|
Những giờ đen
tối
Lữ Giang
Nhiều người đă ngạc nhiên hay cảm thấy buồn tê tái
khi đọc bài “Một số chuyện đáng buồn” của
chúng tôi trích dẫn một số đoạn trong cuốn hồi kư
“Decent Interval” của Frank Snepp, một viên
chức cao cấp của CIA ở Sài G̣n, tiết lộ việc tướng
Nguyễn Cao Kỳ âm mưu đảo chánh ông Thiệu, về tài sản
của ông Thiệu, về 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia,
về số vàng của Hàng Không Việt Nam biến mất, việc
đánh lừa Tướng Dương Văn Minh ra làm Tổng Thống được
nói là để thương lượng với Hà Nội nhưng thật sự là
để tuyên bố đầu hàng, vụ tổng xuất Tổng Thống Thiệu,
v.v. Không ai có thể ngờ được chính phủ Hoa Kỳ đă
giết ông Diệm để nhảy vào lănh đạo cuộc chiến Việt
Nam và đưa miền Nam vào những ngày đen tối như vậy.
Hôm nay, chúng tôi sẽ trích thêm một số đoạn nói về
việc Hoa Kỳ đă tuyển chọn những tay chân bộ hạ như
thế nào để thi hành kế hoạch rút khỏi miền Nam và
Hoa Kỳ đă điều khiển những giờ cuối cùng của miền
Nam như thế nào. Đây là những giờ đau buồn nhất của
VNCH.
Dĩ nhiên, có một số người đang số gắng chống lại
việc công bố những sự thật lịch sử v́ cho rằng nó
phương hại đến những ǵ mà họ đang trân trọng. Nhưng
những tài liệu về cuộc chiến Việt Nam hầu hết đă
được đưa ra ánh sáng và nằm đầy trong các văn khố,
trong các hồi kư của các nhân chứng lịch sử và trong
các tài liệu nghiên cứu..., làm sao có thể dùng cảm
tính của cá nhân hay một số tập thể để thay đổi lịch
sử được? Các sử gia, các nhà phân tích và các thế hệ
mai sau sẽ không quan tâm đến những cuộc biểu t́nh
sôi động trên phố Bolsa hay những tuyên ngôn truyên
cáo, họ chỉ dựa vào các tài liệu nói trên để đánh
giá cuộc chiến Việt Nam và rút bài học lịch sử.
KHI MỸ CHUẨN BỊ RÚT LUI
Trong phần đầu của cuốn “Decent Interval”
Frank Snepp đă tiết lộ cho chúng ta thấy Hoa Kỳ đă
chuẩn bị như thế nào khi muốn rút lui khỏi cuộc
chiến Việt Nam. Lối mô tả của viên chức CIA này có
vẽ sống sượng hơn lối mô tả của các nhà chính trị,
nhưng nó đă giúp cho chúng ta nh́n rơ sự thật lịch
sử hơn. Frank Snepp viết:
“Với cái "mục tiêu
thân hữu” (“friendly target”),
như chế độ của Thiệu được gọi, khó khăn là
làm thế nào để vừa buộc họ
phải tuân theo chính sách của chính chúng tôi, vừa
có những tay sai (agents) có chất lượng để thi hành
chính sách đó.
“Trong những năm ngay sau khi Ngô Đ́nh Diệm bị lật
đổ, từ năm 1963, miền Nam Việt Nam liên tiếp bị xáo
trộn v́ những cuộc đảo chính và chống đảo chính. Có
những viên tướng đầy tham vọng định lợi dụng t́nh
trạng không ổn định của nước này để đục nước béo c̣.
Năm 1967, một phần v́ sự gợi ư của một phân tích gia
về quân sự trẻ và thông minh ở Sài G̣n tên là Daniel
Ellsberg, chính phủ Hoa Kỳ đă quyết định ủng hộ một
đối thủ (contender) khác, một viên tướng miền Nam
b́nh thường và coi như
phi chính trị (modest, supposedly
non-political) tên là
Nguyễn Văn Thiệu – trong một nỗ lực
cuối cùng để chấm dứt các cuộc khủng hoảng. Sau đó
ít lâu, cùng năm ấy, Thiệu được đưa lên làm Tổng
thống. Người có quyền lực thật sự trên đất nước lúc
đó là Nguyễn Cao Kỳ, một người Bắc nổi bật
(flamboyant) nguyên Thủ tướng nay trở thành Phó Tổng
Thống. Nhưng Đại sứ Bunker không hề lo sợ về Kỳ và
phe cánh của Kỳ. Dần dần, ông gạt được họ ra và chỉ
nói về những vấn đề chính trị với Thiệu mà thôi. Một
“cú ân huệ” (coup de grâce) đă đến với Kỳ
trong cuộc tấn công của Cộng Sản năm 1968 khi một số
trong các đồng minh thân tín đầy quyền lực của ông
ta bị giết.
