www.motgoctroi.com mến chào bạn

RA LỆNH ĐẢO CHÍNH

Nguyễn Cần bút hiệu Tú Gàn

 

Trong tuần này chúng tôi xin đề cập đến một vấn đề đă từng gây tranh luận sôi nổi, đó là lệnh đảo chánh lật đổ ông Diệm đă được Washington ban hành ngày 24.8.1963 dưới h́nh thức một công điện mang tên Deptel 243. Tuy nhiên, trước khi tŕnh bày vấn đề này, chúng tôi xin xác định rằng chúng tôi không viết bài này để bênh vực cho ông Diệm hay bôi đen ông Diệm như một số người đang làm. Chúng tôi chỉ cố gắng tŕnh bày những sự thật lịch sử để rút kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh của chúng ta hiện nay và cho các thế hệ kế tiếp. Những sự thật đó có  thể làm cho nhiều người cảm thấy ông Diệm đen hơn hay trắng hơn, nhưng đó không phải là mục tiêu của chúng tôi.
 

COI MIỀN NAM NHƯ THUỘC ĐỊA MỸ

Cảm tưởng đầu tiên của chúng tôi khi đọc Công Điện mang số Deptel 243 và các tài liệu tiếp theo của chính phủ Hoa Kỳ là Washington đă coi miền Nam như là một thuộc địa của Mỹ.   Nước Pháp ngày xưa khi đến đô hộ miền Nam và “bảo hộ” miền Bắc và Miền Trung Việt Nam đều có kư hiệp ước với Triều Đ́nh Huế. Đến năm 1887, Pháp hợp Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Cao Miên lại thành Liên Bang Đông Dương (Union Indochinoise) do một Toàn Quyền Đông Dương (Gouverneur Général de l’Indochine) ở Hà Nội cai trị và đặt dưới quyền của Bộ Thuộc Địa (Minstère des Colonies).

Các quan lại ở tỉnh đều đặt trực thuộc một Công Sứ
(Résident) Pháp.  Đầu năm 1956, do áp lực của Mỹ, Pháp đă phải kư thỏa ước với Việt Nam rút hết Quân Đội Pháp khỏi miền Nam trước ngày 30.6.1956. Nhưng đến ngày 25.4.1956, Quân Đội Pháp đă rút hết khỏi miền Nam. Ngày 26.4.1956 Pháp tuyên bố băi bỏ chức Cao Ủy Đông Dương và ngày 28.4.1955 tuyên bố giải tán Bộ Tư Lệnh Pháp tại Đông Dương. Người Mỹ âm thầm vào thay Pháp.

Tuy chính phủ Mỹ không hề kư với các chính phủ Việt Nam một hiệp ước nào về “quyền bảo hộ” như chính phủ Pháp đă kư trước đây, nhưng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đă tự động biến thành Bộ Thuộc Địa để áp đặt mọi chính sách và đường lối lên trên miền Nam và Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n nghiễm nhiên trở thành Toàn Quyền Đông Dương hay Cao Ủy Mỹ tại Đông Dương, thường được người Việt gọi là “Quan Thái Thú”. Các Lănh Sự Mỹ ở tỉnh cũng đóng vai tṛ của các Công Sứ Pháp. Một số tướng lănh miền Nam đă t́nh  nguyện làm lính Khố Xanh
(Gardes Indigènes) hay lính Khố Đỏ (Tiraillrers) cho Mỹ. Trạm CIA (CIA Station) của Mỹ tại Sài G̣n đă hoạt động gióng hệt Sở Mật Thám hay Sở Liêm Phóng Đông Dương (Service de Sûreté Généralle de l’Indochine) của Pháp ngày xưa! Chúng tôi xin nhắc lại: Năm 1963, khi tiếp Đại Sứ Frederick Nolting, ông Diệm có nói: “Chúng tôi không muốn trở thành một xứ bảo hộ của Hoa Kỳ.”
 

