|
♠
www.motgoctroi.com
mến chào bạn
Trở lại chuyện bán
đất
Lữ Giang
Trong cuộc hội thảo
được tổ chức tại
Trung Tâm Nghiên Cứu
Chiến Lược Quốc Tế ở
Washington trong hai
ngày ngày 20 và
21.6.2011, các
chuyên gia và luật
gia đă lưu ư Trung
Quốc rằng phải dùng
các yếu tố luật định
để chứng minh
quyền sử hữu chấp
hữu
(possessary title)
các hoang đảo trên
Biển Đông, chứ không
thể dùng các tài
liệu lang mang được.
Các chuyên gia và
luật gia đă bác bỏ
hoàn toàn lư thuyết
về
quyền sở hữu lịch sử
(historic title) mà
Trung Quốc đưa ra để
cho rằng Biển Đông
là ao hồ của họ, v́
lư thuyết này không
được Công Ước LHQ về
Luật Biển 1982 chấp
nhận.
Riêng Việt Nam vẫn
kẹt với Trung Quốc
về công hàm ngày
14.9.1958 của Thủ
Tướng Phạm Văn Đồng
công nhận lời tuyên
bố ngày 4.9.1958 về
chủ quyền của Trung
Quốc trên các quần
đảo Hoàng Sa và
Trường Sa. Vấn đề
được đặt ra là công
hàm này có giá trị
pháp lư hay không?
Chúng tôi thử nh́n
lại vấn đề này,
nhưng chúng tôi xin
nói rơ chúng tôi
không muốn viết Bản
Cáo Trạng lên án
Đảng CSVN bán nước
hay Biện Minh Trạng
bênh vực cho Đảng
CSVN như thường thấy
trên các diễn đàn,
v́ lối viết đó thiếu
khách quan, không
thể dùng để đối
kháng. Chúng tôi chỉ
nh́n vấn đề dưới
khía cạnh pháp lư.
Đây là vấn đề khá
phức tạp, nhưng
chúng tôi sẽ cố gắng
tŕnh bày đơn giản.
NHẮC LẠI SỰ
KIỆN
Ngày 4.9.1958, nước
CHNDTQ đă đưa ra lời
tuyên bố gồm 4 điểm.
Sau đây là điểm 1
liên hệ đến Hoàng Sa
và Trường Sa
“Bề rộng lănh
hải của nước Cộng
Ḥa Nhân Dân Trung
Quốc là 12 hải lư.
Điều lệ này áp dụng
cho toàn lănh thổ
nước Cộng Ḥa Nhân
Dân Trung Quốc, bao
gồm phần đất Trung
Quốc trên đất liền
và các hải đảo ngoài
khơi, Đài Loan (tách
biệt khỏi đất liền
và các hải đảo khác
bởi biển cả) và các
đảo phụ cận, quần
đảo Penghu, quần đảo
Đông Sa, quần đảo
Tây Sa (Hoàng Sa),
quần đảo Trung Sa,
quần đảo Nam Sa
(Trường Sa), và các
đảo khác thuộc Trung
Quốc.”
(Bản dịch của Trung
Tâm Dữ Kiện)
Tài liệu của Trung
Quốc cho biết sáng
ngày 21.9.1958, ông
Nguyễn Khang, Đại sứ
Việt Nam tại
Trung-quốc, đă đến
gặp ông Cơ Bàng Phi,
Thứ Trưởng Ngoại
Giao Trung Quốc,
chuyển giao công hàm
ngày 14.9.1958 của
Thủ Tướng Phạm Văn
Đồng có nội dung như
sau:
“Chính phủ nước Việt
nam dân chủ cộng hoà
ghi nhận và tán
thành bản tuyên bố,
ngày 4 tháng 9 năm
1958, của Chính phủ
nước Cộng hoà nhân
dân Trung-hoa, quyết
định về hải phận của
Trung-quốc.
“Chính phủ nước Việt
nam dân chủ cộng hoà
tôn trọng quyết định
ấy và chỉ thị cho
các cơ quan Nhà nước
có trách nhiệm triệt
để tôn trọng hải
phận 12 hải lư của
Trung-quốc trong mọi
quan hệ với nước
Cộng hoà nhân dân
Trung-hoa trên mặt
biển.”
