Trung Quốc biến “Đường 9 Đoạn” thành Tứ Sa!

Lữ Giang

 

Hôm 21.9.2017, trang báo mạng The Washington Free Beacon ở Washington DC công bố một tài liệu mới cho biết Bắc Kinh đă thông qua chiến thuật mới về chủ quyền trên Biển Nam Trung Quốc (tức Biển Đông): Nhóm đảo “Tứ Sa” thay thế Đường 9 Đoạn bị coi là bất hợp pháp!

Trang báo cho biết, trong một cuộc họp kín với các viên chức bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vào hai ngày 28 và 29.8.2017 tại Boston, ông Mă Tân Dân (Ma Xinmin), Cục phó Cục Hiệp định và Pháp luật thuộc bộ Ngoại Giao Trung Quốc, đă khẳng định «quyền lịch sử của Trung Quốc tại Tứ Sa». Các viên chức Mỹ tỏ ra rất ngạc nhiên về cách diễn dịch mới này.

 

 

Bản đồ vùng Tứ Sa trên Biển Đông

 

Nói một cách rơ ràng hơn, theo ông Mă Tân Dân từ nay Trung Quốc sẽ không c̣n xử dụng quan niệm Đường 9 Đoạn (9-Dash Line) hay Dường lưỡi ḅ” để chứng minh chủ quyền pháp lư trên Biển Đông nữa mà dùng khái niệm về đường cơ sở bao ṿng quanh Tứ Sa. Theo ông, Tứ Sa (Four Sha) gồm 4 nhóm đảo trên Biển Đông là Đông Sa (Dongsha) tức Pratas Islands của Đài Loan, Tây Sa (Xisha) tức Hoàng Sa, Nam Sa (Nansha) tức Trường Sa và Trung Sa (Zhongsha) tức băi cạn Macclesfield, một băi ngầm nằm cách Hoàng Sa 75 hải lư. Ông nói rằng Trung Quốc có «chủ quyền và quyền hàng hải» kéo dài xung quanh bốn nhóm đảo nói trên và đ̣i hỏi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lư xung quanh 4 nhóm đảo này.

Tại sao Trung Quốc phải đưa ra một căn bản pháp lư mới để chứng minh chủ quyền trên Biển Đông thay v́ “Đường 9 Đoạn”? Tại v́ khái niệm “Đường 9 Đoạn” đă bị phán quyết ngày 13.7.2015 của Ṭa Trọng Tài Thường Trực ở La Hay tuyên bố là “không có cơ sở pháp lư”, nên Trung Quốc phải đi t́m một “căn bản pháp lư” khác.

 

TRUNG QUỐC XÀI ĐỒ CỦ ĐỂ LẤP LIẾM

Những quy định về chủ quyền trên biển theo quốc tế công pháp về Luật Biển rất phức tạp. Trong vụ Philippines kiện Trung Quốc trước Ṭa Trọng Tài quốc tế, hồ sơ tranh luận lên đến trên 4.000 trang với 40 bản đồ khác nhau. Mặc dầu Trung Quốc tuyên bố “Chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông là bất khả tranh căi” và người Việt cũng tuyên bố tương tự như thế, nhưng phán quyết của Ṭa hoàn toàn khác với những sự xác quyết này. Nói theo cảm tính là nói cho sướng mồm và nói để tuyên truyền mà thôi. Khi ra tranh tranh tụng trước Công lư, chỉ có các bằng chứng luật định và luật lư được chấp nhận, c̣n cảm tính và những lời xác quyết dao to búa lớn thường bị xếp vào thùng rác.

Chúng tôi xin nhắc lại, trong cuộc hội thảo được tổ chức tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế ở Washington năm 2011, sáng 20.6.2011 giáo sư Tô Hảo (Su Hao), Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế thuộc trường Đại Học Ngoại Giao Trung Quốc, đă lên diễn đàn đọc một bài diễn văn chứng minh Trung Quốc đă có chủ quyền về lịch sử không chối căi đối với Biển Đông từ 2000 năm về trước. Từ đời nhà Tống cách đây vài trăm năm, Trung Quốc đă có một cơ quan phụ trách hành chính về khu vực này và đă có đội tàu đi tuần trên biển. Ông đem theo một thùng tài liệu rất lớn chứng minh Trung Quốc đă làm chủ Biển Đông từ thời ông Bành Tổ. Nhưng khi ông vừa thuyết tŕnh xong, ông Termsak Chalermpalanupap, Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thư kư ASEAN đă lên tiếng như sau: "Tôi không cho rằng Công Ước Của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) công nhận lịch sử là cơ sở để tuyên bố chủ quyền". Giáo sư Peter Dutton thuộc Đại học Hải quân Hoa Kỳ cũng có quan điểm tương tự: "Về quyền tài phán đối với các vùng biển, lịch sử không liên quan ǵ cả, mà phải tuân theo UNCLOS."