TẠO LƯ DO ĐỂ RA LỆNH ĐẢO CHÁNH

Như chúng tôi đă nói ở số trước, nhân vụ Phật Giáo xẩy ra ở Huế, các viên chức t́nh báo Mỹ đă sắp xếp vụ tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức vào ngày 11.6.1963, sau đó ngày 18.8.1963 bảo một số tướng lănh Việt Nam vào Dinh Gia Long xúi ông Diệm ban hành lệnh giới nghiêm, lục xét các chùa và bắt các tăng ni..., để đưa sự căng thẳng của t́nh h́nh lên cao độ, rồi ngày 24.8.1963 ra lệnh đảo chánh. Kế hoạch xúi giục ông Diệm ban hành lệnh giới nghiêm và xét chùa này đă được nghiên cứu rất tinh vi nên ông Diệm không thể không trúng kế được.

Sau khi thực hiện xong vụ xét chùa ở Sài G̣n, Tướng Tôn Thất Đính có làm một báo cáo chi tiết gởi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, c̣n một số tướng lănh Việt Nam đă đến tŕnh cho các “Quan Thầy”. Tướng Trần Văn Đôn tŕnh cho đại diện CIA ở Sài G̣n và Tướng Harkins, Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Viện Trợ Quân Sự Mỹ tại Việt Nam
(MACV). Tướng Lê Văn Kim đến mách với ông Rufus Phillips, Giám Đốc cơ quan USOM, và Tướng Trần Thiện Khiêm báo cáo cho Trưởng Lưới CIA Lucien Conein. Ngoài ra, c̣n có nhiều báo cáo riêng của CIA.

Những tài liệu này gồm vài trăm trang, chúng tôi chỉ xin tóm lược những nét chính. Chiều ngày 18.8.1963, 10 tướng đă về họp tại Bộ Tổng Tham Mưu để bàn về t́nh h́nh: Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Đỗ Cao Trí, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, Mai Hữu Xuân, Nguyễn Ngọc Lễ, Lê Văn Kim và Dương Văn Minh
(c̣n tên một tướng chưa được giải mă). Trong số các tướng này, có cả những tướng đang bất b́nh với ông Diệm và muốn ông Diệm sụp đổ càng nhanh càng tốt, như Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân và Nguyễn Ngọc Lễ.

1.- Ai đă triệu tập cuộc họp này? Báo cáo của trạm CIA ở Sài G̣n vào lúc 6 giờ 45 chiều ngày 24.8.1963 nói rằng Tướng Đôn không cho biết ai đă triệu tập cuộc họp chiều 18.8.1963. Nhưng ai cũng biết chỉ có Tướng Khiêm mới triệu tập được cuộc họp này, v́ lúc đó Tướng Khiêm đang làm Tham Mưu Trưởng Liên Quân, vừa được ông Diệm cử Xử Lư Thường Vụ Tổng Tham Mưu Trưởng thay thế Tướng Lê Văn Tỵ được Mỹ đưa qua Hoa Kỳ chữa bệnh vào ngày 27.7.1963 v́ ung thư phổi. Đây là một phương cách tạo sự vắng mặt của Tướng Tỵ cho các tướng của CIA đễ dàng thực hiện kế hoạch được đưa ra.

Theo Tướng Trần Văn Đôn, đáng lẽ ông Diệm phải cử ông hay Tướng Dương Văn Minh giữ chức vụ Qưyền Tổng Tham Mưu Trưởng, nhưng ông Diệm đă cử Tướng Trần Thiện Khiêm, v́ tin Tướng Khiêm hơn ông. Tướng Đôn cũng đă từng cho biết, trong cuộc đảo chánh ngày 11.11.1960, Đại Tá Khiêm đă đưa quân về Sài G̣n chống đảo chánh theo lệnh của ông Diệm và trong lúc mới đến Sài G̣n, Đại Tá Khiêm có tiếp xúc với Đại Sứ Mỹ và Tướng Mỹ McGarr, người cầm đầu MACV, hai nhân vậy Hoa Kỳ này không hoàn toàn ủng hộ ông Điệm, nhưng khuyên 
“không nên lật đổ hẵn ông Diệm, chỉ cho ông ấy một bài học như thế là đủ rồi.” Sự kiện này cho thấy Tướng Khiêm đă hành động theo lệnh của Mỹ. Sau cuộc họp nói trên, phái đoàn tướng lănh do Tướng Trần Văn Đôn cầm đấu, đă đến gặp ông Ngô Đ́nh Nhu ở Dinh Gia Long yêu cầu áp dụng các biện pháp mạnh để ổn định t́nh h́nh.

