|
♠
www.motgoctroi.com
mến chào
bạn
Một số chuyện
đáng buồn
Lữ Giang
Cuốn “Decent Interval” của Frank Snepp khi
mới xuất bản năm 1977 đă gây khá nhiều chấn động cho
cả chính phủ Hoa Kỳ lẫn dân chúng v́ không ai ngờ
những chuyện như thế đă xẩy ra.
Frank Snepp sinh ngày 3.5.1943 tại Kinston, North
Carolina và tốt nghiệp tại Columbia University về
ngành quốc tế sự vụ vào năm 1968. Trước hết, ông làm
việc cho NATO ở Âu Châu rồi đến làm trưởng phân tích
viên về chiến lược của Bắc Việt cho CIA tại Sài G̣n
từ năm 1969 đến 29.4.1975. Với vai tṛ của ḿnh, ông
biết khá nhiều về các biến cố đă xẩy ra trong những
ngày cuối cùng của VNCH. Dĩ nhiên, ông không thể nắm
vững tất cả những chuyện đă xẩy ra, nhất là về phía
VNCH, nên có nhiều chi tiết ông ghi lại không đúng.
Đặc biệt, ông không biết chuyện Hoa Kỳ đă giao miền
Nam cho Trung Quốc từ năm 1972, chuyện Đại Sứ Martin
của Mỹ và Đại Sứ Mérillon của Pháp đă hợp mưu đánh
lừa Tướng Dương Văn Minh lên cầm quyền, nói là để
thương lượng với Hà Nội, nhưng thật sự là để đầu
hàng. Với bản chất là “THAM-NGU-HÈN”, Tướng Minh đă
cắn câu và trở thành hàng tướng, v.v.
V́ tiết lộ nhiều bí mật về t́nh báo, CIA đă kiện ông
vi phạm hợp đồng về việc phải giữ bí mật nghề nghiệp
khi làm việc với CIA. Ông nhờ nhóm luật sư của
American Civil Liberties Union bênh vực, Tối Cao
Pháp Viện đă không tuyên phạt ông về những chuyện đă
được ông tiết lộ, nhưng ra lệnh cho ông không được
nói ǵ nữa về những bí mật khác nếu không được CIA
cho phép.
Rất nhiều người Việt nghe nói đến cuốn “Decent
Interval”, nhưng ít ai đọc cuốn sách dày 590
trang này. Nhân kỷ niệm ngày mất miền Nam, chúng tôi
xin trích dẫn dưới đây một số đoạn nói về một số
biến cố được nhiều người Việt quan tâm như vụ tướng
Nguyễn Cao Kỳ âm mưu đảo chánh ông Thiệu, vụ tài sản
của ông Thiệu, vụ 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia,
vụ số vàng của Hàng Không Việt Nam biến mất, vụ tổng
xuất Tổng Thống Thiệu, v.v.
Ngày nay, nhờ các tài liệu được giải mă và lời khai
của các nhân chứng, chúng ta biết được nhiều chi
tiết chính xác hơn về biến cố 30.4.1975, nhưng những
tài liệu do Frank Snepp công bố cũng sẽ góp phần
đáng kể trong việc làm sáng tỏ lịch sử.
NGUYỄN CAO KỲ ÂM MƯU ĐẢO CHÁNH
Frank Snepp đă kể lại về chuyện Hoa Kỳ thương lượng
để Tướng Nguyễn Cao Kỳ đừng làm đảo chánh lật đổ ông
Thiệu như sau:
Đêm trước, do một nguồn tin Nam Việt Nam, tướng
Chales Timmes được biết Nguyễn Cao Kỳ định làm đảo
chính. Nghe thấy chuyện đó, Martin quyết định thuyết
phục Kỳ. Ông cùng tướng Timmes đến gặp Kỳ ở phi
trường Tân Sơn Nhất. Họ thảo luận với nhau trong hai
giờ. Martin và Timmes cố nói cho Kỳ rơ: ông ta và
chiến hữu có một vị trí trong ván bài đang chơi.
