Rủ nhau ra đi!

 

   Mới đầu năm 2007 mà Quân Lực VNCH lại mất thêm hai Sao nữa: Ở thành phố Fallchurch, Virginia, hôm 22.1.2007, Tướng Ngô Quang Trưởng đă bỏ anh em ra đi th́ hai ngày sau, ngày 24.1.2007, ở thành phố Bakersfield, California, Đô Đốc Chung Tấn Cang cũng đă đi theo.

 

   Chúng ta nhớ lại, đầu năm 1950, chiến cuộc ở Đông Dương ngày càng leo thang, v́ sau khi chiếm được toàn bộ Trung Quốc, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đă yểm trợ Việt Cộng chống lại Pháp. Theo đề nghị của Thủ Tướng Pháp Henri Queuille và Thủ Tướng Việt Nam Trần Văn Hữu, ngày 11.5.1950, Quốc Hội Pháp đă chấp thuận cho chính phủ Việt Nam thành lập Quân Đội Quốc Gia VN để chống cộng. Ngày 15.9.1950, các trường vơ bị địa phương được thành lập để huấn luyện các sĩ quan và hạ sĩ quan. Đến ngày 1.10.1950, Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt được h́nh thành để thay thế trường sĩ quan hiện dịch ở Huế. Tính từ đó đến nay, Quân đội Quốc Gia VN đă có 57 tuổi.

 

   Theo danh sách do Adam C. Sadowsky thiết lập ngày 30.5.2000, cho đến 30.4.1975, Quân Lực VNCH đă có 159 tướng lănh. Qua kinh nghiệm chiến trường, nhiều tướng lănh VNCH đă tỏ ra rất xuất sắc, trong số đó có Tướng Ngô Quang Trưởng.

 

Mỗi lần có một nhà chính trị hay một tướng lănh nổi danh ra đi, chúng tôi thường đưa ra những nhận xét chung quanh các nhân vật này để rút kinh nghiệm lịch sử cho thế hệ mai sau. Hôm nay chúng tôi cũng xin có một vài lời ghi nhận về Tướng Ngô Quang Trưởng.

 

   VÀI D̉NG VÊ TIỂU SỬ

   Hôm 27.1.2007, chúng tôi có nhận được một thư hiệu đính về tiểu sử của Tướng Trưởng do ông Ngô Quang Tuấn, cháu Tướng Trưởng công bố. Tài liệu trong thư này có nhiều điểm khác với những chi tiết đă được ghi trong các lời cáo phó hay phân ưu. Do đó, chúng tôi xin ghi lại theo ông Ngô Quang Tuấn. Sau đây là những điểm chính:

 

   Tướng Ngô Quang Trưởng sinh năm 1930 (có báo đăng là 1932, có báo lại đăng là 1929), tại cù lao Giao Thanh, huyện Mỏ Cầy, tỉnh Bến Tre, là con trai út trong một gia đ́nh có 4 trai, 1 gái. Ông là khóa sinh trường Vơ Bị Thủ Đức khóa 7 chứ không phải khóa 4 (nhưng các sĩ quan khóa 4 xác nhận ông Trưởng khóa 4). Phu nhân của ông là ái nữ của nhà văn Thạch Lam (chứ không phải Hoàng Đạo).

 

   Từ giữa năm 1954 đến tháng 6/1966, phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù qua các chức vụ trung đội trưởng, đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng, Tham mưu trưởng, Tư lệnh phó Sư đoàn Nhảy Dù. Được thăng cấp thiếu tá năm 1964, trung tá năm 1965 và đại tá năm 1966 (khi giữ chức Tư lệnh phó Sư đoàn Nhảy Dù). Tháng 6/1966, được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh. Thăng cấp Chuẩn tướng vào tháng 2/1967, thăng cấp Thiếu tướng tháng 5/1968. Đến tháng 8/1970, Tướng Trưởng rời Sư đoàn 1 Bộ Binh, về miền Tây giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 4/Quân khu 4 và được vinh thăng Trung tướng vào tháng 11/1970.