Từ 1975 đến nay, rất nhiều người Việt đă đi sưu tầm tài liệu lịch sử để chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa như Phủ Lục Tạp Biên của Lê Quí Đôn, Đại Nam Nhất Thống Chí…, tại sao “mấy thằng cha này” lại dám bảo Luật Biển LHQ không công nhận lịch sử là cơ sở để tuyên bố chủ quyền?

Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi xin tŕnh bày khái niệm về quyền sở hữu lịch sử đối với các đảo và “vùng nước lịch sử(historic water) ở Biển Đông do Trung Quốc nại ra. Đây là những khái niệm đă một thời được quốc tế công pháp về luật biển công nhận, nay đă trở nên lỗi thời, nhưng Trung Quốc vẫn lôi ra xài để lấp liếm. Một số người Việt không biết ǵ về luật biển, cũng đă bắt chước Trung Quốc làm y như thế khi chứng minh chủ quyền của Việt Nam!

 

QUYỀN SỞ HỮU CÁC ĐẢO TRÊN BIỂN

Luật La Mă ngày xưa quy định rằng Res nullius naturaliter fit primi occupantis”, có nghĩa là đối với vật vô chủ, quyền sở hữu thuộc về người chiếm hữu đầu tiên.Các đảo nổi lên trên biển (insula in mara nata) được coi là vật vô chủ (rex nullus), quyền sở hữu cũng thuộc về người chiếm hữu đầu tiên.

Nhưng quy định này đă đưa tới những tranh tụng không giải quyết được. Ví dụ Việt Nam cho rằng Việt Nam đă chiếm Hoàng Sa từ đời Nhà Lư hay Nhà Trần th́ Tàu lại đưa tài liệu khác chứng minh Tàu đă chiếm Hoàng Sa và Trường Sa từ thời ông Bàn Tổ, nên rất khó phân định. V́ thế Định Ước Berlin ngày 26.2.1885 đă đưa ra một số nguyên tắc chính được dùng dể chứng minh quyền sở hữu các đảo trên biển như sau:

(1) Chủ thể chiếm hữu phải là một quốc gia.

(2) Việc chiếm hữu phải thực hiện trong ḥa b́nh và đảo chiếm hữu phải thật sự vô chủ (rex nullus) hay đă bị bỏ (rex derelicto).

(3) Phải thực hiện chủ quyền liên tục và thật sự (exercise continuous and actual sovereignty) trên đảo đă chiếm.

Sau này, án lệ coi điều kiện thứ ba là quan trọng nhất. Năm 1898, Tây Ban Nha nhường lại Philippimes cho Mỹ, trong đó có đảo Palmas đă được Tây Ban Nha chiếm trước đây và có ghi vào bản đồ của Philippines. Những sau đó Mỹ lại khám phá ra Hà Lan đang thực hiện chủ quyền trên đảo Palmas. Mỹ liền nộp đơn kiện trước Ṭa Án Trọng Tài Thường Trực để đ̣i lại ḥn đảo này. Kết quả, trong phán quyềt ngày 23.1.1925, Ṭa tuyên bố đảo Palmas thuộc về Ḥa Lan v́ sau khi chiếm Tây Ban Nha không thực hiện chủ quyền thực sự và liên tục trên đảo Palmas, trái lại Hà Lan tuy đến chiếm sau nhưng đă thực hiện chủ quyền thực sự và liên tục trên đảo đó, nên Palmas được coi như thuộc quyền sở hữu của Hà Lan. Sau này Hà Lan đă giao lại đảo Palmas cho Indonesia.