2.- Có dấu hiệu đáng nghi ngờ: Nh́n thành phần các tướng lănh đến đề nghị biện pháp cứu chế độ, ông Nhu đă tỏ vẻ nghi ngờ ngay. Ông bảo các tướng muốn ǵ th́ về viết tờ tŕnh Tổng Thống. Ông Nhu tỏ vẻ nghi ngờ là đúng:

- Đại Tướng Dương Văn Minh, ngoài tội biển thủ vàng tịch thu được của B́nh Xuyên, c̣n để cho người em ruột là Thiếu Tá VC Dương Văn Nhựt từ Bắc vào Nam qua ngă Cam-bốt, ẩn nấp trong nhà Tướng Minh để hoạt động, nên ông Diệm phải cho Tướng Minh ngưng giữ chức Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Hành Quân và về làm Cố Vấn Quân Sự Phủ Tổng Thống, một chức vụ ngồi chơi xơi nước. 

- Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân lúc đầu rất được ông Diệm tin cậy, nhưng khi được cử làm Tư Lệnh Miền Đông để dẹp phiến loạn, đă lợi dụng quyền hành, bán các rừng miền Đông cho Ba Tàu khai thác gỗ nên bị đưa về làm Giám Đóc Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.  

- Thiếu Tướng Lê Văn Kim khi làm Chánh Văn Pḥng cho ông Hồ Thông Minh, Tổng Trưởng Quốc Pḥng, đă cố vấn cho ông Minh đứng ra lệnh cho Quận Đội dẹp loạn B́nh Xuyên, nên không được ông Diệm tin dùng, và chỉ cho làm Chỉ Huy Trưởng Trường Vơ Bị Quốc Gia.
- Năm 1955, Tướng Nguyễn Ngọc Lễ, một người rất được ông Diệm tín nhiệm, đă được cử làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát và Công An thay thế Lai Văn Sang của B́nh Xuyên. Nhưng mới làm được một thời gian ngắn, bị Trần Bá Thành gài “ghế” nên bị mất chức. 

 

Với những thành phần đang bất măn với chế độ như thế này mà kéo nhau tới bàn biện pháp “cứu chế độ”, quả thật đáng nghi ngờ!

3.- Ông Diệm bị trúng kế: Ngày 20.8.1963, Tướng Trần Văn Đôn và các tướng khác đă đem vào cho ông Nhu một thỉnh nguyện thư có chữ kư của các tướng lănh yêu cầu ban hành t́nh trạng giới nghiêm và kế hoạch hành quân lục xét các chùa, bắt các tăng sĩ đến từ ngoài Sài G̣n về lại các tỉnh và chùa của họ.  Ông Nhu bảo họ vào thảo luận với Tổng Thống. Ông không hiện diện trong cuộc thảo luận này. Các tướng có mặt trong cuộc thảo luận đó gồm có Trần Thiện Khiêm, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Khánh, Tôn Thất Đính (gần một hàng chưa được giải mă) Trần Văn Đôn Lê Văn Kim.  Tướng Đôn cho biết khi gặp Tổng Thống, các tướng nói với Tổng Thống rằng tinh thần của quân đội đang xấu hơn (detoriorating) và trong thực tế họ sợ rằng một đồn quân sự ở trong t́nh trạng gần như đào ngũ (near state of desertation). Các tướng nói rằng vợ các binh sĩ và các sĩ quan trẻ đang tức giận. Họ giải thích cho Tổng Thống t́nh h́nh như là quân đội thấy họ phải đối đầu với Phật Giáo. Tướng Đôn xác nhận ông nói với Tổng Thống rằng vụ 8 tháng 5 ở Huế có thể được giải quyết, nhưng Việt Cộng đă xâm nhập vào Phật Giáo trong chùa Xá Lợi (Don claims he told Diem that 8 May in Hue could have been settled but that the VC has penetrated Buddhists in Xa Loi Pagoda.)