 

   Đầu tháng 5/1972, trong cuộc chiến mùa hè 1972, Tướng Trưởng được cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 1/Quân khu 1 cho đến khi mất Quân Khu này vào cuối tháng 3/1975.

 

Sau đây là một số chiến công đặc biệt của Tướng Trưởng (theo Vương Hồng Anh):

   Năm 1955, ông tham gia cuộc tiễu trừ lực lượng B́nh Xuyên và được đặc cách thăng cấp trung úy tại mặt trận. Năm 1963, ông thăng cấp đại úy. Năm 1964, ông thăng cấp thiếu tá và được bổ nhiệm Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù. Cùng năm 1964, Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù do ông chỉ huy trực thăng vận nhảy vào mật khu Đỗ Xá, thuộc quận Minh Long, tỉnh Quảng Ngăi, phá vỡ căn cứ địa của Bộ Tư lệnh Mặt Trận B1 của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tịch thu 160 súng đủ loại. Năm 1965, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù do ông chỉ huy trực thăng vận nhảy vào mật khu Hắc Dịch, thuộc vùng núi ông Trinh, tỉnh Phước Tuy. Bà Rịa, căn cứ của Công Trường 7 của CS Bắc Việt. Sau hai ngày chạm súng và gây thiệt hại nặng cho hai Trung Đoàn Q762 và Q762 thuộc Công Trường 7, ông được đặc cách thăng cấp trung tá tại mặt trận và được tưởng thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Năm 1965 sau trận Hắc Dịch, ông được bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Lữ Đoàn Nhảy Dù.

 

   Đến cuối năm 1965, Trung tá Ngô Quang Trưởng được bổ nhiệm Tham mưu trưởng Sư Đoàn Nhảy Dù. Năm 1966, sau biến cố bạo động miền Trung, ông được bổ nhiệm Tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, dưới quyền chỉ huy của Tư lệnh Quân đoàn I là Thiếu tướng Hoàng Xuân Lăm. Năm 1967, các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Bộ Binh do ông chỉ huy, gồm Đại Đội Hắc Báo Trinh Sát, cùng Chi Đoàn 2/7 Thiết Vận Xa M-113, tăng phái Tiểu Đoàn 9 Nhảy dù do Thiếu tá Nguyễn Thế Nhă chỉ huy, tấn công và phá vỡ hạ tầng cơ sở và toàn bộ lực lượng du kích địa phương thuộc mặt trận Lương Cổ, Đồng Xuyên, Mỹ Xá, thuộc quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Sau trận này ông thăng cấp chuẩn tướng.

 

   Năm 1968, các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Bộ Binh do ông chỉ huy, tăng phái Chiến Đoàn I Nhảy Dù gồm các Tiểu Đoàn 2, 7 và 9 Nhảy Dù do Trung tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy, đă pḥng thủ thành công tại Huế trong 26 ngày từ 30 tháng 1 đến 24 tháng 2 năm 1968. Các đơn vị này đẩy lui các đơn vị xung kích của Quân Giải phóng miền Nam, gồm Đoàn 5 các Tiểu Đoàn K4A, K4B, Tiểu đoàn 12 đặc công nội thành, Thành Đoàn Huế, Đoàn 6 gồm các Tiểu Đoàn K41, K6, Tiểu đoàn 13 đặc công nội thành Huế, các Đại đội đặc công 15, 16, 17, 18, tăng cường một đại đội súng pḥng không 37 ly, hai đại đội du kích quận Hương Trà, Phong Điền, hai đại đội biệt nội thành Huế, và hai Tiểu Đoàn 416, 418 thuộc Đoàn Cù Chính Lan tức Đoàn 9. Tướng Trưởng và các đơn vị của ông đă giữ vững Huế và gây thiệt hại nặng nề cho các đơn vị tấn công Huế. Sau trận Mậu Thân ông được đặc cách thăng cấp Thiếu tướng và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn IV, Quân khu IV. Năm 1970 ông được thăng cấp Trung Tướng.