Thực tế, Martin nghĩ khác: Việc Kỳ tham gia chính
phủ sẽ tiêu tan mọi hy vọng thương lượng. Nhưng ông
đại sứ cho rằng cách duy nhất để bảo đảm cho việc
thay đổi chính phủ theo hiến pháp là gây cho Kỳ và
những cái đầu nóng khác cảm tưởng rằng họ có phần
trong đó. Martin đă hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Cuối buổi họp, Kỳ chấp nhận để Thiệu yên vị miễn và
thực quyền được trao cho một người khác, như ông ta
chẳng hạn. Tiếc thay, đối với những nhà viết sử,
cuộc trao đổi giữa Martin và Kỳ chưa bao giờ được
dựng lại đây đủ. Tối hôm đó, lúc Timmes ngồi viết
lại tường thuật buổi nói chuyện th́ ông thấy máy thu
thanh giấu trong cặp đă bị hỏng. Suốt đêm, ông ngồi
cố nhớ lại nhưng cũng chỉ ghi đúng được một phần
cuộc thảo luận. Sau đó, ông đại sứ đă phê b́nh ông.
CHUYỂN TÀI SẢN RA NGOẠI QUỐC
Ngoài những người định lật đổ
và Bắc Việt, Thiệu c̣n vấp phải một vấn đề nữa: đó
là tiền. Ngay đầu tháng, từ 1 đến 2.4.1975,
ông ta đă gửi bằng tàu thủy đi Đài Loan và Canada
hầu hết tài sản riêng của cá nhân ông ta và các vật
dụng trong nhà (most of his own
personal fortune and household effects).
Nhưng c̣n tài sản quốc gia gồm 16 tấn vàng đáng giá
120 triệu đôla chiếm gần hết dự trữ của nhà nước vẫn
chưa được gửi đi. Trước đó, Thiệu định giữ kín và
gửi đi Paris cho ngân hàng quốc tế, ở đấy đă giữ
một phần vàng của Nam Việt Nam đáng giá năm triệu
đôla. Như ông ta nói với những người hợp tác với ông,
16 tấn vàng này dùng để mua vũ khí, đạn dược cho
quân đội. Nhưng mấy ngày trước khi gửi đi, một người
báo tin cho sứ quán biết. Một công tác viên của
Martin cho là không thể tin được Thiệu, nên đă tố
cáo với giới báo chí. Kết quả: các hăng hàng không
Thiệu điều đ́nh để chở số vàng ấy đi, không nhận nữa.
Kế hoạch của Thiệu bị vỡ.
Martin cũng can thiệp kịp thời. Để đánh tan mọi điều
nghi ngờ, ông khuyên Thiệu gửi vàng sang ngân hàng
New York, việc đó rất hợp pháp. Thiệu chấp nhận.
Ngày 16 tháng 4, sứ quán điện cho Hoa Thịnh Đốn xin
một chuyến máy bay quân sự đặc biệt được bảo hiểm để
chở số vàng đi New York. Nhưng không quân và ngân
hàng New York không sẵn sàng bảo hiểm một tài sản
lớn như thế gửi từ một nước đang có chiến tranh.
Công việc kéo dài một hai ngày, 18 sư đoàn Bắc Việt
Nam tiến vào Sài G̣n bằng mọi hướng. Vàng vẫn nằm
nguyên trong kho ngân hàng quốc gia...”
(tr. 379)
Chiều hôm đó, Pat bay đi
Bangkok trên một máy bay đặc biệt, chỉ có mấy hành
khách. Ban Giám đốc hăng Hàng Không Việt Nam tổ chức
chuyến bay này để chở vốn của hăng đi: 20 triệu đôla
bằng vàng. Pat ngồi giữa đống bao tải bằng vải xám
đầy kim loại óng ánh không có ǵ nguy hiểm.
Sau khi thất thủ Sài
G̣n, những bao tải ấy biến mất.
Chắc chúng đă trốn vào tủ sắt một người nào đó. Ở
Bangkok, Pat đi chơi tối với bạn, khiêu vũ suốt tới
sáng. Cuộc vui lạ lùng và giả tạo do căng thẳng đẻ
ra... (tr. 406)
Đến đây chúng tôi có một vài nhận xét:
Ngoài những tài sản mà ông
Thiệu đă cho chuyển đi Đài Loan và Canada như Frank
Snepp đă nói, một nguồn tin từ những người phụ trách
cho biết, vào tháng 3 năm 1975, ông Thiệu đă cho hai
người đưa đô la và kim cuơng qua Philippines, có một
người thân của bà Thiệu đi theo để giám sát. Nhờ vậy,
ba người này đă không bị kẹt vào ngày 30.4.1975 và
hiện đang ở Mỹ.
