|
♠
www.motgoctroi.com
mến chào
bạn
Biết người biết ta
Lữ
Giang
Trong tuần vừa qua, Việt Hà của đài RFA đã mở ba
cuộc phỏng vấn rất hữu ích về các biến cố đang xẩy
ra ở
Biển Đông, đó là hai bài phỏng vấn hai giáo
sư môn quan hệ quốc tế là Nick Bisley tại trường đại
học La Trope của Úc và Renato Cruz De Castro thuộc
trường đại học De la Salle,
Philippines, và bài phỏng vấn ông Ian Storey,
một chuyên gia về Đông Nam Á, người đã tham dự diễn
đàn đối thoại Shangri La ở
Singapore vừa qua. Cả ba bài phỏng vấn này,
nhất bài phỏng vấn giáo sư Renato Cruz De Castro, có
thể giúp người Việt ở trong cũng như ngoài nước thấy
rõ hơn chuyện gì đang xẩy ra trên Biển Đông và phải
đối phó như thế nào, thay vì cứ tiếp tục suy nghĩ và
hành động theo cảm tính.
Dĩ nhiên, còn rất nhiều bài phân tích có giá trị của
các chuyên gia khác, nhưng có thể coi quan điểm của
ba chuyên gia này là tiêu biểu.
Trước hết, chúng tôi nói về quan điểm chính của ba
chuyên gia nói trên về mục tiêu và chiến thuật của
Trung Quốc và phương thức đối phó của các nước bị
xâm lấn, sau đó chúng tôi sẽ nói về phương thức đối
phó của nhà cầm quyền Việt Nam.
MỤC TIÊU CỦA TRUNG QUỐC
Trong bài phỏng vấn dưới đầu đề “Quan điểm của
Philippines về việc TQ gây hấn” được RFA phổ
biến ngày
10.6.2011, Giáo sư Renato Cruz De Castro đã
nói về mục tiêu gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông
như sau:
“Trung Quốc đang muốn cho
chúng ta thấy là họ là một cường quốc đang nổi lên
và chúng ta phải tôn trọng cái gọi là quyền trên
biển của họ cũng như sức mạnh trên biển của họ.
Họ đang nhắm vào hai nước đó là Việt Nam và tất
nhiên là Philippiness.
“Và mục đích là để khiến hai nước phải đồng ý làm
việc song phương với Trung Quốc. Đây là một cách để
phá hoại sự thống nhất của ASEAN đối với vấn đề biển
Đông...”
Còn ông Ian Storey, một chuyên gia về Đông Nam Á, đã
nói trong bài “Căng thẳng ở biển Đông có thể dẫn
đến xung đột quân sự” được RFA phổ biến ngày
11.6.2011 như sau:
“Nó có nhiều lý do khiến Trung Quốc trở nên hung
hăng hơn trong vài tháng qua, thứ nhất là Trung Quốc
có khả năng về quân sự để tạo sức ép khi đòi chủ
quyền trên biển Đông.
“Ngoài ra tôi cũng cho rằng Trung Quốc đang muốn thử
các nước đòi chủ quyền khác trong khu vực và cả Mỹ
nữa, vốn là nước đã lên tiếng quan ngại về căng
thẳng trên Biển Đông trong vòng 18 tháng qua.
Nói tóm lại, theo hai chuyên gia này, mục tiêu của
Trung Quốc là:
(1) Muốn cho các quốc gia liên hệ thấy quyền và sức
mạnh của họ trên biển.
(2) Thử xem phản ứng của các quốc gia liên hệ, kể cả
Mỹ, như thế nào.
CHIẾN THUẬT CỦA TRUNG QUỐC
Giáo sư Renato Cruz De Castro nói về chiến thuật của
Trung Quốc như sau:
“Trò chơi của họ là
muốn để chúng tôi rơi vào cái bẫy của họ, họ quấy
rối, gây khó dễ và đợi chúng tôi bắn phát đầu tiên,
và điều này đã xảy ra với Việt Nam vào hồi năm 1988
và Việt Nam đã phải chịu một tổn thất lớn. Cho nên
đây là trò chơi đợi bạn bắn phát đầu tiên và sau đó
họ sẽ nói là họ tự vệ.”
Cũng theo ông, chiến thuật thứ hai của Trung Quốc là
nói khác và làm khác, tức
“có sự thiếu nhất trí giữa
những gì mà họ tuyên bố và hành động thực tế trên
biển Đông”. Vào cuối tháng 5,
Bộ Trưởng Quốc Phòng TQ là Lương Quang Liệt đến thăm
Philippines và nói “mọi chuyện đều ổn” nhưng sau đó
“lại khác hoàn toàn và có thể sẽ có một sự leo thang
mới”.