 

   Hai năm sau khi Cộng sản mở cuộc chiến mùa hè đỏ lửa, lực lượng Quân lực VNCH tại Quân khu I đă bị nhiều tổn thất. Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động vào chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I thay thế tướng Hoàng Xuân Lăm.

 

   Quân khu I được tăng cường toàn bộ lực lượng tổng trừ bị của Quân lực VNCH và được sự yểm trợ tầm xa bởi Hạm đội 7 Hoa Kỳ, đẩy lui và tái chiếm Thành cổ Quảng Trị và tất cả các phần đất bị chiếm phía Nam sông Mỹ Chánh, gây nhiều thiệt hại cho các đơn vị Cộng sản Bắc Việt và quân Giải phóng miền Nam. Đại tướng Norman Schwarkopf của Hoa Kỳ trong cuốn hồi kư viết vào năm 1992 đă ca tụng tướng Trưởng như một anh hùng trong trận đánh tại thung lũng Ia-Drang.

 

   Sau năm 1975, ông di tản sang Hoa Kỳ và sống cùng với gia đ́nh tại vùng tiểu bang Virginia. Ông từ chối tiếp xúc với bất cứ ai, từ chối không trả lời các cuộc phỏng vấn của báo chí về những ngày cuối cùng, và không xuất hiện ở những chỗ đông người, nhưng luôn luôn được các cựu chiến sĩ kính trọng v́ được mệnh danh là một trong 4 vị tướng thanh liêm trong sạch, qua câu "Nhất Thắng, nh́ Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng"...

 

   NÉT ĐẶC TRƯNG NƠI TƯỚNG TRƯỞNG

   Các nhà phân tích Pháp cũng như Hoa Kỳ đều có nhận xét chung rằng các tướng lănh VNCH điều khiển từ cấp trung đoàn trở xuống rất xuất sắc, có nhiều vị giỏi hơn cả các tướng Pháp hay Mỹ. Nhưng khi phải điều binh từ cấp sư đoàn trở lên, nhất là cấp quân đoàn, họ không đủ khả năng đối đầu với các tướng của địch. Điều này rất dễ hiểu: Trong thời Pháp tham chiến, mọi cuộc hành quân lớn đều do Bộ Tư Lệnh Pháp thành lập kế hoạch hành quân và điều khiển, c̣n Quân Lực Việt Nam chỉ “ăn theo”. Trong thời Mỹ tham chiến, t́nh trạng cũng đă xẩy ra tương tự như vậy. V́ thế, các tướng lănh VNCH không cơ hội để học hỏi kinh kinh nghiệm về lập kế hoạch và điều khiển từ cấp sư đoàn trở lên. Do đó, sau khi Mỹ rút, Quân Lực VNCH không nh́n ra được chiến lược của địch, không biết phải h́nh thành thế trận như thế nào để đối phó với địch, nên khi bị tấn công, chỉ 40 ngày là mất miền Nam.

 

   Nhận xét này cũng có tranh luận. Nhưng một đoạn nói về tài hành quân của Đại Tá Ngô Quang Trưởng trong cuốn “It Doesn't Take A Hero” của Tướng H. Norman Schwarzkopf và Peter Petre, cho chúng ta thấy, đúng như một số nhà phân tích đă nhận xét, tài hành quân cấp trung đoàn trỡ xuống của các sĩ quan VNCH rất tuyệt vời. Xin mời độc giả đọc đoạn nói về hành quân của Đại Tá Trưởng theo tóm lược của Nguyễn Thạnh Phú Đông:

   “Người đó là một đại tá, trưởng pḥng hành quân của quân đoàn II của tướng Dư Quốc Đống. Người đó không có dáng dấp hùng dũng của một tài năng quân sự như Schwarzkopf quan niệm: chỉ cao khoảng 5 feet 7, tuổi vào khoảng giữa 40, vai rút, cổ ngắn, cái đầu có vẽ quá to so sánh với thân thể nhỏ bé ôm nhom, khuôn mặt thon gọn, có vẽ rắng rỏi, hoàn toàn không đẹp trai, luôn luôn có điếu x́ gà trên môi. Tuy nhiên, ông ta được thuộc cấp hết ḷng kính nể và tướng tá Việt cộng sợ hăi khi nghe đến tên của ông ta. Tướng Đống luôn luôn phó thác cho ông ta những mặt trận cam go cần phải thanh toán, dứt điểm.

 

   Người đó là Đại tá Ngô Quang Trưởng, người đă nghe danh của Schwarzkopf nên đă chọn ông làm cố vấn khi được lệnh chỉ huy một toán xung kích khoảng 2000 quân, đột nhập thung lũng Ia Drang để chận đường rút lui về Cam-bốt của một trung đoàn Việt cộng.

 

   Ia Drang nằm ở phía bắc Đức Cơ, rộng khoảng 12 dặm, trôi vào Cam-bốt về hướng Tây với nhiều khoảng rừng rậm, nơi mà chính quân của Việt Cộng đang di chuyển. Quân ta được trực thăng vận đến, nhưng khi chân vừa chạm đất là rơi ngay vào những cuộc chạm tráng nẩy lửa. Đoàn quân được thả xuống mặt bắc của Ia Drang, được lệnh trấn đóng các đỉnh núi Chu Pong đổ xuống hướng Nam.

 

   Lần đầu tiên làm việc với đại tá Ngô Quang Trưởng, Schwarzkopf đă say mê theo dơi từng chi tiết khi ông ta điều khiển chiến trường. Lúc nào cũng có bản đồ, luôn luôn dừng chân nghiên cứu bản đồ, thỉnh thoảng ông chỉ vào bản đồ và ra lệnh: “Tôi muốn ông pháo vào đây”. Tuân lệnh một cách hoài nghi, thiếu tá Schwarzkopf đă dùng máy vô tuyến điện đàm chỉ điểm cho pháo binh Hoa Kỳ pháo kích, và khi di chuyển đến nơi, đă phát hiện được nhiều xác chết của Việt cộng. Với 15 năm kinh nghiệm chiến trường, với khả năng kỳ bí, nh́n vào chi tiết của bản đồ, đại tá Trưởng thấy được thế đất h́nh cây, đoán được đường đi nước bước của quân địch.

 

   Đêm xuống, điều quân trong lều chỉ huy, đại tá Trưởng trải bản đồ ra, thắp điếu thuốc, giải thích cho cố vấn Schwarzkopf chiến lược hành quân tổng quát. Từ trên đỉnh núi cho đến khoảng rừng là nơi quân ta đang chiếm đóng, đại tá Trưởng giải thích đó là một hành lang thiên tạo, cũng là con đường mà Việt cộng mơ ước. Lúc rạng đông, chúng ta sẽ phái một tiểu đoàn trấn đóng chỗ này (chỉ trên bản đồ) phía trái của chúng ta để khóa chặc đường ranh giới với Cam-bốt giữa dăy núi và ḍng sông. Khoảng 8 giờ sáng, lực lượng này sẽ chạm trán với địch quân. Trưởng nói: “Tôi muốn ông chuẩn bị trọng pháo để, sẽ rót vào vùng phía trước mặt chúng ta”. Trưởng nói tiếp: Lúc 11 giờ sáng, tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn 4 sẽ đổ quân xuống phía ḍng sông, địch quân sẽ bị dồn vào bẩy với ḍng sông án ngữ phía sau lưng họ.