Tướng Đôn kể lại các chiến thuật được dùng trong cuộc biểu t́nh ngày 11 tháng 8 khi Thích Tâm Châu diễn thuyết trước đám đông tại chùa Xá Lợi. Tâm Châu đă làm say mê đám đông với các câu hỏi như là
“chúng ta sẽ xuống đường”? Đàm đông đă trả lời “vâng”. Đột nhiên Tâm Châu nói “không, chúng ta không xuống đường. Sự việc quư vị nói quư vị sẽ xuống đường cũng gióng như quư vị đang xuống đường.” Tướng Đôn cảm thấy rằng cái ông sư nói tiếng Anh, Thích Đức Nghiệp, rất là nguy hiểm và các tướng sợ rằng nếu các nhà lănh đạo tập họp được một đám đông lớn, họ có thể ra lệnh đi tới Dinh Gia Long và quân đội không thể ngăn chặn họ. H́nh như các tướng đến gặp ông Diệm để bàn kế hoạch xét chùa hôm đó đă học thuộc ḷng những lời lẽ được soạn sẵn mà họ sẽ đưa ra để thuyết phục ông Diệm, v́ theo khả năng, họ khó nói được những lời đó một cách lưu loát như vậy.

Tướng Đôn cho biết, theo sự khuyến cáo của các tướng lănh, Tổng Thống đă quyết định ban hành t́nh trạng giới nghiêm
(martial law). Ông Diệm quyết định đưa quân đội vào chiếm các điẻm chiến lược ở Sài G̣n - Chợ Lớn và chấp nhận khuyến cáo đưa các nhà sư từ ngoài Sài G̣n về lại các tỉnh và chùa của họ. Tuy nhiên, ông Diệm nhấn mạnh không ai được động đến các nhà sư (President insisted however that none of the brozes be hurt).

Chiều 20.8.1963 Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă ban hành Sắc Lệnh số 84/TTP
“tuyên bố t́nh trạng giới nghiêm trên toàn lănh thổ Việt Nam kể từ ngày công bố Sắc Lệnh này cho đến khi có lệnh mới”
- (Điều 1).

- Điều 2 quy định: “Luật lệ nào xét ra cần ngưng thi hành sẽ được tuyên bố tạm đ́nh chỉ áp dụng.”

- Điều 3 nói rất rơ: “Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa chịu trách nhiệm hoàn toàn về an ninh công cộng, và để đạt tới mục đích ấy, có quyền trong suốt thời gian giới nghiêm, xét các tư gia bất cứ lúc nào, bắt giữ những người xét có hại cho  an ninh công cộng, v.v.

4.- Công việc xét chùa: Sau khi có lệnh giới nghiêm, quyền bảo vệ an ninh trật tự trên toàn quốc được chuyển giao từ nhà chức trách hành chánh (tỉnh và thị trưởng) qua nhà chức trách quân sự với chức vụ Tổng Trấn (Governor).

- Tại Đô Thành Sài G̣n, Tướng Tôn Thất Định, Tư Lệnh Quân Đoàn III kiêm Tổng Trấn Sài G̣n - Gia Định.

- Tại Thừa Thiên - Huế, Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 là Tổng Trấn Thừa Thiên - Huế.

V́ sợ bị tiết lộ, các cuộc xét chùa đă được thực hiện ngay trong đêm 20 rạng ngày 21.8.1963 và do các Tổng Trấn đích thân chỉ huy. Có tất cả 14 chùa trên toàn quốc đă bị xét, đa số ở Sài G̣n và Huế. Lực lượng được xử dụng là Cảnh Sát, Bảo An và Quân Đội. Mặc dầu quyền bảo vệ an ninh và trật tự được chuyển qua quân đội, nhưng theo luật, chỉ có cảnh sát tư pháp mới có quyền xét hỏi, lập vi bằng và bắt giữ các nghi can. Quân đội chỉ yểm trợ chứ không có quyền thực hiện các hành vi đó.

Công cuộc xét chùa tại Sài G̣n do Tướng Tôn Thất Đính đích thân chỉ huy gồm các lực lượng sau đây: 2 đại đội thuộc Liên Đoàn 31 của Lực Lượng Đặc Biệt, một Đại Đội 16 Bảo An và Lực Lượng Cảnh Sát của Cảnh Sát Quốc Gia. Việc lục xét bên trong đều do cảnh sát phụ trách đúng theo luật. Các lực lượng khác chỉ yểm trợ bên ngoài. Tướng Trần Văn Đôn c̣n cho biết thêm Quân Đội đă xử dụng một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến và một tiểu đoàn Dù bảo vệ ṿng ngoài.