Nhiều người cứ tấn công vào vụ 16 tấn vàng của Ngân
Hàng Quốc Gia, họ cho rằng ông Thiệu đă lấy. Nhưng
đúng như Frank Snepp đă nói, mặc dầu có sự can thiệp
của Mỹ, số vàng đó vẫn c̣n ở văn khố quốc gia, v́
ông Trần Văn Hương ngăn chận lại không cho chuyển đi,
ông bảo phải đợi chính phủ mới được thành lập
(tr.
423).
Số vàng đáng phải sưu tầm
nhưng lại được ít ai để ư đến, đó là số vàng trị giá
20 triệu USD được hăng Hàng Không Việt Nam chở đi,
có sự chứng kiến của bà Pat Johnson, một nhân viên
cao cấp của CIA rời Sài G̣n đi BangKok trong cùng
một chuyến bay. Số vàng đó hiện nay về tay ai? Trong
chuyến bay đó có vàng của ông Thiệu hay không?
Ai cũng biềt ông Nguyễn Tấn Trung là xui gia của
Tổng Thống Thiệu, được cử làm Tổng Giám Đốc Hàng
Không Việt Nam. Chắc chắn trong những ngày chót, ông
cũng có nhiệm vụ đưa tài sản Hàng Không Việt Nam và
của ông bà Thiệu đi. Nhiều câu hỏi đă được đặt ra,
nhưng ông Trung vẫn “ngậm miệng ăn vàng”.
Khi bị tống xuất, theo Frank
Snepp cho biềt, ông Thiệu c̣n đem theo mấy vali nặng
“có tiếng kim loại va vào nhau”
(xin xem ở sau).
THUÊ MỘT TRIỆU LÀM HÀNG TƯỚNG!
Trước trưa ngày 21 tháng 4, Thiệu triệu tập Khiêm và
Hương đến, báo cho hai người biết ông sắp từ chức và
sẽ báo tin ngay tối nay.
Máy ghi âm do CIA đặt trong pḥng làm việc của Thiệu
truyền đi từng lời ông ta nói.
Không để mất th́ giờ, Polgar
(trưởng trạm CIA tại Sài G̣n lúc đó)
báo tin cho người Pháp về việc Thiệu sắp rút lui,
rồi đến chiều, cử tướng Timmes đến gặp Minh. Timmes
đi ngay. Minh có bằng ḷng nắm quyền và thương lượng
ḥa b́nh trước khi loại được Hương không? Minh gật
đầu. Ông ta nói có thể làm yên ḷng kẻ thù và sẽ cử
ngay đại diện đi Paris để mở cuộc thảo luận.
Timmes rút trong cặp ra một nắm giấy bạc mới, một
triệu đôla để làm phí tổn (chưa
bao giờ Minh sử dụng món tiền ấy và ông ta cũng
không hề trả lại).
Trong lúc đó, một viên chức khác của CIA bàn chiến
thuật với một người thân cận Minh. Viên chức CIA nói:
Tiện hơn cả là Minh nhận làm thủ tướng của Hương,
như thế thuận lợi cho việc chuyển giao chính quyền.
Người nghe lắc đầu: Không, không bao giờ Minh
tham gia chính phủ của Hương. Minh phải nắm chính
quyền như đă thỏa thuận. Những điều đó cho thấy
việc chuyển giao chính quyền sẽ không được thực hiện
như kế hoạch của sứ quán.
19 giờ rưỡi, giờ Sài G̣n, Thiệu nói chuyện với quốc
dân đồng bào... Thiệu nói: V́ nửa đất nước đă mất
nên ông ta hy sinh v́ quyền lợi quốc dân. Tướng Viên
đọc một tuyên bố ngắn. Ông nói quân đội tiếp tục
chiến đấu để bảo vệ tổ quốc chống bọn xâm lược nước
ngoài. Tối 21 tháng 4, lại thiết quân luật từ 8 giờ
tối đến 6 giờ sáng để ngăn chặn những cuộc biểu t́nh,
nhưng tôi nghĩ người ta đă quá mệt mỏi, không c̣n
muốn nhảy ngoài đường phố nữa.
