
Thể, TGM Giáo Phận Huế, đă bàn
giao giáo hạt Nam Quảng B́nh cho
Giáo Phận Vinh. Linh mục Lê
Thanh Hồng được Đức Giám Mục
Giáo Phận Vinh cử vào quản xứ
Sen Bàng (phía tây
Đồng Hới, sát chân núi)
và các xứ c̣n lại từ Đồng Hới
trở vào. Từ đó, các tín hữu Tam
Ṭa và một số giáo xứ lân cận
mới t́m lại với nhau và hiện nay
đă có khoảng 1.000 người. Nhưng
v́ không có nhà thờ nên mọi sinh
hoạt tạm thời được tổ chức tại
nhà một giáo dân, trên đường
Nguyễn Du, cách nền nhà thờ cũ
hơn 100 mét về phía Tây Bắc.
Ngày 8.12.2007, 13 linh mục cùng
khoảng 1.000 tín hữu đă rước
kiệu và dâng thánh lễ đầu tiên
tại nền nhà thờ Tam Ṭa cũ.
Hôm mồng 7 Tết Mậu Tư
(2008),
các giáo dân thuộc phía nam
Quảng B́nh tập họp về phường
Đồng Mỹ, thành phố Đồng Hới, t́m
đến nền nhà thờ Tam Ṭa cũ với
tháp chuông trơ trọi để hiệp
dâng thánh lễ. Khoảng 11 giờ
trưa, một đoàn rước kiệu với
tượng Chúa chịu nạn đi đầu, theo
sau là 17 linh mục và Đức Cha
Cao Đ́nh Tuyên, Giám Mục Giáo
Phận Vinh, các nam nữ tu sĩ và
giáo dân, đă tiến về nền nhà thờ
cũ. Tại đây, Đức Giám Mục và
long trọng dâng thánh lễ, mở đầu
cho sự hồi sinh của giáo xứ Tam
Ṭa.
Linh mục
Tổng Đại Diện Giáo Phận Vinh đă
tuyên bố:
“Nơi
mảnh đất Tam Ṭa này đă làm phát
sinh những nhân vật vĩ đại như
Đức cha phó Nha Trang Giuse Vơ
Đức Minh, nhà thơ Hàn Mạc Tử; và
nhất là nhiều vị tử đạo khác.
Với trang sử hào hùng, tuyệt đẹp
đó, chúng ta mong ước ngôi nhà
thờ sớm được phép tái thiết để
trở thành một trung tâm của văn
hóa đạo và đời.”
Hôm 2.2.2009 vừa qua, Đức Giám
Mục Cao Đ́nh Thuyên lại đến chủ
sự thánh lễ cầu bằng yên năm mới
tại khuôn viên nhà thờ Tam Toà.
Cùng đồng tế có Linh mục Vơ
Thanh Tâm, tổng đại diện giáo
phận Vinh và 14 linh mục trong
giáo phận với sự tham dự của hơn
1000 giáo dân.
Giáo Phận Vinh, mặc dầu phải
trải qua nhiều biến cố đau
thương, vẫn phát triển rất mạnh.
Sau cuộc di cư năm 1954, số giáo
dân của Giáo Phận Vinh chỉ c̣n
lại 156.195 giáo hữu với 124
linh mục và 54 nữ tu. Đến năm
1994 số giáo dân đă tăng lên
385.840 và năm 2008 là khoảng
447.000. Vinh trở thành một
trong những giáo phận lớn nhất
của Việt Nam.
Số giáo dân Quảng B́nh c̣n lại
sau cuộc di cư năm 1954 đều nằm
trong hạt B́nh Chính với 24 giáo
xứ, trong đó có nhiều giáo xứ
rất lớn, có đông giáo dân
(từ 3000 trở lên)
như Giáp
Tam, Chợ Sáng, Cầu Nâm, Đan Sa,
Hướng Phương, Kinh Nhuận, Vĩnh
Phước II, v.v. Tất cả các giáo
xứ này đều nằm trong hai huyện
Bố Trạch và Quảng Trạch ở phiá
bắc Quảng Binh, cách xa thành
phố Hới.
Tỉnh Quảng B́nh hiện nay đă có
trên 100.000 giáo dân, nhưng
thành phố Đồng Hới lại không
được phép thành lập một giáo xứ
và xây cất một nhà thờ. Tại sao?