“Từ đó, mục tiêu chính của sứ quán là
củng cố bằng mọi giá chính phủ
Thiệu, để cho nước Mỹ có thế rút quân ra khỏi Việt
Nam mà không sợ nổ ra một cuộc khủng hoảng chính trị
mới. Tháng 10 năm 1972, nhằm mục tiêu ấy,
chúng tôi đă mua, mua chuộc và bán rất nhiều nhân
vật quân sự, chính trị Nam Việt Nam, để các nhân
viên t́nh báo, những người cộng tác với chúng tôi
nằm trong chính phủ chỉ là những phần nối dài của
chính chúng tôi.
(We had bought, bribed and sold so many South
Vietnamese military and political figures that our
spies and collaborators inside government were mere
extensions of ourself.” (tr. 13)
Qua hai đoạn được trích dẫn nói trên, chúng tôi có
những nhận xét sau đây:
1.- Hai tướng Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu
đă được CIA tuyển chọn khi cả hai cùng đi học khoá
Command and General Staff College ở Fort
Leavenworth, Kansas, tại Hoa Kỳ vào năm 1957 – 1958,
rồi được cài vào chính phủ Ngô Đ́nh Diệm để lật đổ
chính phủ này và thực hiện các kế hoạch tiếp theo do
Mỹ đưa ra. Frank Snepp chỉ mới làm việc cho CIA từ
năm 1968, không nắm vững những chuyện đó nên tưởng
rằng ông Thiệu mới được tuyển chọn năm 1967.
2.- Tiêu chuẩn để tuyển chọn một người cầm quyền tại
Nam Việt Nam để thi hành chính sách của Mỹ được
Frank Snepp nói rơ: Phải tuân
hành chính sách của Mỹ và có khả năng thi hành chính
sách đó. Một tiêu chuẩn thứ ba là
phi chính trị
(non-political), chỉ biết làm theo sự dẫn dắt.
3.- Ông Thiệu được đưa lên làm tổng thống không phải
để bảo vệ miền Nam mà là để “Mỹ
có thế rút quân ra khỏi Việt Nam mà không sợ nổ ra
một cuộc khủng hoảng chính trị mới”.
4.- Ông Thiệu không được coi như là một cộng
tác viên (collaborator) của Mỹ mà chỉ là
một tay sai (henchman), được lèo
lái để hoàn thành chính sách của Mỹ. Với chủ trương
“Từng chiến lược
cho từng mức viện trợ”, ông
Thiệu coi miền Nam như lănh thổ của Mỹ: Mỹ cấp viện
trợ đủ, giữ cả miền Nam. Mỹ cắt bớt viện trợ, thu
nhỏ lănh thổ lại và cuối cùng bỏ mất miền Nam theo
như kế hoạch của Mỹ đă định trước. Chủ trương này đă
dựa vào phúc tŕnh về t́nh h́nh của tướng Mỹ John E.
Murray và khuyến cáo của tướng Ted Serong, cả hai có
thể được coi như là “c̣
mồi”. Nói một cách tổng quát,
Tổng Thống Thiệu đă hành động với tinh thần của một
người lính đánh thuê
(mercenary) chứ không phải với tinh thần của một
chiến sĩ quốc gia, cuơng quyết bảo vệ miền Nam cho
đền giọt máu cuối cùng.
Giả thiết lúc đó Mỹ để cho dân miền Nam bầu một nhân
vật chính trị lên làm tổng thống như Luật sư Trần
Văn Tuyên, Luật sư Vương Văn Bắc, ông Trần Chánh
Thành... chẳng hạn, những người này sẽ không chịu kư
hiệp định Paris và đi t́m một giải pháp khác để bảo
vệ miền Nam. Họ sẽ làm hỏng kế hoạch của Mỹ.