Trong khi tin Thiệu từ chức bay về Hoa Thịnh Đốn th́
Kissinger gửi một điện chia buồn cho Martin, bày tỏ
sự kính trọng không suy xuyển của ông đối với người
lănh đạo Nam Việt Nam, ông đề nghị được giúp đỡ
Thiệu rời khỏi nước này. Ông nhấn mạnh: Chính phủ Mỹ
không hề hợp tác với người Pháp để chống Thiệu. Và
ông nói thêm đến nay cũng chưa nhận được tin tức ǵ
của Liên Xô.
Không một người nào tán thành sự kiện diễn ra sau đó.
Những người đứng về phe ngừng bắn tỏ ḷng tin tưởng,
họ cho rằng có thể thương lượng b́nh đẳng với cộng
sản. Minh lớn là một người trong số đó, ông b́nh
tĩnh chuẩn bị nói chuyện ngă ngũ với phía bên kia,
trong khi đó, người phát ngôn của ông ta ở Paris
công khai yêu cầu ngừng bắn, nối lại cuộc đàm phán
và thành lập một chính phủ thật sự tiêu biểu.
Chiều thứ ba, Polgar nói với Timmes đến thăm Kỳ.
Cuộc gặp mặt như dầu đổ vào lửa. Nhưng sau đó Kỳ
công nhận, ông nghĩ rằng nhân viên CIA đến gặp Kỳ
như gặp một người thay Hương. Và chỉ một câu hỏi
vụng về của Timmes về sự nguy hiểm của một cuộc đảo
chính chống Minh lớn là Kỳ biết ngay ai là người
được Hoa Kỳ chọn làm tổng thống. Kỳ quyết định thu
xếp ngay vị trí của ḿnh. Sự vụng về của Timmes đă
làm cho những người ôn ḥa khó hoạt động và phái hữu
báo động.
Trong khi đó, người Pháp tiếp tục xen vào, Pierre
Brochand ở cạnh Minh suốt ngày, khuyến khích và bảo
vệ Minh chống mọi kẻ cạnh tranh.
TỐNG XUẤT TÔNG TÔNG
Công việc tống xuất Tổng Thống Thiệu ra khỏi miền
Nam đă được Ṭa Đại Sứ Mỹ giao cho Thomas Polgar,
trưởng trạm CIA tại Sài G̣n lúc đó. Chúng ta hăy
nghe Frank Snepp kể lại chuyện này:
Từ ngày từ chức (ngày
21 tháng 4), Thiệu để th́
giờ đi bách bộ trong nhà của ông ta ở bờ sông. Ông
ta nghiền ngẫm một cuộc trả thù và mơ tưởng đến việc
giành lại địa vị trước kia. Vợ ông ta, quá sợ hăi,
không c̣n chịu được cảnh thất thế này. Sáng thứ năm,
bà ta đi Bangkok trên một chuyến bay thương mại. Em
họ của Thiệu. Đại sứ của Sài G̣n từ Đài Loan trở về
nước khuyên anh sớm ra đi. Nhưng Thiệu chưa nghe.
Ông ta nghĩ rằng ông ta c̣n giữ một vai tṛ ǵ đó ở
đây. Ông ta nói với em họ là Hoàng Đức Nhă:
"Nếu tôi phải ra đi, tôi
sẽ đi với đoàn tùy tùng có trống giong cờ mở".
Thiệu, vốn thường kín đáo, ít nói, nay có vẻ cảm
động. Ông ta nói với Nhă: Em là người duy nhất c̣n
lại ở bên anh, mặc dù anh đă làm hại em, cách chức
và đuổi em đi.
Nhă t́m cách an ủi Thiệu. ông
ta nói với Thiệu: "Anh
cứ coi tôi như Cambroune, viên tướng trung thành với
Napoléon ở ngoài đảo Elbe".
Hương, người kế vị Thiệu, không dám giục Thiệu ra đi,
sợ bè phái Thiệu sẽ trả thù. Hương nói với Martin
làm việc đó. Đại sứ cũng không thích thú làm việc
này. Cho đến nay, ông vẫn làm cho người ta tưởng
rằng sứ quán không can thiệp vào việc Thiệu từ chức.