 

   Tại sao lại 8 giờ? Tại sao lại 11 giờ? Làm sao người ta có thể quy định thời khắc cho chiến trường theo kiểu đó? Kiểu cách này Schwarzkopf không thể học được ở West Point. Nhưng sau đó, ông ta nhận ra rằng đại tá Trưởng đă sáng tạo, xây dựng lại chiến thuật của Hannibal sử dụng hồi năm 27 trước Tây lịch để hủy diệt quân đoàn La Mă trên bờ hồ Traimene. Trưởng nói:

   Theo bản đồ, ranh giới Cam Bốt cách đây 10 cây số, khi tiểu đoàn đầu tiên vào đúng vị trí của nó, trọng pháo phải được sử dụng thật chính xác, không được đi quá đà, quá gần với đường ranh giới, bởi v́ nơi đó là nơi quân của chúng ta đang truy đuổi quân địch. Thiếu tá Schwarzkopf, ư kiến của ông thế nào?”

 

   Sau khi tŕnh bày chiến thuật tấn công, đại tá Trưởng ngồi hút x́ gà và tiếp tục nghiên cứu bản đồ thật lâu và bàn luận tới lui với Schwarzkopf cho đến thật khuya.

 

   Tảng sáng, đại tá Trưởng gởi tiểu đoàn 3 xuống trận, đóng đúng vị trí phiá trái, đến 8 giờ họ gọi về báo cáo họ đang đụng trận một cách nặng nề. Trưởng ra lệnh cho tiểu đoàn 5 di quân bọc theo cánh phải xuống phía ḍng sông, 11 giờ họ báo cáo, đụng trận.

 

   Mọi chi tiếc xảy ra, đúng y như lời tiên đoán của đại tá Trưởng: Địch quân từ khu rừng đổ ra, bị dồn về phía bờ sông, không lối thoát, phải chọn con đường thất sách là rời bỏ thung lũng, rút trở lại khu rừng t́m đường lên núi Chu Pong.

 

   Đến lúc địch quân tự gom lại một nơi, đại tá Trưởng nh́n tôi ra lệnh “trọng pháo tấn công”. Sau nữa giờ quân địch bị pháo như mưa, Trưởng ra lệnh cho 2 tiểu đoàn c̣n lại đánh thốc xuống núi.

 

   Một giờ trưa, đại tá Trưởng ra lệnh ngưng bắn, chọn một khoảng trống để ăn trưa chung với các sĩ quan tham mưu. Khoảng giữa bữa ăn, Trưởng bỏ đủa, sử dụng máy vô tuyến ra lệnh thu thập chiến lợi phẩm. Việt Cộng tử trận vô số kể, những kẻ sống sót đều bỏ khí giới t́m đường chạy trốn.

   Đầu năm 1966, Việt cộng điều động lực lượng từ duyên hải vào thung lũng An Lăo để củng cố các cánh quân đang trấn đóng trong vùng. Đại tá Ngô Quang Trưởng đă mời thiếu tá cố vấn Schwarzkopf đến hợp tác mở cuộc tấn công vào tổng hành dinh của địch quân để b́nh định vùng này, giữ an ninh cho căn cứ Chu Lai.

 

   Như dự định, khởi sự Schwarzkoptf điều động chiến đấu cơ Hoa Kỳ tấn công bằng Napal, bằng bom và súng 22mm Garling Gun. Sau đợt đó, đến đợt trọng pháo tấn công liên tục càng lúc càng sát vào một làng nơi tổng hành dinh của địch và tiến về phía sau làng để tiêu diệt đường rút lui. Muời chiếc xe bọc sắt hướng dẫn đoàn quân tiến vào trận địa dưới đường bay của đạn đại bác, cuộc tiến quân chậm chạp v́ sau khi rút vào các đường hầm để tránh bom, số quân c̣n sống sót của địch trở lại vị trí cố thủ để chiến đấu. Nhưng, dứt đợt trọng pháo, lực lượng pḥng không của địch bị vô hiệu hóa, th́ đoàn trực thăng chiến đấu xuất hiện với các giàn súng máy 50 caliber từ phía trên đầu của quân ta bắn phá để dọn đường cho cuộc tiến quân, thanh toán chiến trường.