HAI “AGENTS” CỞ BỰ CỦA CIA
Frank Snepp cho biết CIA đă tuyển dụng hai tướng có
thế lực của miền Nam làm “agents”
cho họ để cung cấp tin tức và thi hành chính sách
từng giai đoạn của Hoa Kỳ. Ông tiết lộ:
“Shackley đă lôi kéo được
tướng Đặng Văn Quang,
viên cố vấn sôi nổi (ebuillient) về an ninh của
Thiệu (coi như Kissinger của Thiệu, nếu như bạn muốn
gọi như thế) làm một người cung cấp tin tức
(informant) cộng tác chặt chẽ với trạm CIA. Shackley
c̣n triển khai sự kết hợp chặt chẽ với
tướng Nguyễn Khắc B́nh,
người trở thành cấp chỉ huy đầy quyền lực của Cảnh
Sát Miền Nam Việt Nam.
“Cho đến ngày cuối cùng của chế độ Sài G̣n, Quang và
B́nh có thể được coi là những nhân vật quan trọng
nhất của chúng tôi ở Việt Nam. Nhưng trong thực tế
họ được đánh giá hơi cao. Người này cũng như người
kia, không ai cung cấp cho chúng tôi nhiều tin tức.
Chúng tôi lấy tin chủ yếu nhờ những máy móc đặt bí
mật trong dinh Tổng thống. Pḥng làm việc của Thủ
tướng được nghe thường xuyên. Số ít tin tức do B́nh
và Quang cung cấp thường sai lệch. Thật vậy, họ
nhanh chóng hiểu rằng họ phải nghĩ đến quyền lợi
riêng của họ và quyền lợi của Thiệu, không thể cung
cấp cho chúng tôi đúng những tin tức chúng tôi yêu
cầu. Hơn thế, trạm CIA phụ thuộc rất nhiều vào họ về
mặt chính trị, v́ họ là những người truyền đạt những
chủ trương và những quyền lợi của người Mỹ trong
chính phủ, v́ thế chúng tôi không thể đánh giá những
tin tức của họ một cách khách quan hay có phê phán.
“Sự tín nhiệm của chúng tôi đối với hai người này đă
gây ra nhiều hậu quả tai hại. Không phải những cơ
quan t́nh báo bị ánh hưởng mà cả uy tín về tinh thần
và chính trị của người Mỹ đối với người Việt Nam
cũng bị giảm sút. Làm
cho Quang và B́nh trở thành những người giàu có và
có thế lực, cả Quang và B́nh trở thành những biểu
tượng về tham nhũng và thoái hóa theo lối Mỹ, điều
đó sau cùng đă cung cấp cho Cộng Sản vũ khí tốt nhất
để tuyên truyền”.
(By virtue of the wealth and prominence we bostowed
on them, both Quang and Binh became symbols of the
American-inflicted corruption and decadence that
ultimatly provided the Communists with their best
propaganda weapon).
(trích từ tr. 8 và 9).
Theo ư kiến chúng tôi, Frank Snepp đă đánh giá tướng
Đặng Văn Quang quá cáo khi coi ông như là một thứ
“Kissinger” của Thiệu. Tướng Thiệu và Tướng Quang
cùng tốt nghiệp khóa sĩ quan Đập Đá ở Huế năm 1948
và có tŕnh độ văn hóa thấp như nhau
(chưa học xong
trung học). Những người từng đi họp với tướng Quang
và tướng Thiệu nhiều lần cho biết chẳng bao giờ
Quang dám có ư kiến ǵ khác với ông Thiệu. Mỗi lần
ông Thiệu hỏi chuyện ǵ, Quang đều trả lời:
“Thưa Tổng Thống nói đúng!”.
Nhiệm vụ chính của tướng Quang là “kinh tài” cho ông
Thiệu, trong đó có hai nghiệp vụ chính là đi thu hụi
chết và buôn lậu. Trung Tá Trần Tích, Trưởng Pḥng
Quản Trị Quân Đoàn 2 kể lại rằng tháng 3 năm 1975
ông cùng tướng Phạm Văn Phú di tản khỏi Pleiku bằng
máy bay. Khi vừa về tới Nha Trang, Tướng Phú đă quay
lại bảo ông: “Xem có ai muốn đi làm tỉnh trưởng
không?”. Trung Tá Tích rất ngạc nhiên và hỏi lại:
“Giờ này mà c̣n tỉnh trưởng ǵ nữa, thưa Thiếu
Tướng?”. Tướng Phú liền nói: “Tháng
này chưa có 2 triệu nộp cho Trung Tướng”(!).
