|
Nh́n người nghĩ đến
ta
Lữ Giang
Ngày 26.7.2010, Ṭa án quốc tế do
Liên Hiệp Quốc bảo trợ, xử vụ Khmer Đỏ ở Phnom Penh,
đă tuyên án Kaing Kek Eav, có biệt danh là Duch, cựu
trưởng nhà tù Tuol Sleng, 35 năm tù về tội ác chống
nhân loại và vi phạm Công Ước Genève ngày 12.8.1949
về việc bảo vệ dân sự trong thời gian chiến tranh.
Như vậy người Kampuchia, mặc dầu là
một dân tộc nhỏ bé, đă thành công bước đầu trong
việc truy tố và xét xử các lănh tụ Khmer Đỏ có trách
nhiệm về các tội ác chống nhân loại. Trong khi đó,
người Việt chống cộng ở hải ngoại suốt ngày la hét
vang trời đ̣i truy tố Đảng CSVN ra trước ṭa án quốc
tế về tội ác chống nhân loại trong vụ Cải Cách Ruộng
Đất 1955 – 1956 (với 172.008 nạn nhân) và
trong biến cố Tết Mậu Thân năm 1968, nhưng chẳng làm
được ǵ cả! Tại sao?
Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng
tôi xin tŕnh bày qua những nét chính về thủ phạm
Kaing Kek Eav, nhà tù Tuol Sleng, những ǵ đă xẩy ra
trong nhà tù này, và những nỗ lực trong việc truy tố
các lănh tụ Khmer Đỏ.
THỦ
PHẠM KAING KEK EAV
Đầu năm 1999, tại một ngôi làng ở tây
bắc Kampuchia, một người đàn ông đứng tuổi đă đến
nói chuyện với một phóng viên người Anh là Nic
Dunlop. Ông ta tự giới thiệu là Hong Pen, một cựu
giáo viên đến từ thủ đô Phnom Penh. Ông ta mặc một
cái áo blouson có in h́nh một tổ chức cứu trợ của Mỹ
và nói tiếng Anh trôi chảy. Nhưng phóng viên người
Anh này đă chợt nhận ra khuôn mặt ông ta gióng với
bức ảnh mà anh vẫn mang theo vài tháng nay. Đó là
ảnh của Duch, người đứng đầu nhà tù Tuol Sleng khét
tiếng. Hành tŕnh trốn chạy của Duch kết thúc, y bị
bắt giữ.
Duch có tên khai sinh là Kaing Guek
Eav, sinh năm 1943 tại tỉnh Kampong Thom. Từ lúc c̣n
nhỏ Duch rất giỏi toán và luôn đứng đầu lớp. Lớn lên,
Duch làm giáo viên trung học. Trong thập niên 1960,
Duch từng bị bắt tạm giam vài tháng v́ lư do hoạt
động chính trị.
Ngày 17.4.1975, quân đội Khmer Đỏ
chiếm được Phnom Penh, và Duch được cử làm trại
trưởng trại tù có biệt danh là S21 ở phía nam Phnom
Penh, sát hại khoảng 14.000 người.
Trong các cuộc thẩm vấn trước phiên
toà, Duch luôn nói rằng ông ta chỉ làm theo mệnh
lệnh: “Không ai có thể
chuyển tù nhân đến nhà tù S21 nếu như không có mệnh
lệnh từ các lănh đạo Khmer Đỏ”. Tuy nhiên,
khi c̣n “làm mưa làm gió”, Duch đă ghi chép lại rất
cẩn thận cách thức “xử lư” các nạn nhân trong hàng
ngàn tài liệu c̣n thu giữ lại sau khi chế độ Khmer
Đỏ sụp đổ. Trong số đó có 1 trang tài liệu ghi đầy
danh sách các tù nhân với lời phê và chữ kư của Duch:
“Giết hết chúng đi”!
Năm 1979, khi bộ đội Việt Nam tiến
vào Phnom Penh, Khmer Đỏ bỏ chạy về hướng tây bắc,
trong đó có Duch. Ông ta đă sống nhiều năm tại vùng
biên giới giáp Thái Lan, học tiếng Anh, đôi khi có
làm cho các tổ chức cứu trợ, rồi trở lại làm giáo
viên. Khi nhà báo Nic Dunlop nhận diện được Duch vào
tháng 4 năm 1999 như đă nói trên, Duch đang định cư
cùng gia đ́nh ở Battambang. Tháng 7 năm 2007, Duch
chính thức bị truy tố về tội ác chống nhân loại và
tội phạm chiến tranh.