Tuy lệnh xét chùa được đưa ra bất ngờ, nhưng CIA đă báo cho các chùa sắp bị tấn công biết trước để lập hệ thống pḥng thủ chống lại Cảnh Sát. Tại hai chùa Xá Lợi và Ấn Quang ở Sài G̣n và chùa Từ Đàm ở Huế, Cảnh Sát phải dùng lựu đạn cay mới giải tỏa được và bị thương khá nhiều. Trong Phiếu Tŕnh mang số 0289/QĐIII/VPTL ngày 22.8.1963 gởi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, Tướng Tôn Thất Đính cho biết số tăng ni và thường dân bị bắt:
292 sư săi và 197 ni cô; 73 nam Phật tử và 31 nữ Phật tử; 128 nam học sinh và 5 nữ học sinh. Tổng số bị bắt là 728 người.

Nhân viên an ninh khám phá ra tại bức tường ngăn giữa chùa Xá Lợi với cơ quan USOM của Mỹ ở phía sau có một lổ lớn đă được đục sẵn và được che bằng một cái tủ chè. Nhân viên an ninh tin rằng Thượng Tọa Thích Trí Quang và một cảnh sát bị sa thải đội lốt nhà sư mang tên Thích Nhật Thiện đă chiu lỗ này qua cơ quan USOM rồi từ đó được đưa tới Ṭa Tại Sứ Hoa Kỳ ở đường Hàm Nghi, nhưng các viên Hoa Kỳ đă phủ nhận chuyện này.

Một điều đă làm Tướng Đôn lo lắng là Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ loan tin Quân Đội VNCH lục xét các chùa và bắt các sư săi. Điều này sẽ làm mất uy tín của Quân Đội. V́ thế, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đă công khai chỉ thị cho Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài G̣n cải chánh, bảo đổ tội cho Ngô Đ́nh Nhu, Cảnh Sát và Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung. Chúng tôi sẽ trở lại tṛ ma giáo này sau.

Tin chính phủ Ngô Đ́nh Diệm cho lục xét các chùa và bắt các sư săi được các kư giả Mỹ loan đi gây xúc động trên thế giới, nhất là tại các quốc gia Phật Giáo. Dựa vào đó, ngày 24.8.1963, Washington ra lệnh làm đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm.
 

NHÓM CHỦ TRƯƠNG ĐẢO CHÁNH

Trong cuốn hồi kư “In Retrospect, Tragedy and Lesson of Vietnam”, ở Chương IIIù, dưới tiêu đề “The Fateful Fall of 1963” (Mùa Thu Định Mệnh Năm 1963), từ 24 tháng 8 đến 22.11.1963, ông Robert S. McNamara đă tŕnh bày khá rơ ràng về quyết định của Washington lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm. Ông viết:

“Khi báo cáo về t́nh trạng xáo trộn tới tấp gởi về Hoa Thịnh Đốn vào ngày 24 tháng 8, các nhân viên có nhiệm vụ ứng trực nhận thấy rằng cơ hội để có hành động chống lại ông Diệm đă đến. Trong đêm đó Hoa Kỳ đă đề ra một kế hoạch đảo chánh, một hành động trong số những hành động quan trọng nhất của hai trào Tổng Thống Kennedy và Johnson.  “Người khởi xướng hành động này là Roger Hilsman, nhân vật kế nhiệm Averell Harriman, giữ chức Phụ Tá Ngoại Trưởng đặc trách Viễn Đông Vụ. Hilsman là một người thông minh, hay tự ái và thích nói nhiều, tốt nghiệp trường vơ bị West Point, từng có kinh nghiệm về du kích chiến trong thời Đệ Nhị Thế Chiến và khá am tường về t́nh h́nh. Ông này cho rằng cuộc chiến không thể thắng được nếu c̣n ông Diệm, v́ thế phải t́m cách gạt ông ta ra."

“Sau khi Roger Hilsman hoàn thành bức công điện, trong ngày 24 tháng 8, Averell Harriman, người vừa được trở thành Thứ Trưởng Ngoại Giao Đặc Trách Về Chính Trị Vụ, chấp thuận ngay. Michael Forrestal, con của Bộ Trưởng Quốc Pḥng đầu tiên và là một thành viên của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, đă gởi ngay công điện đó cho Tổng Thống Kennedy đang ở Hyamis Port, nói “
Đă được sự chấp thuận của Ball (George Ball, Thứ Trưởng Ngoại Giao) và Bộ Quốc Pḥng... Đề nghị cho tôi biết nếu Tổng Thống muốn... hoản hành động.”