Ông không muốn làm thay đổi nhận định ấy.
Nhưng có một yếu tố phải tính đến. Minh lớn cho rằng
sự có mặt của Thiệu ở Sài G̣n vẫn là một trở ngại
lớn cho hoạt động của ông ta. Minh đề nghị Timmes,
cơ quan ClA giải quyết giúp việc này. Điều đó làm
vừa ḷng Martin.
17 giờ ngày 25 tháng 4, Polgar gọi tôi đến pḥng làm
việc. Ở đấy đă có Joe Kingsley, tướng Timmes và một
nhân viên CIA nữa. Polgar nhỏ nhẹ hỏi chúng tôi: Ban
đêm, các anh có dám ra ngoài phố không? Chúng tôi
đều gật đầu. Riêng tôi, tôi không chắc có thuộc hết
các ngơ ngách và những cái hẻm do người Pháp xây
dựng không, nhưng dù sao... Polgar tiếp tục nói: thế
th́ tốt. Tôi đề nghị các anh tối nay, giúp tôi cho
Thiệu và Khiêm đi Đài Loan. Đó là một ân huệ đối với
các anh, đồng thời là một phần thưởng v́ các anh đă
làm việc rất tốt". Thật ra, Polgar mới chỉ biết "phần
thưởng" này cách đây mấy giờ. Trước đó, Martin định
giao cho phái bộ quân sự thu xếp mọi việc, kể từ
việc tổ chức chuyến bay đặc biệt cất cánh từ cuối
đường băng Tân Sơn Nhất. Đến phút cuối cùng ông giao
lại cho CIA. Khoảng 20 giờ 30 phút, bốn người chúng
tôi đi ba xe đến Bộ Tổng Tham Mưu Nam Việt Nam ở Tân
Sơn Nhất, Khiêm ở trong khu vực này, Joe và tôi giấu
vũ khí dưới chỗ ngồi. Chúng tôi không thể không tính
đến việc diễn lại cuộc ám sát anh em Diệm trước đấy.
Chúng tôi định kế hoạch như sau:
“Sẽ có những sĩ
quan trẻ ngăn chúng tôi lại trên đường đi, ra lệnh
cho chúng tôi xuống xe và bắt chúng tôi. Tức th́
chúng tôi nổ súng”.
Quá 21 giờ, Polgar đến nhà Khiêm, trong một xe riêng
có tài xế lái xe. Ông đến uống rượu với Khiêm và
Timmes. Chúng tôi đứng đợi ngoài sân. Kingsley và
tôi, để giết th́ giờ, hai đứa nói chuyện với những
người lính gác Việt Nam. Mấy lính khác chơi bài.
Phần đông tỏ ra không đế ư ǵ đến việc đi lại của
bọn "mũ cao áo dài" này. Có tiếng súng nổ ở phía sân
bay. Đài radio báo cho chúng tôi biết: Hai lính Nam
Việt Nam cáu kỉnh đă bắn súng ở đây: "Không thiệt
hại ǵ, nay t́nh h́nh yên tĩnh. Đúng lúc đó, một xe
Mercedes xám đỗ trên đường. Một người tầm thước, tóc
bạc, chải lật ra sau gáy, mặt bôi kem, quần áo xám
chỉnh tề, bước xuống đất. Trong bóng tối, Nguyễn Văn
Thiệu giống một người mặc quần áo mẫu quảng cáo
trong một tạp chí hơn là một nguyên thủ quốc gia.
Ông ta không thèm nh́n chúng tôi!
Mấy phút sau, mấy người lực
lưỡng, mỗi người xách một va li nặng, đi đến chỗ
chúng tôi, bảo chúng tôi mở cửa xe, để tự họ xếp va
li vào. Khi họ để va li xuống, có tiếng kim
loại va vào nhau. Tiếp đó Thiệu, Khiêm,
Polgar và Timmes, theo sau có nhiều nhân vật cao cấp
Nam Việt Nam, bước ra cửa, tiến nhanh vào xe hơi.
Thiệu ngồi xe tôi, ở ghế đằng sau. Giữa Timmes và
một người Việt Nam. Timmes khuyên ông ta: Tổng
thống ngồi thấp xuống để được yên ổn.
Chuyến đi chỉ có mấy phút nhưng tôi thấy rất dài.