Vụ tàu Trung Quốc đổ vật liệu xây dựng tại bãi đảo
Amy Douglas Reed vào cuối tháng 5 là một dấu hiệu
khác. Tuyên bố chung
của các nước ASEAN về ứng xử trên biển Đông năm 2002
(DOC) cấm các bên chiếm đóng các đảo và bãi
chưa chiếm đóng. Từ đó đến nay tất cả các bên đều
tuân thủ điều này. Nhưng Trung Quốc đã vi phạm DOC
nghiêm trọng. Các sự kiện liên quan đến tàu đánh cá
và tàu thăm dò của Việt Nam có thể leo thang thành
những xung đột vũ trang nghiêm trọng hơn. Ông nói:
“Chẳng hạn những tàu này gặp tàu Trung Quốc trong
tương lai và bắn nhau thì trên thực tế không có cơ
chế nào ngăn chặn những hành động này và đây là mối
nguy hiểm thực sự tại biển Đông, gây thiệt mạng, mất
ổn định trong khu vực, và gia tăng căng thẳng.
Ông nói thêm:
“Chúng ta cũng phải tính đến khả năng là Trung Quốc
có thể chia rẽ Asean bằng cách cung cấp trợ giúp tín
dụng, kinh tế cho các nước trong lục địa khác, những
nước không có quyền lợi gì trên biển Đông. Trung
Quốc cùng cần phải được thuyết phục trước tiên là họ
cần phải làm việc với cả ASEAN chứ không phải với
từng nước.”
Như vậy, chiến thuật của Trung Quốc có thể được tóm
lược vào các điểm chính sau đây:
(1) Gây hấn và đợi cho đối thủ bắn trước để ra tay.
(2) Đưa ra những tuyên bố hoà nhã nhưng sau đó làm
khác.
(3) Chia rẽ khối ASEAN bằng cách chỉ chấp nhận
phương thức thương thuyết song phương, chứ không làm
việc chung với cả ASEAN.
VỀ PHƯƠNG CÁCH ĐỐI PHÓ
Giáo sư Renato Cruz De Castro cho biết:
“Điều mà Philippines có thể làm là phát triển một hệ
thống tàu tuần tiễu để quan sát, tuần tiễu khu vực
biển Đông, nhưng nếu nói để trang bị đủ vũ khí phục
vụ chiến tranh trên biển thì lại là một vấn đề khác.
Tôi không nghĩ chúng tôi có thể làm được điều này
trong vòng 5 đến 10 năm nữa.
“Hiệp ước với Mỹ cũng
bảo vệ Philippines khỏi những tấn
công vào những tàu của Philippines ở trên biển hay
từ trên không, những tấn công này có thể bị coi là
tấn công vào nước Mỹ. Nhưng Trung Quốc có thể đe dọa,
quấy nhiễu nhưng liệu nó có leo thang thành tấn công
vũ trang hay không thì lại là một vấn đề khác.
“Xem xét phản ứng của Việt Nam với Trung Quốc không
thể quên vấn đề lịch sử và địa lý. So với Việt Nam
chúng tôi không có một lịch sử lâu dài nhiều tranh
chấp với Trung Quốc. Xét về mặt địa lý chúng tôi ở
xa Trung Quốc hơn rất nhiều so với Việt Nam.
“Ngoài ra trong đầu óc của người dân chúng tôi,
chúng tôi hiểu là chúng tôi được Mỹ bảo vệ qua hiệp
ước ký với Mỹ. Liệu trên thực tế nếu có đụng độ quân
sự với Mỹ thì chúng tôi có được thực sự bảo vệ không
thì có thể là vấn đề khác...
“Điều duy nhất mà
chúng ta có thể làm là cùng nhau tìm cách hạn chế
Trung Quốc, và tất nhiên là phải dựa
vào sức mạnh của Mỹ. Tuy nhiên nếu nhìn vào những gì
mà nước Mỹ đang phải đối mặt, nhất là thâm hụt ngân
sách thì chúng ta không thể không đặt câu hỏi là
liệu Hoa Kỳ sẽ vẫn còn
là cường quốc trên biển Thái Bình Dương trong vòng 3
cho tới 5 năm tới hay không? Và
trong trường hợp đó thì chỉ còn cách là chấp nhận
những cái gì không thể tránh khỏi, đó là một học
thuyết
Monroe kiểu Trung Quốc tại Đông Á.