“Bức công điện của những người chủ trương được quyết định gởi cho Sài G̣n ngay trong ngày hôm đó. Họ gặp ông George Ball ở sân golf và yêu cầu ông gọi cho Tổng Thống ở Cap Cod. Ông Ball đă gọi và Tổng Thống Kennedy trả lời rằng ông đồng ư công điện gởi đi nếu các cố vấn của ông cũng đồng ư như vậy. Ông Ball liền gọi cho Ngoại Trưởng Dean Rusk tại New York báo tin Tổng Thống đă chấp thuận. Ngoại Trưởng Rusk tán thành mặc dầu ông ta không nhiệt t́nh. Trong khi đó, Harriman t́m cách để được sự đồng ư của CIA. Bởi v́ ông John McCone
(Giám Đốc CIA) vắng mặt, ông ta nói chuyện với ông Richard Helms, Phó Giám Đốc. Helms miễn cưởng (reluctant), nhưng, cũng như Ngoại Trưởng Rusk, ông đi theo v́ Tổng Thống đă đồng ư như vậy.”

 

NGUYÊN VĂN LỆNH ĐẢO CHÁNH

Lệnh đảo chánh mang tên DEPTEL 243, c̣n được gọi là “Department Telegram or Telegram 243” hay gọi tắt là Cable 243, gởi cho Đại Sứ Cabot Lodge ở Sài G̣n . Toàn văn công điện này v́ mới được giải mă ngày 20.4.1998 dưới số JFK 177-10001-10454 nên toàn văn chưa được công bố trong bộ Vietnam Relations of the United States của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Chúng tôi xin tạm dịch toàn văn công điện này.

Bức điện mở đầu bằng sự lên án các hành động của ông Ngô Đinh Nhu và coi ông Nhu như một cái cớ, một cái mũi dùi để mở cuộc tấn công chính phủ Ngô Đ́nh Diệm:
 

“Rơ ràng là cho dù giới quân sự có đề nghị thiết quân luật hay Nhu đă lừa họ làm vậy, Nhu đă lợi dụng chuyện này để tấn công các chùa chiền với cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của Tung (Đại Tá Lê Quang Tung) trung thành với ông ta, điều đó đặt trách nhiệm (onus) lên trên quân đội trong con mắt của thế giới và dân chúng Việt Nam. Cũng rơ ràng là chính Nhu đă âm mưu nắm quyền lănh đạo. 

 

“Chính phủ Hoa Kỳ không thể chấp nhận t́nh trạng Nhu nắm quyền. Diệm phải được cho cơ hội để loại bỏ Nhu và nhóm của ông ta (his coterie) và thay thế họ bằng những nhân vật quân sự và chính trị tốt nhất sẵn có. Nếu, mặc dầu đă có tất cả những cố gắng của quư ông, Diệm vẫn tỏ ra ngoan cố và từ chối, lúc đó chúng ta phải đối phó với khả năng chính Diệm không có thể được duy tŕ.  Bây giờ chứng ta tin rằng phải có những hành động ngay lập tức để ngăn ngừa Nhu củng cố vị thế của ông ta xa hơn. V́ thế, trừ khi trong khi tham khảo với Harkins ông nhận được những sự phản đối quyết liệt, ông được quyền tiến hành những đường lối sau đây:

(1) Trước hết, ông phải áp lực trên các cấp bậc thích hợp của Chính Quyền Việt Nam điểm sau đây:

(a) Chính Phủ Hoa Kỳ không thể chấp nhận các hành động chống lại Phật Giáo do Nhu và các cộng sự của ông ta thực hiện nấp dưới lệnh giới nghiêm.
(b) Mọi hành động bi thảm tạo nên t́nh h́nh phải được chấm dứt, bao gồm cả việc hủy bỏ dụ số 10, phóng thích các tăng ni đă bị bắt, v.v.


(2) Cùng một lúc chúng ta cũng phải nói với các nhà lănh đạo quân sự then chốt rằng Hoa Kỳ nhận thấy không thể tiếp tục ủng hộ Chính Phủ Việt Nam về quân sự và kinh tế trừ khi các biện pháp nói trên được thi hành ngay, trong đó chúng ta yêu cầu phải loại Nhu ra khỏi chức vụ. Chúng ta muốn cho Diệm một cơ hội vừa phải để loại bỏ Nhu, nhưng nếu ông ta vẫn cứ ngoan cố, lúc đó chúng ta phải chuẩn bị để chấp nhận sự hàm ư rằng chúng ta không thể ủng hộ Diệm nữa. Ông cũng nên nói với các nhà lănh đạo quân sự thích hợp rằng chúng ta sẽ dành cho họ sự ủng hộ trực tiếp trong bất cứ giai đoạn chuyển tiếp nào sau khi phá đổ guồng máy chính quyền trung ương.