 

   Sát cánh với đại tá Trưởng, theo dơi từng chi tiếc việc sắp đặt và điều khiển chiến trường của đại tá Trưởng, cố vấn Schwarzkopf đă ái mộ và kính trọng Ngô Quang Trương như một thiên tài về quân sự, đă ái mộ và kính trọng quân đội VNCH về khả năng vượt bực và ḷng dũng cảm của họ trong tinh thần bảo vệ Tổ Quốc và Tự Dọ.

 

   TRÁCH NHIỆM MẤT VÙNG 1

   Khi c̣n sống, Tướng Ngô Quang Trưởng có cho phổ biến bài “V́ sao tôi bỏ Quân Đoàn I?” dài khoảng 3 trang để giải thích về biến cố mà ông thường bị chỉ trích. Trên Saigon Nhỏ số ra ngày 16.4.2004, dưới đầu đề “Người trong cuộc lên tiếng” chúng tôi đă phân tích bài giải thích của ông. Nay chúng tôi xin ghi lại dưới đây những nét chính về lư do đưa tới mất Vùng I, trong đó Tướng Trưởng cũng phải chịu một phần trách nhiệm:

 

   Trong những tháng cuối cùng của miền Nam, Cộng quân có những đơn vị chủ yếu sau đây ở Quân Khu I: Sư Đoàn 325 ở phía tây Đông Hà (Quảng Trị), Sư Đoàn 324B ở phía tây Huế, Sư Đoàn 304 ở phía tây Đà Nẵng, Sư Đoàn 711 và Lữ Đoàn 52 ở Quảng Tín và Quảng Ngăi. Trong 4 Sư Đoàn này chỉ có Sư Đoàn 304 là thiện chiến, nhưng không sư đoàn nào có đủ quân số. Hai Sư Đoàn 324B và 325 đă bị rút mất mỗi sư đoàn một trung đoàn để tăng cường cho Sư Đoàn 324B ở Đà Nẵng và Sư Đoàn 316 đi đánh Ban Mê Thuột. Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa lầm tưởng Sư Đoàn 308, một sư đoàn rất thiện chiến của Cộng quân, c̣n hoạt động ở một nơi nào đó tại Quân Khu 1, nhưng sau này đọc các sách do Quân Đội Bắc Việt viết, chúng tôi được biết sư đoàn này đă bị xóa tên trong trận Hạ Lào năm 1971 khi đánh cận chiến với Sư Đoàn Dù của VNCH. Về sau, khi Quân Khu 2 đă bị mất, t́nh h́nh miền Nam rối loạn, Cộng quân mới chuyển thêm Sư Đoàn 341, một sư đoàn trừ bị mới lập ở Quảng B́nh, vào tiếp ứng để dứt điểm.

 

   Về phía Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, các lực lượng thiện chiến với quân số đầy đủ đă được tập trung để bảo vệ Quân Khu 1: Sư Đoàn Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến và Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh đóng ở Quảng Trị. Sư Đoàn 1 (4 trung đoàn) và Liên Đoàn 15 Biệt Động Quân đóng ở Thừa Thiên. Sư Đoàn 3 và Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân đóng ở Quảng Nam. Sư Đoàn 2 và Liên Đoàn 12 Biệt Động Quân đóng ở Quảng Tín. Liên Đoàn 11 Biệt Động Quân đóng tại Quảng Ngăi. Ngoài ra, Quân Lực VNCH c̣n có Hải Quân và Không Quân yểm trợ. Như vậy lực lượng của Quân Lực VNCM mạnh hơn lực lượng của Cộng quân rất nhiều.

 

   Sư Đoàn Dù và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến là lực lượng tổng trừ bị của trung ương, nhưng khi biệt phái ra Quân Đoàn 1 đă bị Tướng Ngô Quang Trưởng biến thành lực lượng địa phương, đem đi đóng đồn và đóng chốt. Do đó, khi xẩy ra chuyện ǵ, Bộ Tổng Tham Mưu không c̣n quân trừ bị để gởi đi cứu viện nữa.