Như vậy, việc thực hiển chủ quyền liên tục và thực sự (continuous and actual) trên hoang đảo là yêu tố pháp lư căn bản để chứng minh chủ quyền chứ không phải là việc chiếm trước hay chiếm sau, có ghi trên bản đồ hay không ghi.

 

DÙNG THUYẾT “VÙNG NƯỚC LỊCH SỬ”

Bài thuyết tŕnh của giáo sư Tô Hảo (Su Hao) ngày 20.6.2011 tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế ở Washington năm 2011 cho thấy Trung Quốc muốn dùng học thuyết “vùng nước lịch sử (historic water) trong quốc tế công pháp về luật biển cũ để chứng minh Biển Đông là “ao nhà” của Trung Quốc.

Vậy vùng nước lịch sử” là ǵ?

Nói một cách vắn tắt, “vùng nước lịch sử” là vùng biển mà một quốc gia đă chấp hữu qua nhiều thế hệ và trở thành vùng sống c̣n của quốc gia đó.

Từ lâu, “vùng nước lich sử” chỉ có trong học lư chứ không hề có trong Luật Biển. Năm 1951, Na Uy kiện Anh xâm nhập vùng đánh cá của Na Uy. Trong phán quyết ngày 18.12.1951, Toà Án Công Lư Quốc Tế (International Court of Justice) công nhận quyền sử hữu lịch sử(historic title) của Na Uy về vùng biển nằm sát Na Uy, và Anh không có quyền xâm phạm. Vùng này có bề ngang chưa đến 100 miles tính từ bờ biển Na Uy.

Mặc dầu Toà Án Công Lư Quốc Tế đă công nhận “vùng nước lịch sử(historic water) và “quyền sử hữu lịch sử (historic title), Luật Biển 27.4.1958  không hề nói đến “vùng nước lịch sử”.

Theo đề nghị của một số quốc gia, Hội Nghị LHQ về Luật Biển đă ra nghị quyết yêu cầu Đại Hội Đồng LHQ cho nghiên cứu về “chế độ pháp lư của vùng nước lịch sử(the juridical regime of historic waters), kể cả các “vịnh lịch sử” (historic bays).

Trong các cuộc họp về dự thảo Công Ước LHQ về Luật Biển từ năm 1973 đến năm 1982, Colombia đă yêu cầu đưa “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” vào dự thảo công ước, nhưng Ủy Ban Luật Quốc Tế LHQ không xét. Sở dĩ Ủy Ban đă quyết định không đưa chế độ “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” vào Công Ước LHQ, v́ cho rằng nó rất mơ hồ, có thể đưa tới nhiều vụ tranh tụng rắc rối. Cuối cùng, thay v́ công nhận “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử”, Ủy Ban đă nới rộng lănh hải của quốc gia ra đến 12 hải lư (thay v́ 3 hải lư như cũ) và đặt thêm vùng đặc quyền khai thác kinh tế đến 200 hải lư trong Luật Biển 1982. Như vậy chế độ “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” không c̣n trong luật biển.

Tuy nhiên, ngày 20.6.2011 đại diện của Trung Quốc lại viện dẫn học thuyết “vùng nước lịch sử” (historic water) đă bị hủy bỏ để chứng minh Biển Đông là “ao nhà” của Trung Quốc. Như vậy Trung Quốc đă viện dẫn một học thuyết không c̣n giá trị để chứng minh chủ quyền của ḿnh.

Vả lại, cho dù học thuyết “vùng nước lịch sử” c̣n có hiệu lực, Trung Quốc cũng không thể đưa ra được các bằng chứng cho thấy Trung Quốc đă hành xử chủ quyền của ḿnh liên tục và thực sự (continuous and actual) trong “Đường 9 Đoạn”  trong suốt tiến tŕnh lịch sử. V́ thế, phán quyết ngày 13.7.2015 của Ṭa Trọng Tài Thường Trực ở La Hay đă tuyên bố rằng “Đường 9 Đoạn” của Trung Quốc không có cơ sở pháp lư”.