“Nhưng điều tiếp theo là vậy chúng ta có thể làm gì,
Philippines có thể làm gì?
Chúng tôi không có khả năng về
quân sự vào lúc này ngay kể cả là để theo dõi các
hành động trên biển của Trung quốc.
Cho nên có thể là chúng ta biết điều gì có thể xảy
ra nhưng vậy thì chúng ta có thể làm gì?
“Rất khó để trả lời, Asean hoạt động trên nguyên tắc
bội số chung nhỏ nhất có nghĩa là tất cả những dàn
xếp đều phải thỏa mãn lợi ích quốc gia hay là có
tính đến lợi ích quốc gia của cả 9 thành viên khác.
Cho nên là Việt Nam, Philippines và chủ tịch hiện
tại của Asean phải đưa
ra được một sáng kiến gì đó để khiến các thành viên
khác tham gia.
Ông Ian Storey, một chuyên gia về Đông Nam Á, đã có
ý kiến như sau:
“Trong năm 2010 một loạt nước tại diễn đàn khu vực
ASEAN vào tháng 7 và hội nghị quốc phòng ASEAN vào
tháng 10 đã đưa ra các thông điệp tới Trung Quốc là
họ không hài lòng và quan ngại với thái độ của Trung
Quốc không chỉ trên biển Đông mà còn cả các vùng
biển khác.
“Có mong đợi là nếu có những chỉ trích đồng loạt như
vậy thì Trung Quốc sẽ xem xét lại chính sách của
mình nhưng thực tế họ đã không làm vậy.
Theo ông, các nước trong khu vực và thậm chí là cả
vùng đông bắc là Nhật Bản rất lo ngại về đòi hỏi của
Trung Quốc về lãnh thổ trên biển. Họ phải theo đuổi
một loạt các chiến lược như ngoại giao, họ nói
chuyện với Trung Quốc song phương và cả đa phương.
Một vài nước còn hiện đại hóa quân đội như để bảo vệ
mình trước Trung Quốc hoặc tiến tới gần với Mỹ, vì
Mỹ là nước duy nhất có thể cân bằng với Trung Quốc
trên
Biển Đông.
Giáo sư Nick Bisley dạy môn quan hệ quốc tế tại
trường đại học La Trope của Úc đã có ý kiền về khả
năng của Úc trong các biển động ở Biển Đông như sau:
“Tôi nghĩ rất khó có khả năng Úc sẽ can thiệp vào
những sự kiện đụng độ nhỏ trên biển Đông,
Úc không muốn tham gia về mặt
quốc phòng vào các khu vực nhạy cảm như biển Đông.
Úc sẽ rất miễn cưỡng trong chuyện này trừ khi có sự
hậu thuẫn của Liên Hiệp Quốc hay đa quốc gia.
“Thái độ của Úc như tôi biết được qua sự tiếp xúc
với giới chức chính phủ lúc này là đồng hành với
ASEAN để đạt được Bộ
Quy Tắc Về Ưng Xử (Code of
Conduct) trên biển Đông, hay có thể là một tuyên bố
mạnh hơn bản tuyên bố năm 2002. Điều này không phải
dễ vì có sự khác biệt giữa các nước thuộc khối, họ
cũng có tranh chấp, và thứ hai họ còn gặp khó khăn
với Trung Quốc và Mỹ. Vì thế, ông “không tin là một
COC có thể thỏa mãn được tất cả các bên có thể sớm
thành hình”.
Nhìn chung, ý kiến về phương thức đối phó với Trung
Quốc gồm những điểm chính sau đây:
(1) Khó có thể đối kháng với Trung Quốc bằng quân sự,
vì cả Việt Nam lẫn Philippines không có khả năng về
quân sự vào lúc này, ngay cả để theo dõi các hành
động trên biển của Trung quốc. Việt Nam đã đụng độ
với Trung Quốc năm 1988 và đã bị thiệt hại nặng nề.
(2) Nhờ sự bảo vệ của Mỹ: Giữa Philippines và Mỹ có
hiệp ước này 30.8.1951 bảo vệ các hòn đảo, tàu
thuyền và máy bay của Philippines trên Thái Bình
Dương khi bị tấn công, nhưng khi có đụng độ,
Philippines có thực sự được bảo vệ hay không thì có
thể là vấn đề khác.