SỐ PHẬN CỦA KẺ PHẢN BỘI CIA
Mặc dầu tướng Đặng Văn Quang được CIA gài vào bên
Tổng Thống Thiệu để lấy tin tức, nhưng trong cuộc
họp tại Cam Ranh trưa 11.3.1974, tướng Thiệu ra lệnh
rút khỏi Cao Nguyên, nhưng tướng Quang không báo cho
CIA biết. Do đó, khi hay tin này, CIA đă sa thải
tướng Quang ngay. V́ thế tướng Quang đă gặp khó khăn
khi đi di tản.
Polar, Trưởng Trạm CIA Sài G̣n là người có quan hệ
với người Việt Nam thuộc đủ loại, nên khi đến giờ di
tản, ông đă bị nhiều người kêu cứu, nhưng trong
nhiều trường hợp ông không thể giúp đỡ được. Riêng
trường hợp tướng Quang, Frank Snepp đă kể lại như
sau:
“Polgar trở thành tù binh trong sứ quán đúng lúc bạn
bè Việt Nam chờ ông, cách đó khoảng mười ngôi nhà.
Polgar đứng bên hàng rào, bất lực; ông đang nh́n
biển người trước mặt, chợt một tiếng quen thuộc gọi
ông, gọi to và giật giọng. Đó là nguyên cố vấn an
ninh của Thiệu, tướng Đặng Văn Quang vừa đến và len
tới sát hàng rào. Ông mặc một chiếc áo đi mưa dài,
đeo kính đen, xách hai cặp rất nặng. Polgar nói dơng
dạc với người gác cổng:
"Cho người này vào". Nhưng
cũng phải tranh luận, người gác cổng mới đồng ư hé
cửa để Quang lách cái thân già, béo phệ của ông ta
vào!
“Những giờ sau, Quang đi đi lại lại trong pḥng làm
việc của Polgar trên lầu sáu trông rất giống một
trái quất vàng tṛn trĩnh với bộ quần áo màu xanh
nước biển, đeo nhiều kim cương. Quang gọi dây nói
khá lâu v́ trong lúc sợ hăi và vội vàng vào sứ quán,
ông đă quên con cháu đang đứng bên ngoài. Quang cố
cầu cứu mấy người bạn giúp.
“Hầu hết chúng tôi cố
quên Quang. Thấy ông ta ngồi trong pḥng, chúng tôi
đi ra ngay. CIA đă trả ông ta nhiều tiền và nâng cao
ông ta trong nhiều năm, và bảo đảm vị trí của ông ta
bên cạnh Thiệu, nhưng cuối cùng ông ta đă phản bội
chúng tôi, không cho chúng tôi biết quyết định của
Thiệu rút khỏi Cao Nguyên.
“V́ thế, trong những giờ cuối cùng của ông ta ở Sài
G̣n này, mặc xác ông ta xoay sở. Buổi chiều, khi máy
bay trực thăng chở Quang đi, không có con ông ta -
một vài người trong
chúng tôi nghĩ, Thật là đáng kiếp
(Good riddance)” (tr. 495 - 496)
NHỮNG GIỜ PHÚT CUỐI CÙNG
Hoa Kỳ đă quyết định tất cả về những giờ phút cuối
cùng của VNCH. Họ t́m cách đưa những người Mỹ và một
số người Việt Nam ra khỏi nước. Có hai nơi được dùng
để thực hiện kế hoạch này, một tại cơ sở của DAO ở
phi trường Tân Sơn Nhứt và một tại Ṭa Đại Sứ Mỹ ở
đường Thống Nhất. V́ bài báo có giới hạn, chúng tôi
chỉ trích một số đoạn chính Frank Snepp mô tả về
những giờ phút cuối cùng tại Ṭa Đại Sứ Mỹ.
Frank Snepp đă mô tả h́nh dạng của Đại Sứ Martin lúc
đó như sau:
“Dưới con mắt của giới thân cận, Graham Martin nay
giống một xác chết biết đi. Da xanh, mặt nhăn nheo,
ông đứng không vững. Từ ngày Hoa Thịnh Đốn ra lệnh
di tản bằng trực thăng, ông tỏ ra không c̣n ư chí
đấu tranh nữa. Giới quân sự và đô đốc Gayler nay
hoàn toàn nắm mọi công việc. Martin chỉ c̣n một lo
lắng duy nhất: Làm thế nào di tản càng được nhiều
người Việt Nam càng tốt. Nhưng phải chờ một hai
giờ nữa máy bay trực thăng của hải quân mới đến.”