(3) Chúng ta công nhận sự cần thiết phải loại bỏ vết dơ trên quân đội trong việc tấn công các chùa và đặt điều tai tiếng đó cho chính Nhu. Ông được quyền đưa ra lời tuyên bố đó tại Sài G̣n khi ông nhận thấy thích hợp cho việc hoàn thành mục tiêu này. Ở đây chúng tôi cũng đă soạn thảo về những điểm như thế và ra lệnh cho Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ đưa ra lời tuyên bố những điểm tương tự được ghi trong điện tín gần đây bất cứ lúc nào ông đưa ra lời tuyên bố thích hợp càng sớm càng tốt.  Song song với điều trên, ông Đại Sứ nên cùng với đồng sự xét xem gấp tất cả những người có thể lănh đạo khác và phác thảo một kế hoạch chi tiết làm thế nào để chúng ta có thể thay thế Diệm nếu điều này trở nên cần thiết.

 

”  Mong ông tham khảo với Tướng Hatkins về những đề pḥng cần thiết để bảo vệ cá nhân người Mỹ trong giai đoạn có cuộc khủng hoảng. Ông sẽ hiểu rằng chúng tôi không thể từ Washington cho ông những chỉ thị chi tiết như làm thế nào để hoạt động này có thể được xúc tiến, nhưng ông cũng biết rằng chúng tôi sẽ yểm trợ ông hoàn toàn (we will back up you to the hilt) và các hành động mà ông thực hiện để hoàn thành mục tiêu của chúng ta.  Cần phải nói rằng chúng tôi giữ cho sự biết đến bức điện tín này trong những người chính yếu tối thiểu và mong rằng ông cũng thận trọng như vậy để tránh những sự tiết lộ sớm.

 

NHỮNG GIAN TRÁ CỦA CÔNG ĐIỆN

Có thể nói đây là một công điện xảo trá về cả h́nh thức lẫn nội dung.

1.- Gian trá về h́nh thức:

Mặc dầu là một văn kiện rất quan trọng nói lên chính sách của một quốc gia đối với một quốc gia, nhưng nó không được đưa ra thảo luận trước khi quyết định. Nó được soạn sẵn rồi thông báo cho Tổng Thống!   Người kư công điện gởi đi không phải là Ngoại Trưởng Dean Rusk mà là Thứ Trưởng Ngoại Giao George Ball. Dưới trang đầu có ghi rơ công điện này do Roger Hilsman Jr., Phụ Tá Ngoại Trưởng đặc trách Viễn Đông Vụ soạn thảo, và được Averell Harriman, Thứ Trưởng Ngoại Giao Đặc Trách Về Chính Trị Vụ chấp thuận. Công điện đă được Hilsman, Forrestal và Ball thông qua.

Trong cuốn hồi kư “Swords and Plowshares", Đại Tướng Maxwell D. Taylor, Chủ Tịch Ban Tham Mưu Liên Quân thời Tổng Thống Kennedy, cho biết khi t́nh h́nh lộn xộn xẩy ra tại Sài G̣n, một nhóm hoạt động chống Diệm
(a small group of anti-Diem activists) đă nắm lấy cơ hội, xử dụng “mánh mung lẫn tránh” (end run) để vượt qua bằng cách soạn thảo một cách vội vàng một công điện tối quan trọng đối với Sài G̣n không cần có sự đồng ư thông thường của Bộ.

2.- Lư do viện dẫn để ra lệnh đảo chánh:

Công điện bảo rằng “không thể chấp nhận các hành động chống lại Phật Giáo do Nhu”, nhưng như chúng tôi đă tŕnh bày ở trên: Chính cơ quan t́nh báo Hoa Kỳ đă lợi dụng vụ Phật Giáo, đưa ra các biện pháp ma giáo như vụ Ḥa Thượng Quảng Đức và xét chùa để làm cho t́nh h́nh trở nên nghiêm trọng hơn rồi căn cứ vào đó ra lệnh đảo chánh. Tất cả đều co CIA tạo ra.