(3) Cách tốt nhất là các nước ASEAN cùng nhau kiềm
chế Trung Quốc và phải dựa vào Mỹ. Nhưng cũng có
những khó khăn sau đây:
Về phía các nước ASEAN, phải đưa ra được một sáng
kiến gì đó để khiến các thành viên khác tham gia.
Về phía Mỹ: Nước này đang gặp khó khăn về ngân sách
không thể biết Mỹ còn là một cường quốc trên Thái
Bình Dương trong vòng 3 cho tới 5 năm tới hay không?
CÁCH ĐỐI PHÓ CỦA VIỆT NAM
VNCH (Miền Nam) và CSVN đều đã từng đối phó
với sự xâm chiếm lãnh hải của Trung Quốc, nhưng mỗi
bên có những khó khăn và thuận lợi khác nhau:
A.- Về phía VNCH trước
đây
Trong thời kỳ Pháp thuộc cũng như trong thời kỳ Mỹ
tham gia vào cuộc chiến Đông Dương, Trung Quốc không
bao giờ dám tranh chấp về lãnh hải với Việt Nam vì
lúc đó khả năng quân sự của Trung Quốc còn yếu kém.
Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết, chủ quyền
quốc gia được chuyển qua tay người Mỹ,
họ đã xử dụng những người chỉ
biết tuân theo chính sách của Mỹ,
nên khi Mỹ bỏ, không
phải chỉ có lãnh hải mà toàn bộ miền Nam đã bị mất.
B.- Về phía CSVN
Nằm trong hệ thống cộng sản quốc tế, CSVN bị lệ
thuộc vào hai nước đàn anh là Liên Sô và Trung Cộng.
Có thể nói, không có Trung Cộng, CSVN không thể
chiếm được miền Bắc năm 1954 và toàn Việt Nam năm
1975.
Để có phương tiện đánh chiếm miền Nam, CSVN đã phải
ngầm bán Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Tuyên
bố ngày 4.9.1958 của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân
Dân Trung Hoa về lãnh hải và Công Hàm ngày 14.9.1958
của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng công nhận tuyên bố này,
có thể được coi là một
thỏa ước công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của
Trung Quốc, mặc dầu trên phương diện pháp lý, hai
văn kiện này không có giá trị gì cả.
Lúc đó, CSVN đã coi việc đổi Hoàng Sa và Trường Sa
để lấy miền Nam là thượng sách.
Vì phải dãi nắng dầm sương với Trung Cộng từ năm
1949 đến nay, CSVN hiểu rõ Trung Cộng hơn bất cứ ai
hết. Cuốn “Sự thật
về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”
của Bộ Ngoại Giao CSVN được nhà xuất bản Sự Thật
xuất bản vào tháng 10 năm 1979 đã nói lên gần hết
mặt trái đàng sau của “tình hữu nghị Việt – Trung”
và chính sách xâm lược của Trung Quốc.
Các tài liệu được công bố trên một số cơ quan truyền
thông ở trong nước cho thấy các ban nghiên cứu của
CSVN đã nắm rất vững vấn đề Biển Đông, cách hành xử
của Trung Quốc, thái độ của khối ASEAN, thái độ của
Mỹ, v.v. Bên ngoài, đảng CSVN đang đi theo đường lối
chung: Kêu gọi các quốc gia ASEAN hợp tác để ngăn
chận sự bành trướng của Trung Quốc, kêu gọi tiến tới
thông qua một Quy Tắc Ưng Xử ở Biển Đông (Code of
Conduct – COC), yêu cầu Mỹ mạnh tay hơn đối với
Trung Quốc, v.v. Bên trong, đảng CSVN đang thăm dò
phản ứng của các bên để tùy cơ ứng biến.
DẬY MÀ ĐI HỠI ĐỒNG BÀO ƠI!
Hôm Chúa nhật 5.6.2011, đảng CSVN đã cho tổ chức một
cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở
Hà Nội và Sài Gòn dưới hình thức “quần
chúng nổi dậy” với hai mục tiêu chính: (1) Xả
xú bắp cho phong trào đòi lên án Trung Quốc, và (2)
thăm dò phản ứng của Trung Quốc.
Đây là một cuộc biểu tình được chuẩn bị rất kỹ càng.
Các thành phần có thể gây biến động đã bị lượm trước.