Như đă nói ở trên, v́ không có
nhà thờ, mọi sinh hoạt của giáo
dân ở vùng Đồng Hới đều phải tạm
thời được tổ chức tại nhà một
giáo dân, cách nền nhà thờ Tam
Toà cũ hơn 100 mét về phía Tây
Bắc.
Trong Chỉ Thị 1940/CT-TTg ngày
31.12.2008 về nhà đất liên quan
đến tôn giáo, Thủ Tướng Nguyễn
Tấn Dũng có nói:
“Đồng bào các tôn giáo là bộ
phận của khối đoàn kết dân tộc.
Đảng và Nhà Nước tôn trọng, bảo
đảm quyền sinh hoạt tôn giáo
theo pháp luật và các nhu cầu
chính đáng về nhà, đất để phục
vụ mục đích tôn giáo của tổ
chức, tín đồ tôn giáo.”
Với những tài liệu chúng tôi đă
tŕnh bày trên, ai cũng thấy
việc cho thành lập lại giáo xứ
Tam Toà và cho xây cất lại nhà
thờ Tam Toà là “nhu cầu chính
đáng... để phục vụ mục đích tôn
giáo” của giáo dân tại đây.
Một cuộc thăm ḍ cho biết nhiều
viên chức chính quyền tỉnh Quảng
B́nh cũng nhận thấy rằng Đồng
Hới cần có một nhà thờ để du
khách công giáo không phải rời
Quảng B́nh trong hai ngày thứ
bảy hay Chuá Nhật v́ sở bỏ lễ.
Thế th́ tại sao chính quyền địa
phương vẫn không chấp nhận cho
tái lập lại giáo xứ Tam Toà và
tái thiết nhà thờ Tam Toà?
Nhà cầm quyền nói rằng không thể
cho tái thiết lại nhà thờ Tam
Toà ở chỗ cũ v́ ngày 26.3.1997,
UBND tỉnh Quảng B́nh đă ra quyết
định lấy nhà thờ Tam Ṭa làm “di
tích tội ác chiến tranh của Mỹ”!
Nhưng lư do này không c̣n đứng
vững nữa, v́ hiện nay Đảng và
Nhà Nước đă thay đổi chủ trương:
Trước đây Đảng và Nhà Nước chủ
trương “Chống Mỹ cứu nước”
nay đă quay lại “Nhờ Mỹ
cứu Đảng” nên lư do UBND
tỉnh Quảng B́nh nêu ra không c̣n
đứng vững nữa.
Vă lại, cấu trúc của tháp nhà
thờ Tam Toà c̣n lại là một cấu
trúc không bền vững, có thể đổ
xuống bất cứ lúc nào. Không lẽ
lúc đó chính quyền sẽ xây lại
như “Quảng B́nh Quan” để làm di
tích sao?
Dầu sao, chính quyền địa phương
cũng đă tạo điều kiện cho Đức
Giám Mục Giáo Phận Vinh, các
linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo
dân hai lần đến tập họp tại nền
nhà thờ Tam Toà cũ để rước kiệu
và dâng thánh lễ, chúng tôi hy
vọng chính quyền xẽ bước xa thêm
một bước nữa.
Trước cuộc di cư năm 1954, Toà
Thánh Vatican đă có ư định thành
lập Giáo Phận Quảng B́nh gồm hai
tỉnh Hà Tĩnh và Quảng B́nh v́
giáo dân giáo phận Vinh quá đông,
nhưng v́ chiến tranh nên ư định
đó không thực hiện được. Nay
chiến tranh đă chấm dứt, Giáo
Hội sẽ trở lại chủ trương này
với Toà Giám Mục đặt tại Đồng
Hới. Do đó trong tương lai Giáo
Hội cũng cần một khu nhà thờ và
Toà Giám Mục khang trang ở Đồng
Hới.
Chúng tôi
mong rằng chính quyền và giáo
quyền tại địa phương sẽ có những
buổi họp để t́m phương cách thi
hành Chỉ Thị 1940/CT-TTg ngày
31.12.2008 của Thủ Tướng,
“bảo đảm quyền sinh hoạt tôn
giáo theo pháp luật và các nhu
cầu chính đáng về nhà, đất để
phục vụ mục đích tôn giáo của tổ
chức, tín đồ tôn giáo.”
Lữ Giang
|
Ghi chú:
Nếu t́m không thấy bài, cứ vào
motgoctroi.com, mục "Mỗi
tuần một chuyện" sẽ thấy
trong đó.
|
|