 

   Ngày 13.3.1975, trong một cuộc họp tại Saigon, Tổng Thống Thiệu cho Tướng Trưởng biết sẽ rút hết Sư Đoàn Dù và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến về làm tổng trừ bị và ra lệnh cho Tướng Trưởng rút quân về pḥng thủ vùng duyên hải từ Huế đến Chu Lai. Ngày 19.3.1975, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa rút khỏi Quảng Trị, về lập pḥng tuyến ở Mỹ Chánh, giữa Huế và Quảng Trị. Tướng Trưởng vào Saigon gặp Tổng Thống Thiệu tŕnh bày kế hoạch giữa ba “đầu cầu” (enclaves) Huế, Đà Nẵng và Chu Lai. Tổng Thống Thiệu chấp thuận. Trưa 19.3.1975, Tổng Thống Thiệu lên đài phát thanh ra lệnh tử thủ Huế, nhưng đến tối ông lại đánh cho Tướng Trưởng một công điện như sau: “Phương tiện eo hẹp về không quân và hải quân chỉ cho phép yểm trợ một “enclave” mà thôi. Vậy nên “mener” tŕ hoản chiến về tuyến đèo Hải Vân nếu t́nh h́nh cho phép”. Bằng một lối hành văn mập mờ như thế, Tổng Thống Thiệu ra lệnh chỉ giữ một “đầu cầu” (enclave) Đà Nẵng mà thôi!

 

   Sau khi Ban Mê Thuột bị mất, Ngày 12.3.1975 Tổng Thống Thiệu ra lệnh rút Lữ Đoàn 3 Dù về ở Khánh Dương để giải phóng Ban Mê Thuột và ra lệnh cho Tướng Ngô Quang Trưởng phối trí lại lực lượng. Tướng Trưởng phản kháng quyết liệt. Ông điều động Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân ở Quảng Nam ra thay thế Lữ Đoàn 3 Dù, đưa hai Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến 147 và 258 về Quảng Nam, chỉ để lại Quảng Trị Lữ Đoàn 369.

 

   Tối 20.3.1975, Tổng Thống Thiệu lại ra lệnh rút thêm Lữ Đoàn 2 Dù về Saigon. Thấy bị mất hai Lữ Đoàn Dù, Tướng Trưởng la lối om ṣm rằng Bắc Việt có 4 Sư Đoàn trừ bị đang dàn hàng ngang ở vĩ tuyến 17 để đ̣i giữ Lữ Đoàn 2 Dù lại, nhưng thật sự không có. Sau đó, Tướng Trưởng đánh cho Tổng Thống Thiệu một công điện xin từ chức v́ “thấy đuối sức và bối rối”. Bộ Tổng Tham Mưu phải cho Lữ Đoàn 468 Thủy Quân Lục Chiến, một Lữ Đoàn thứ tư mới thành lập, đang hành quân tại Long An ra thay. Đại Tá Nguyễn Thu Lương, Chỉ Huy Trưởng Lữ Đoàn 2 Dù cho chúng tôi biết Tướng Trưởng không muốn cho Lữ Đoàn của ông rút ngay nên đă cho chuyển từ từ Lữ Đoàn 369 TQLC đến thay thế Lữ Đoàn 2 Dù để cầm chân Lữ Đoàn này lại càng lâu càng tốt, khiến việc chuyển quân bị chậm trể. Khi cả hai Lữ Đoàn Dù đi rồi th́ Tướng Trưởng hoàn toàn mất tự tin, ông uống rượu suốt ngày và có lần định tự tử. T́nh h́nh Quân Đoàn I hoàn toàn rối loạn.