Về mục tiêu đấu tranh của Phật Giáo, CIA cũng đă nhận ngay ra từ đầu: Cuộc tranh đấu đó nhắm mục tiêu chính trị chứ không phải tôn giáo. Trong một công điện đề ngày 17.8.1963, trước ngày lục xét các chùa,
(mới được giải mă), Trạm CIA tại Sài G̣n đă báo cho CIA trung ương biết như sau:

“Các lănh đạo Phật Giáo rất lạc quan rằng Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm có thể bị lật đổ trong 6 tháng và được tổ chức cho một cuộc tranh đấu trong nhiều tháng. (Buddhist leaders were optimistic that president Ngo Dinh Diem could be overthrown within six monts and were organized for a struggle of several monts). Các tăng ni được chỉ thị về các vấn đề chính trị và việc tổ chức các học sinh trung học và sinh viên đại học đă được nhấn mạnh.

Thích Thiện Minh, Phó Chủ Tịch Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam
(GAVB) tại Trung Phần, Việt Nam, và Thích Trí Quang, Chủ Tịch GAVB ở Trung Phần, cả hai mạnh mẽ chống trung lập, đă soạn thảo một danh sách sơ khỏi những ngưới họ muốn thấy có mặt trong chính phủ nếu ông Diệm bị lật đổ, trong đó có cả Phan Khắc Sửu...” (a tentative list of men who they would like to see in the goverment if Diem were overthrown, it included Phan Khac Sưu...).  Với công điện này, CIA đă nhận ra rằng nhóm Phật Giáo đấu tranh có nhiều tham vọng chính trị, đang nấp dưới danh nghĩa tôn giáo và dùng bạo loạn để cướp chính quyền, nhưng CIA cứ phớt lờ đi, đợi lật xong ông Diệm rồi thanh toán sau.
 

3.- Lư do đích thực của cuộc đảo chánh được che giấu:

Ông Frederick Nolting, cựu Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Ḥa, ghi rơ trong cuốn “From Trust to Tragedy” như sau:

“Âm mưu “trung lập hóa” Lào của ông ta (Harriman) là một sự thất bại thê thảm, và sự thù nghịch ngày càng gia tăng của ông với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và gia đ́nh của ông ta, trở thành một yếu tố chủ yếu trong việc lật đổ ông Diệm. Tuy nhiên, thanh thế và ảnh hưởng của Harriman ở Washington lớn đến nổi trở thành quyết định trong các hành động cốt yếu mà chính phủ chúng ta đă thực hiện trong năm 1963.”


4.- Ra lệnh cho Ṭa Đại Sứ nói dối:

Mặc dầu cuộc lục xét 14 chùa trên toàn quốc trong đêm 20 rạng ngày 21.8.1963 đều do các tư lệnh quân đội tại địa phương chỉ huy trực tiếp, các đơn vị quân đội được dùng để yểm trợ..., Trong công điện nói trên, Bộ Ngoại Giao đă chỉ thị cho Đại Sứ Lodge ở Sài G̣n phải đặt điều tai tiếng đó cho chính Nhu (and placing blame squarely on Nhu). Bộ Ngoại Giao đă soạn sẵn lời cải chánh và cùng một lúc vừa gởi cho ông Lodge vừa gởi cho đài VOA để khi ông Lodge lên tiếng tại Sài G̣n th́ đài VOA cũng đưa ra đọc!
 

NHỮNG NGÀY KHỦNG HOẢNG

Sau khi công điện ra lệnh đảo chánh được gởi đi, nhiều cuộc họp liên tục đă được tổ chức tại Ṭa Bạch Ốc để tranh luận xem có nên tiếp tục tổ chức đảo chánh hay không. Nhưng Harriman đă dùng thanh thế của ḿnh để áp đảo và sự quyết tâm lật đổ ông Diệm của Đại Sứ Lodge đă làm cho t́nh h́nh không thể, tạo ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng cho vai tṛ của Tổng Thống Kennedy.

Nhiều tài liệu mới được giải mă sẽ giúp chúng ta biết rơ sự thật hơn. Đây là vấn đề sẽ được chúng tôi trở lại trong một nhịp khác.

Tú Gàn