Timmes nói với Thiệu những chuyện không đâu, về quá
khứ. Họ quen nhau năm 1961 trong một cuộc lửa trại
ngoài Quân khu I. Trong những năm sau, Timmes thường
cho Thiệu biết sự tiến triển của việc b́nh định:
"thưa tổng thống, đó là một thành tựu lớn của chúng
ta". Có một lúc Timmes giới thiệu tôi với Thiệu
như một người nhận định tin có tài ở sứ quán, một
người lái xe "có cỡ”! Mọi người bất đắc dĩ cười.
Tiếp đó, Thiệu nói tiếng Anh pha giọng Pháp, cho
rằng tất cả những người lái xe ở Sài G̣n đều có cỡ
nhưng xấu nhất, hay xấu hơn cả những kẻ thù điên ở
Bangkok.
Timmes hỏi: "Phu nhân và tiểu thư có khỏe không ạ? Thiệu trả lời:
Nhà tôi và cháu đi Luân Đôn mua ít đồ
cổ. Tôi nh́n rơ mặt cựu tổng thống qua tấm kính xe,
mắt sáng dưới ánh đèn ngoài đường, mùi rượu Scoth
thoáng bay trong xe có máy điều ḥa không khí.
Đến gần cổng vào sân bay Tân
Sơn Nhất, đèn phụ xe hơi rọi thẳng một lúc vào bức
tượng do người Việt Nam dựng để tưởng nhớ những
người Mỹ chết trong chiến tranh. Trên bức tượng có
ḍng chữ: "Chúng
tôi không bao giờ quên sự hy sinh cao cả những người
lính đồng minh".
Thiệu thở dài khá to và
quay mặt đi. Một lần nữa Timmes nhắc Thiệu ngồi thấp
xuống. B́nh thường, cơ quan an ninh Việt Nam đứng
gác ở sân bay không chú ư đến xe của sứ quán Mỹ.
Nhưng quá 21 giờ 30 rồi, quá giờ thiết quân luật hơn
một tiếng. Những người gác có thể ngăn xe lại. Trời
ơi, may quá, họ không làm ǵ cả. Đoàn người đi qua
đường băng. Người lái xe trước tắt đèn. Tôi cũng làm
theo. Trong một lúc tôi thấy dài ghê, tôi không
trông thấy ǵ cả. Chiếc xe Chevrolet đồ sộ của tôi
chạy một ḿnh trong đêm tối. Sau tôi mới quen dần.
Chợt tôi trông thấy Polgar chạy qua đường băng, cách
tôi mấy mét. Tôi vội hăm thắng. Bánh xe kêu ken két.
Xe dừng lại. Thiệu và người ngồi xe tôi bị xô vào
ghế trước. Những xe sau vội quay ngang, quay dọc bao
vây lấy xe tôi: một cảnh trong phim trinh thám.
Polgar chạy đến vẫy tay và mở cửa xe cho Thiệu.
Một máy bay bốn động cơ C.118 của không quân Mỹ đậu
gần đấy. Thủy quân lục chiến Mỹ mặc thường phục đứng
gác và đi theo đại sứ Martin, dàn hàng ngang bên
cạnh máy bay. Đại sứ chờ ở chân cầu thang. Khi
Polgar mở cửa sau xe tôi. Thiệu cúi xuống vỗ vai tôi,
nói giọng khàn khàn: cảm ơn! Ông ta ch́a tay ra, giữ
tay tôi một lúc ông ta cố nén không khóc. Tiếp đó
ông ta rời xe, bước lên cầu thang máy bay. Khiêm và
đoàn tùy tùng Thiệu đi sau, tay xách va li vai đeo
máy ảnh, xắc...
Sau này, Martin thuật lại:
"Tôi
chỉ chào tạm biệt ông ta. Không có câu nói lịch sự
nào. Chỉ một lời tạm biệt".
(trích từ tr. 533 – 537)
Ngày 12.4.2011
Lữ Giang
_____Ghi chú:
______________________________________
Mỗi tuần, nếu không t́m thấy
bài gởi đến, xin vào website
motgoctroi.com, mục
"Mỗi Tuần Một Chuyện",
(http://motgoctroi.com/mtmchuyen.htm)
sẽ t́m thấy đầy đủ các bài trong đó.
|