 

   Ngày 21.3.1975, Cộng Quân cắt quốc lộ 1 ở Truồi, giữa Huế và Đà Nẵng và đóng chốt ở đèo Phú Gia. Đường giao thông giữa Huế và Đà Nẵng bị cắt đứt. V́ không c̣n vận chuyển đường bộ được, ngày 25.3.1975 Tướng Tưởng quyết định cho Thủy Quân Lục Chiến rút ra cửa Thuận An và Sư Đoàn 1, Biệt Động Quân và Địa Phương Quân xuống cửa Tư Hiền để tàu Hải Quân đến đón. Đoàn quân rút lui đă tan rả tại hai cửa bể này, chỉ c̣n khoảng 1/3 về tới Đà Nẵng.

 

   Việc rút lui của Sư Đoàn 2 tương đối thành công hơn v́ chỉ phải chuyển từ Chu Lai ra bờ biển để được tàu Hải Quân chở ra đảo Ly Sơn (Cù Lao Ré) ở gần đó. Nhưng khi Sư Đoàn 2 được chuyển vào B́nh Tuy th́ quân số cũng chỉ c̣n một nữa.

 

   Ngày 27.3.1975 t́nh h́nh Đà Nẵng trở nên nghiêm trọng. Cộng quân pháo kích vào Đà Nẵng, dân chúng và binh sĩ từ Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín và Quảng Ngăi đổ về đây quá đông, an ninh trật tự không c̣n kiểm soát được. Tổng Thống Thiệu không có một quyết định dứt khoát nào về việc giữ hay rút khỏi Đà Nẵng mà để cho Tướng Trưởng tùy nghi quyết định. Khi t́nh h́nh Đà Nẵng gần như không c̣n điều khiển được, Tướng Tưởng ra lệnh bỏ Đà Nẵng. Ngày 28.3.1975 tàu Hải Quân đến Đà Nẵng đón binh sĩ và dân chúng, ưu tiên cho Thủy Quân Lục Chiến, đưa vào Nha Trang, Cam Ranh và Vũng Tàu. Ngày 29.3.1975 Quân Khu 1 hoàn toàn bị thất thủ.

 

   Sau này, Tướng Trần Đ́nh Thọ, Trưởng Pḥng III Bộ Tổng Tham Mưu đă nói với Tướng Ngô Quang Trưởng như sau:

   “Bộ Tổng Tham Mưu đă làm hết ḿnh, có phương tiện là ưu tiên cho Quân Đoàn I/Quân Khu I. Cả hai Sư Đoàn Dù và Thủy Quân Lục Chiến là lực lượng tổng trừ bị đều được tăng cường cho Quân Đoàn I, đến khi hoàn thành nhiệm vụ, chiếm được mục tiêu xong, thay v́ phải hoàn trả về Bộ Tổng Tham Mưu để chỉnh bị điều động đi nơi khác, th́ Trung Tướng giữ lại để phân tán và xử dụng như Địa Phương Quân, như vậy c̣n chê trách nổi ǵ?”

 

   Thật ra, Quân Khu 2, Quân Khu 1 rồi sau đó toàn miền Nam bị mất là do “Chiến lược Đầu Bé Đít To” ngu xuẩn của Tướng Ngưyễn Văn Thiệu, một người yếu kém cả về quân sư lẫn chính trị, nhưng lại nắm trong tay vận mệnh quốc gia! Ông không biết địch, không hiểu Đồng Minh, nhưng rất độc đoán, bỏ ra ngoài tai mọi ư kiến của Bô Tổng Tham Mưu và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, luôn suy nghĩ và hành động theo cảm tính..., như một số người Việt chống Cộng ngày nay, nên miền Nam bị mất chỉ trong 40 ngày! Cuối cùng ông lên truyền thanh và truyền h́nh đổ lỗi cho Mỹ, làm như miền Nam là của Mỹ!

 

   Xin vĩnh biệt Tướng Ngô Quang Trưởng. Tổ quốc ghi công của ông.

 

   Tú Gàn.