Các thành phần “không thể kiểm soát được” đã bị chận
lại trên đường đi đến nơi biểu tình. Các thành phần
tham dự biểu tình đã được lựa chọn. Một số nhân vật
“kỳ cựu” như Nguyễn Đình Đầu, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu
Đằng, Đình Vượng, Vương Đình Chữ, Đỗ Trung Quân,
Nguyễn Quốc Thái, Hồ Cương Quyết... được đưa ra để
làm cho cuộc biểu tình có thêm màu mè. Các biểu ngữ
và khẩu hiệu được hô cũng được giới hạn:
“Đã đảo Trung Quốc xâm
lược”, “Biển
Đông – Việt Nam”. Các bài hát được chọn
cũng chỉ có ba bài: “Lên
đàng"
(Lê Hữu Phước),
"Hành trình nối vòng tay lớn"
(Nguyễn Văn Hiên),
“Dậy mà đi”
(Nguyễn Xuân Tân):
Dậy mà đi, dậy mà đi
Ai chiến thắng không hề chiến bại
Ai nên khôn không khốn một lần
Dậy mà đi, dậy mà đi
Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi
Máy quay phim và máy chụp hình hoạt động liên tục,
nhiều nhân viên an ninh được cài vào trong đoàn biểu
tình. Một lực lượng an ninh lớn đã được chuẩn bị để
can thiệp khi có biến. Nhà cầm quyền rất sợ các phần
tử “phản động” hay bất mãn với chế độ biến cuộc biểu
tình chống Trung Quốc thành cuộc biểu tình chống chế
độ.
Một tuần sau, ngày
12.6.2011, một số người tưởng chính quyền đã
cho phép biểu tình chống Trung Quốc, nên tụ tập lại
ở Hà Nội và Sài Gòn để tiếp tục biểu tình. Nhưng bài
“Nỗi buồn ngày
biểu tình 12.6” được đài RFA
phổ biến ngày 13.6.2011 cho biết quanh khu Lãnh sự
quán Trung Quốc, công an và dân phòng đã ngập đường,
đông gấp 5 lần so với tuần trước. Ai đi tới gần LSQ
cũng bị công an ngăn cản... Tại khu Nhà Thờ Đức Bà
“có anh vừa hô “Hoàng Sa, Trường Sa” liền bị một anh
an ninh cầm tờ báo cuộn tròn đập bốp vào giữa mặt,
rồi áp giải đi luôn”.
Người Việt hải ngoại ở
Los Angeles,
San Jose và nhiều nơi khác cũng đã biểu tình
chống Trung Quốc, nhưng lòng hận thù Cộng Sản và sự
phản kháng Trung Quốc đã quyện lẫn vào nhau. Câu
phương châm “L'ennemi
de mon ennemi est mon ami!”
(Kẻ thù của kẻ thù tôi là bạn tôi) vẫn còn là
kim chỉ nam cho hành động, nên một số người cho
rằng chỉ cần phá sập chế độ cộng sản là mọi chuyện
sẽ được giải quyết. Đây là chỉ
một lực lượng nhỏ bé, hành động theo cảm tính, không
đường lối rõ rệt, không có lãnh đạo, không theo một
kế hoạch, chiến lược hay chiến thuật nào, nên không
gây ảnh hưởng gì đến cuộc tranh chấp ở Biển Đông
hiện nay.
Để thể hiện chủ quyền trên Biển Đông, ít ra trên
phương diện khai thác dầu lửa, Trung Quốc đã biểu
dương khí thế để buộc các nước liên hệ, nhất là
Philippines và Việt Nam, phải thương lượng
song phương với họ, chấp nhận chủ quyền của họ và họ
sẽ cho phép khai thác một số khu vực nào đó. Trong
khi đó, một số chuyên gia lại đề nghị chia vùng khai
thác trên biển đông, không tranh luận về chủ quyền,
nhưng Trung Quốc bác bỏ. Các nuớc ASEAN và Hoa Kỳ
muốn thi hành Tuyên bố
chung về Ưng Xử Giữa Các Bên ở Biển Đông 2002 (Declaration
on the Conduct of Parties - DOC) về giải quyết
các tranh chấp ở Biển Đông trong hoà bình và tiến
tới thông qua Quy Tắc
Ưng Xử ở Biển Đông (Code of
Conduct – COC), nhưng Trung Quốc không chấp nhận.
Thỉnh thoảng Trung Quốc lại gây rối ở Biển Đông để
đòi chủ quyền của Trung Quốc. Nếu các quốc gia liên
hệ phản ứng mạnh, Trung Quốc sẽ lùi lại, nhưng ít
lâu sau lại giở trò cũ. Con đường chông gai còn dài.
Ngày 14.6.2011
Lữ Giang
|