Đến 12 giờ 30 phút, một phi đoàn gồm 36 máy bay trực
thăng đầu tiên rời cầu tàu USS Hancoch với nhiều máy
bay Cobra vũ trang hộ vệ. Một phút sau, những máy
bay tiềm kích phản lực Phantom từ các căn cứ ở Thái
Lan bay tới bầu trời Việt Nam yểm trợ thêm. Một giờ
rưỡi trôi qua kể từ lúc tổng thống bật đèn xanh cho
chiến dịch "Gió Nhanh"
(Frequent Wind)...
17 giờ, tướng Smith gọi sứ quán hỏi số lượng người
di tản. Lần đầu tiên ông nhận được câu trả lời có vẻ
nghiêm chỉnh. Một cộng tác viên của Jocbson vừa đếm
lại số người trong nhà, ngoài sân: từ 1.500 đến 2000
người. T́nh h́nh những người này lúc đó rất nóng
nẩy. Mới có ba máy bay trực thăng đến chở người tị
nạn. Phải 40 phút nữa mới có chuyến khác. Sốt ruột
v́ chờ đợi, dân tị nạn kêu ca, oán thán, chửi bới...
17 giờ 30 phút, tướng Smith báo cho hạm đội di tản
biết c̣n khoảng 1.300 người nữa, trong đó có đơn vị
an ninh hải quân gồm 840 người.
Cầu hàng không máy bay trực thăng hoạt động đều, mặc
dù gặp khó khăn: sân hẹp, CH.53 là loại máy bay trực
thăng lớn, nặng, mỗi chiếc phải chở tới 70 người,
mức trọng tải cao nhất. Nhiều lần, gió cuốn suưt gây
ra tai nạn...
Ở Ṭa Bạch Ốc, Kissinger báo cáo với tổng thống
Ford: Phái bộ quân sự đă hoàn thành việc di tản. Hơn
4.500 người đi bằng máy bay trực thăng trong đó có
450 người Mỹ. Đó là một thành công rực rỡ mặc dù có
mất mát.
Chúng tôi chỉ c̣n 12 người trong tổng số ba trăm
nhân viên t́nh báo CIA ở Việt Nam. Tôi nh́n lại lần
cuối cùng bàn làm việc của tôi. Tất cả 12 người
chúng tôi xếp hàng, dọc cầu thang lên mái nhà, chung
quanh xúm xít người Việt Nam. Tôi không có can đảm
nh́n họ. Một thủy quân lục chiến hỏi chúng tôi có vũ
khí không. Nếu có phái để lại. Có nhiều tiếng phản
đối khi nghe lệnh ấy nhưng không ai giữ lại súng
nữa. Polgar rút khẩu súng Browing ra, ngắm nghía một
lát, rồi thở dài, thất vọng: "Tôi phải ở lại, đại sứ
cũng muốn ở lại một lúc nữa, chờ cho người Việt Nam
ở trong ngôi nhà này đi hết mới lên đường. Tôi ở lại
và cùng đi với đại sứ. Quay lại, ông nói với
Pittman, người phó của ông: "Anh cũng nên ở lại".
Pittman gật đầu đặt vali xuống. Polgar quay ra phía
tôi: "Anh giúp bạn Việt Nam tôi lên máy bay. Tôi hỏi
lại: "Ông có cần tôi ở lại không?” - Không. Sở chỉ
huy đă ra lệnh, mọi người đi cả. Tôi chỉ giữ Pittman
và một nhân viên thông tin ở lại để liên lạc với Hoa
Thịnh Đốn.
Schlesinger định rơ thời hạn: Giữa đêm phải ngừng
cuộc di tản. Nghĩa là chỉ c̣n hai giờ nữa. Sáng hôm
sau, sẽ tiếp tục bay. Bây giờ, 19 máy bay trực thăng
sẽ đến sứ quán để đón tất cả người Mỹ ở đó, kế cả
bản thân đại sứ. Martin trả lời một cách tiêu cực.