Văn kiện mang tên
"Chủ quyền không
thể tranh căi của
Trung Quốc trên các
đảo Tây Sa và Nam
Sa" được tạp
chí Beijing Review
in lại trong số ra
ngày 18.2.1980,
trong đó nói rơ Hà
Nội đă thỏa hiệp
được với Bắc Kinh
trong quá khứ về
việc này như sau:
"Vào tháng 6 năm
1956, hai năm sau
khi chính phủ của
ông Hồ Chí Minh đă
thành lập tại Hà
Nội, Thứ Trưởng
Ngoại Giao Việt Nam
Ung Văn Khiêm đă nói
với ông Li Zhimin,
tham tán sứ quán
Trung Quốc tại Việt
Nam, rằng
theo dữ liệu của
Việt Nam th́ đảo Tây
Sa (tức Paracels,
Hoàng Sa) và đảo
Nansha (tức
Spratleys, Trường
Sa) là một phần
thuộc Trung Quốc
theo lịch sử".
Những sự kiện được
tiết lộ trên cho
thấy Đảng CSVN đă
đồng ư giao Hoàng Sa
và Trường Sa cho
Trung Quốc để đổi
lấy việc Trung Quốc
viện trợ đầy đủ cho
Đảng CSVN chiếm miền
Nam Việt Nam. Từ
tháng 8 năm 1956, Lê
Duẫn, Bí Thư Xứ Ủy
Nam Bộ, đă viết “Đề
Cương Cách Mạng Miền
Nam”. Tháng 1
năm 1959 Hội Nghị
Trung Ương Đảng CSVN
lần thứ 15 đă ra
nghị quyết “giải
phóng miền Nam”.
Tuy nhiên, sau khi
chiếm được miền Nam
rồi, vào khoảng cuối
năm 1975, Việt Nam
bắt đầu giành quyền
kiểm soát một phần
quần đảo Trường Sa,
c̣n Hoàng Sa hoàn
toàn do Trung Quốc
nắm giữ. Đến năm
1977, cựu Thủ tướng
Phạm văn Đồng giải
thích về quan điểm
của ông hồi năm 1958
rằng
“đó là thời
chiến và ông phải
nói như vậy thôi”.
GIÁ TRỊ PHÁP
LƯ CỦA CÔNG HÀM
Trong một vài bài
trước đây, chúng tôi
có viết rằng công
hàm ngày 14.9.1958
của Thủ Tướng Phạm
Văn Đồng không có
giá trị pháp lư v́
hai lư do sau đây:
Lư do thứ nhất:
Lúc đó hai đảo Hoàng
Sa và Trường Sa
thuộc VNCH. Tục giao
pháp lư Latin có
câu:
“Nemo dat quod non
habet”,
tức không ai cho cái
ḿnh không có. Hoàng
Sa và Trường Sa
không thuộc miền Bắc
nên Đảng CSVN không
thể giao cho Trung
Quốc được.
Lư do thứ hai:
Điều 23 của Hiến
Pháp ngày 9.11.1946
quy định: “Nghị viện nhân dân
(tức
quốc hội)... chuẩn y
các hiệp ước mà
Chính phủ kư với
nước ngoài.”
Công hàm ngày
14.9.1958 không được
quốc hội phê chuẩn
nên không có giá
trị.
Tuy nhiên, sau khi
nghiên cứu lại luật
lư, chúng tôi thấy
công hàm ngày
14.9.1958 của Thủ
Tướng Phạm Văn Đồng
chỉ là một lời hứa
bán
(promesse de vente):
Hà Nội hứa với Bắc
Kinh rằng nếu Bắc
Kinh viện trợ cho Hà
Nội đầy đủ phương
tiện để chiếm miền
Nam, sau khi chiếm
được, Hà Nội sẽ giao
Hoàng Sa và Trường
Sa cho Trung Quốc.
Theo luật, học lư và
án lệ của cả hai hệ
thống Roman Law
(áp
dụng tại hầu hết các
nước trên thế giới) và Common Law
(hệ
thống Anh Mỹ), lời
hứa bán này có giá
trị.
Như chúng tôi đă
tŕnh bày, hệ thống
Roman Law áp dụng
nguyên tắc
“Promesse de vente
vaut vente”,
tức hứa bán có giá
trị như bán với hai
điều kiện sau đây:
(1) Vật hứa bán đă
được xác định, trong
trường hợp này là
hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa.
(2) Giá bán cũng đă được
thỏa thuận, trong
trường hợp này,
Trung Quốc cam kết
viện trợ cho Hà Nội
đủ phương tiện đánh
chiếm miền Nam. Do
đó, sau khi chiếm
được miền Nam, Hà
Nội phải giao nạp
Hoàng Sa và Trường
Sa cho Trung Quốc.