 

NGỤY TẠO MỚI VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG

Bị Ṭa Trọng Tài Thường Trực La Hay bác bỏ “Đường 9 Đoạn”, Trung Quốc đi t́m một căn bản pháp lư khác để lấp liếm, đó “Quốc gia quần đảo(Etat archipel) và đường cơ sở bao ṿng quanh nhóm quần đảo đó, được quy định trong Luật Biển 1982. Có 3 vấn đề được Trung Quốc nại ra:

(1) Tạo dựng ra nhóm Từ Sa và coi đó là “Quần đảo quốc gia” của Trung Quốc.

(2) Dùng đường cơ sở quanh 4 nhóm đảo thuộc Tứ Sa làm ranh giới.

(3) Đ̣i vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lư choTứ Sa.

Cả ba yêu sách này đều trái với quốc tế công pháp về luật biển.

 

1.- Vấn đề “Quốc gia quần đảo

Luật Biển 1982 đă dành Phần IV, từ điều 44 đến điều 54 để nói về “Quốc gia quần đảo” (Etat archipel). Điều 46 quy định rất rơ: Quốc gia quần đảo” là một quốc gia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay nhiều quần đảo và có khi bởi một số ḥn đảo khác nữa.”

Trên thế giới có rất nhiều “Quần đảo quốc gia” rất quen thuộc với nhiều người, chẳng hạn như Úc, Brunei, Cuba, Nhật Bản, New Zealand, Philippines, Sri Lamka… Đó là những quốc gia độc lập có chủ quyền được cấu tạo bằng các nhóm đảo nổi trên biển. Nay Trung Quốc đă gom bốn quần đảo trên Biển Đông lại là Đông Sa (Đài Loan), Tây Sa (Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa) Trung Sa (băi cạn Macclesfield) thành một nhóm quần đảo và gọi đó là “Quần đảo quốc gia Tứ Sa”. Như vẫy Trung Quốc đă h́nh thành một quốc gia mới trong quốc gia Trung Quốc!

Sự h́nh thành này hoàn toàn trái với Luật Biển 1982 và không được quốc tế công nhận, nên không thể đ̣i hỏi các quyền lợi pháp lư như các “Quần đảo quốc gia” khác trên thế giới được.

 

2.- Đường cơ sở quanh Tứ Sa

Điều 47 Luật Biển 1982 đă quy định rất kỹ về đường cơ sở (baselines) của các Quần đảo quốc gia. Khoản 1 của điều 47 cho phép một quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối liền các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các băi đá lúc ch́m lúc nổi của quần đảo… Nhưng Tứ Sa không phải là một Quần đảo quốc gia theo định nghĩa của điều 46 Luật Biển, nên Trung Quốc không thể tự ư vẽ ra một đường cơ sở gióng các Quần đảo quốc gia thứ thiệt được.

 

3.- Vùng đặc quyền kinh tế 200 hảI lư

Phán quyết ngày 13.7.2015 của Ṭa Trọng Tài Thường Trực La Hay đă xác định rằng các đảo trên Biển Đông đều là đảo đá, không có sự sống tự nhiên, nên không có đặc quyền kinh tế 200 hải lư như các đảo có sự sống tự nhiêu khác được quy định trong Luật Biển. Với quốc tế công pháp, án lệ được coi như luật nên Trung Quốc không thể chống lại phán quyết này của Ṭa.

 

PHÁP LƯ” MỚI CỦA TRUNG QUỐC CŨNG BỎ ĐI

Ông Michael Pillsbury, thuộc Hudson Institute và là Giám đốc Center for Chinese Strategy, nhận định rằng yêu sách về pháp lư trên đây của Trung Quốc là một trong «Tam chủng chiến pháp» do Quân ủy Trung ương đưa ra từ năm 2003, gồm tâm lư chiến, chiến tranh thông tin và chiến tranh pháp lư.

C̣n hai chuyên gia về công pháp quốc tế Julian Ku và Christopher Mirasola trên trang Lawfare - một trang chuyên về an ninh do Lawfare Institute và Brooking Institution thực hiện, với sự hợp tác của nhiều luật gia – đă đi đến kết luận rằng về mặt pháp lư, lư lẽ về «Tứ Sa» của Trung Quốc cũng chẳng hơn ǵ so với “Đường lưỡi ḅ” lâu nay. Theo hai ông, lư lẽ về «Tứ Sa» không mấy vững, thậm c̣n chí yếu hơn cả “Đường 9 Đoạn”!

 

Ngày 5.10.2017

 

Lữ Giang