Trước 12 giờ đêm, Martin mặt trắng bệch ra sân sứ
quán. Cùng với mấy cộng tác viên, ông cho gọi người
Mỹ vào trong nhà. Chú lính thủy quân lục chiến vừa
được tin của đài cộng sản loan báo cuộc tiến công
vào Sài G̣n bắt đầu. Ngoài sân, đại tá Madison và
bốn sĩ quan nữa thuộc ủy ban quân sự hỗn hợp đi qua
đám đông. Đại tá Sumniers, người phó của ông, vớ lấy
máy phát thanh: "B́nh tĩnh, b́nh tĩnh. Chúng tôi ở
lại đây, và sẽ đi sau bà con".
3 giờ 45 phút, kết thúc cuộc di tản, Martin đi ra
sân sứ quán, nh́n nhanh đám đông, ra hiệu cho đại tá
Madison: "Những người Việt Nam c̣n lại sẽ đi bằng
máy bay CH.53. Ai c̣n chờ trong sứ quán th́ ra sân
đợi. Cầu hàng không trên mái nhà dành riêng cho
người Mỹ”.
Ở đằng kia cầu hàng không, Gays và Whitmire đă quyết
định chấm dứt tṛ chơi của Martin. Các ông hiểu rằng
đại sứ cứ muốn lùi dần giờ kết thúc, mỗi lần Martin
đều viện cớ c̣n quá nhiều người Việt Nam v.v... Mà
lệnh của Ṭa Bạch Ốc rất rơ ràng: Cầu hàng không
ngừng lúc bản thân Martin chưa được di tản!
John Pittman đang ngồi ngủ trong pḥng làm việc của
đại sứ. Trung tá Kean vào đánh thức anh dậy, anh
ch́a bức điện của Ṭa Bạch Ốc ra: Tổng thống ra lệnh
cho đại sứ phải đi chuyến này! Martin nhún vai, cầm
vali, nói với mọi người: "Xong, ta đi" rồi tiến đến
cầu thang máy. Nhiều cộng tác viên đi theo: Polgar,
Pittman, Jacobson, John Bennett thuộc cơ quan AID,
Joe Bennett, cố vấn chính trị và Brunson Mc
Kingsley, Lehmann, Boudreau và Jim Devine chờ chuyến
sau.
Ở Hoa Thịnh Đốn, Henry Kissinger vừa bắt đầu cuộc
họp báo mà ông đă hoăn mấy lần. Ông báo tin cuộc di
tản tất cả những người Mỹ ở Sài G̣n đă hoàn thành
tốt đẹp. Thực tế hăy c̣n lính thủy quân lục chiến
trong sứ quán. Kissinger quyết định không nêu chi
tiết ấy. Cuộc họp báo vừa kết thúc, ông vội vàng
nhảy bổ vào pḥng làm việc nổi cơn điên lên. Ông
thét lớn: Đưa ngay thủy quân lục chiến ở Sài G̣n ra! Ông vừa tuyên bố cuộc di tản thành công rực rỡ, nếu
để chết một người, ông sẽ giết...! .
7 giờ 30 phút (sáng 30.4.1975), giờ Sài G̣n, nhóm
của Kean đóng chặt cánh cửa đồ sộ bằng gỗ sến của sứ
quán, hạ màn sắt xuống và vội vàng chạy đến cầu
thang phụ. Ở lầu một và lầu bốn, họ ném lựu đạn cay
vào cầu thang máy và kéo hàng rào thép gai ra ngăn
cầu thang. Nhưng đúng lúc họ bước lên trên bậc cuối
cùng để lên mái nhà th́ những người Việt Nam nổi
giận ở ngoài sân đă phá được cửa tầng dưới và chạy
lên đuổi họ. Thủy quân lục chiến khóa được cửa lên
mái nhà và ra chỗ máy bay đậu.
Nhưng lúc người lính cuối cùng vào được ca bin máy
bay th́ cũng là lúc người Việt Nam leo tới mái nhà.
Và khi họ nhảy bổ vào gầm bánh máy bay th́ máy bay
bay lên cao. Lúc bấy giờ là 7 giờ 53 phút giờ Sài
G̣n.
(Trích từ tr. 508 – 562)
Ngày 19.4.2011
Lữ Giang
_______________________________________________________________________________________________________
Ghi chú:
Mỗi tuần, nếu không t́m thấy bài gởi đến, xin vào
website motgoctroi.com, mục "Mỗi Tuần
Một Chuyện", (http://motgoctroi.com/mtmchuyen.htm)
sẽ t́m thấy đầy đủ các bài trong đó. |