Hệ thống Common Law
xây dựng nguyên tắc
“promissory
estoppel”
(sự ngăn chận việc
làm trái với lời
hứa). Theo nguyên
tắc này, một lời hứa
có giá trị ràng buộc
nếu hội đủ các điều
kiện sau đây:
(1) Người hứa
(promisor) có thể
nghĩ một cách hợp lư
rằng người được hứa
(promisee) tin tưởng
vào lời hứa đó.
(2) Trong thực tế
người được hứa đă
tin cậy vào lời hứa
đó (the promisee in
fact has relied on
that promise).
(3) Sự bất công chỉ
có thể tránh được
qua việc bắt buộc
thực hiện lời hứa
(Injustice can be
avoided only through
enforcement of the
promise).
Khi ba điều kiện nói
trên hội đủ, người
hứa phải thực hiện
lời hứa của ḿnh, và
lời hứa đó được coi
như là một hợp đồng
(contract), mặc dầu
trong thực tế không
có một hợp đồng nào
được kư kết theo
phương thức b́nh
thường.
Như vậy, dù áp dụng
nguyên tắc
“Promesse de vente
vaut vente”,
trong hệ thống Roman
Law hay nguyên tắc “promissory
estoppel”
trong Common Law,
sau khi chiếm được
miền Nam, Hà Nội
phải giao Hoàng Sa
và Trường Sa cho Bắc
Kinh theo công hàm
ngày 14.9.1956 của
Thủ Tướng Phạm Văn
Đồng.
NHỮNG KHÓ
KHĂN GẶP PHẢI
Như chúng tôi đă
tŕnh bày, muốn có
quyền sở hữu chấp
hữu
(possessary title)
các hoang đảo trên
biển, cần phải hội
đủ ít nhất hai yếu
tố sau đây:
(1) Sự
chấp hữu phải
hoà b́nh
(paisible), tức
không có sự đối
kháng của bên khác,
(2) sự chấp hữu
phải
liên tục và không
gián đoạn
(continue et non
interrompue).
Trung Quốc nói họ đă
chấp hữu các đảo
trên Biển Đông từ
2000 năm về trước
nhưng lại không
chứng minh được họ
đă chấp hữu liên tục
và không gián đoạn.
Trung Quốc lại dùng
vũ lực để chiếm quần
đảo Hoàng Sa năm
1974 và 6 đảo thuộc
quần đảo Trường Sa
năm 1988. Sự chấp
hữu này không thể
được coi là ḥa
b́nh.
Cho dù công hàm ngày
14.9.1956 có hiệu
lực th́ cũng chỉ có
thể đem đối kháng
với Việt Nam mà
thôi,
không thể đem đối
kháng với Indonesia,
Malaysia, Brunei và
Philippines được.
Đây cũng là một lư
do khiến Trung Quốc
chủ trương chỉ đàm
phán song phương.
Việt Nam đă thật sự
chấp hữu hai quần
đảo Hoàng Sa và
Trường Sa kể thừ
thời Pháp thuộc cho
đến năm 1974, tức
hơn 90 năm. Nhưng
Việt Nam đă chấp hữu
hai quần đảo này
dưới họng súng của
Pháp và của Mỹ, nên
cũng không thể được
coi là đă chấp hữu
hoà b́nh.
T̀M MỘT LỐI
THOÁT
Hôm 11.7.2011, Bộ
Trưởng Ngoại Giao
Philippines Albert
del Rosario cho báo
chí biết trong cuộc
họp hồi tuần trước
giữa ông với các
giới chức Phó Chủ
tịch Trung Quốc Tập
Cận B́nh và Bộ
Trưởng Ngoại Giao
Dương Khiết Tŕ tại
Bắc Kinh, chính phủ
Manila đă kêu gọi
Trung Quốc đưa vấn
đề tranh chấp giữa
hai nứơc ở khu vực
Biển Đông ra trước
toà án quốc tế về
Luật Biển. Tuy nhiên
Philippines không
nhận được phúc đáp
rơ ràng nào từ phiá
Trung Quốc. Ông cho
rằng việc Trung Quốc
không chấp nhận đề
nghị này của
Philippines có thể
đưa đến kết luận
rằng
Trung Quốc sẽ không
có khả năng chứng
minh được lập trường
của ḿnh theo Công
Ước về Luật Biển của
LHQ năm 1982.
Đó là một nhận định
hoàn toà chính xác.
Như đă nói trên,
Trung Quốc không thể
chứng minh được họ
đă chấp hữu một cách
hợp pháp hai quần
đảo Hoàng Sa và
Trường Sa. C̣n chủ
trương
“vùng nước lịch sử”
(water historic)
trong “đường lưỡi ḅ”
mà Trung Quốc đă đưa
ra để đ̣i chủ quyền
lịch sử (historic
title) là hoàn toàn
trái với Công Ước
LHQ về Luật Biển
1982. Việt Nam cũng
sẽ gặp khó khăn khi
phải chứng minh sự
chấp hữu hợp với
điều kiện luật định
hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa
trong lịch sử. Vậy
có thể coi
các hoang đảo thuộc
hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa vẫn
c̣n là những đảo vô
chủ
(ownerless
islands).
Giải pháp mà các
luật gia và chuyên
gia quốc tế đề nghị
là ngưng tranh chấp
về quyền sở hữu đối
với các đảo này và
lập ra một tổ chức
để phân chia các
vùng khai thác.
Ngày 4.11.2002,
Trung Quốc và các
nước ASEAN đă kư bản
Tuyên Bố về Ứng Xử
của Các Bên ở Biển
Đông
(Declaration on the
Conduct of Parties
in the South China
Sea – gọi tắt là
DOC) gồm 4 điểm
chính sau đây:
(1) Tái cam kết tôn
trọng mục đích và
nguyên tắc của Hiến
Chương Liên Hợp Quốc
và Công Uớc LHQ về
Luật Biển năm 1982;
(2) Tránh những hành
động cư trú ở những
đảo, đá, băi cát,
đảo thấp;
(3) Cam kết giải
quyết tranh chấp chủ
quyền một cách hoà
b́nh, và
(4) Tôn trọng quyền
tự do giao thông và
bay trên Biển Nam
Trung Quốc.
Sau đó, các nước
ASEAN đă soạn thảo
ra Quy Tắc
Ứng Xử ở Biển Đông
(Code of Conduct in
the South China Sea
– gọi tắt là COC)
có
giá trị ràng buộc và
đă 21 lần đưa ra dự
thảo này nhưng Trung
Quốc không chịu kư.
Trung Quốc chỉ muốn
đàm phán song phương.
NHỮNG BÍ ẨN
ĐÀNG SAU
Vào tháng 6 vừa qua,
Việt Nam đă gởi một
phái đoàn do Thứ
trưởng Ngoại giao Hồ
Xuân Sơn cầm đầu đến
Trung Quốc để hội
kiến với ông Đới
Bỉnh Quốc, Ủy viên
Quốc vụ Viện của
Trung Quốc về vấn để
Biển Đông. Ngày
25.6.2011, Bộ Ngoại
Giao VN đă cho phổ
biến một thông cáo
cho biết hai bên đẩy
nhanh tiến độ đàm
phán để sớm kư kết
“Thỏa thuận về các
Nguyên tắc cơ bản
chỉ đạo giải quyết
vấn đề trên biển
giữa Việt Nam-Trung
Quốc”;
thúc đẩy việc thực
hiện
“Tuyên bố về ứng xử
của các bên ở Biển
Đông (DOC) và các
công việc tiếp theo,
cố gắng sớm đạt tiến
triển thực chất”.
Tuy nhiên, hôm
28.6.2011 Tân Hoa Xă
đă phát đi một bản
tin trong đó ông
Hồng Lỗi, phát ngôn
viên của Bộ Ngoại
giao Trung Quốc
tuyên bố:
"Chúng tôi hy vọng
phía Việt Nam sẽ
thực hiện đồng thuận
chung và nỗ lực bảo
vệ ḥa b́nh và ổn
định tại Nam Hải".
Các nhà trí thức đấu
tranh ở trong nước
đang yêu cầu Bộ
Ngoại Giao giải
thích
“sự đồng thuận
chung”
nói trong lời tuyên
bố của ông Hồng Lỗi.
Nhưng có người coi
nhóm này chỉ là một
công cụ được Hà Nội
dùng để nói chuyện
với Trung Quốc. Chưa
đến giai đoạn Bắc
Kinh buộc Hà Nội
phải thanh toán dứt
khoát món nợ Hoàng
Sa và Trường Sa.
Bắc Kinh chỉ muốn Hà
Nội kư với Bắc Kinh
một Code of Conduct
(Quy Tắc Ứng Xử)
riêng thay v́ kư
chung với ASEAN.
Trong hiện tại, Việt
Nam chỉ có một lối
thoát duy nhất là
bám sát đường lối
của ASEAN hiện nay
để bảo vệ các quyền
lợi của Việt Nam
trên Biển Đông. Việt
Nam thừa hiểu rằng
đi ra khỏi đường lối
đó, Việt Nam sẽ bị
đánh gục.
Ngày 13.7.2011
Lữ Giang
|