Khi tuyên án, Thẩm phán Nil Nonn, Chủ
Tịch Hội Đồng Xét Xử (gồm 5 thẩm phán) cho
biết Ṭa đă giảm án 5 năm tù giam v́ quân đội
Kampuchia đă bắt giam Duch từ ngày 10.5.1999 đến
ngày 30.7.2007, và Duch có ăn năn và hợp tác với Ṭa.
Ông nói: “Ṭa có quyết định
kết án có thời gian rơ ràng chứ không kết án tù
chung thân. Nguyên nhân giảm án là v́ có sự hợp tác
của Duch với Ṭa; sự chấp nhận tội, biểu hiện ăn năn.”
Theo AFP, khi ṭa tuyên án, bị cáo đă
không tỏ ra xúc động, trong lúc nhiều người có mặt
trong phiên ṭa đă bật khóc và cho rằng, bản án 35
năm tù là quá nhẹ so với tội ác ông ta đă gây nên.
Ngoài Kaing Kek Eav ra, c̣n bốn cựu
lănh đạo cao cấp của Khmer Đỏ c̣n sống sót, cũng bị
truy tố và xét xử như Kaing Kek Eav, đó là:
(1) Khieu Somphorn, cựu Chủ Tịch
Nước,
(2) Nuôn Chea, cựu Thủ Tướng. Theo
Duch, Nuon Chea là nhân vật chính yếu của các vụ
giết chóc.
(3) Ieng Sary (anh vợ của Pol
Pot): cựu Phó Thủ Tướng và Bộ Trưởng Bộ Ngoại
Giao.
(4) Bà Ieng Thirith, vợ của Eang
Sary, Bộ Trưởng Các Vấn Đề Xă Hội.
VÀI
NÉT VỀ NHÀ TÙ TUOL SLENG
Nhà tù Toul Sleng có tên chính thức
là “Security Prison 21”, viết tắt là S21, có
nghĩa là Nhà Tù An Ninh 21. Chữ Toul Sleng theo
tiếng Miên là “Đồi của Những
Cây Có Chất Độc” (Hill of the Poisonous
Trees hay Strychnine Hill). Nhà tù này nằm khuất
trong khu phố nhỏ ở Toul Svay Prey, phía nam Phnom
Penh và khá lạc lơng với cảnh quan xung quanh v́ nó
quá cũ kỹ, xập xệ với những hàng rào kẻm gai bao
quanh.
Năm 1962, trại tù Toul Sleng vốn là
trường trung học Ponhea Yat. Qua thời kỳ chế độ Lon
Nol, trường được đổi tên thành Trường trung học Toul
Svay Prey. Đến tháng 5 năm 1976, trường được chính
quyền Khmer Đỏ biến thành nhà tù với tên gọi là Nhà
Tù An Ninh S21.
Trại tù Toul Sleng có diện tích
240.000 thước vuông, dài 600m, ngang 400m, gồm 4 dăy
nhà chính và một số nhà phụ xung quanh. Những dăy
buồng giam dài được xây kín bằng gỗ, gạch san sát
nhau ch́m trong bóng tối. Nơi đây được dùng làm nơi
giam giữa và tra tấn những thành phần bị gọi là
“phản bội”.
Theo tài liệu của Trung tâm Tư liệu
Kampuchia, trong thời gian 4 năm, nhà cầm quyền của
Khmer Đỏ đă giam giữ tại đây tổng cộng 10.499 người
(chưa tính khoảng 2.000 trẻ em bị giết) thuộc nhiều
quốc tịch khác nhau như Việt Nam, Lào, Thái, Ấn Độ,
Pakistan, Anh, Mỹ, Canada, New Zealand, Australia,
nhưng phần lớn là người Kampuchia.
Họ là nông dân, công nhân, học sinh,
thợ cơ khí; các thành phần trí thức như kỹ sư, giáo
viên, giáo sư..., trong đó có cả công sứ, nhân viên
ngoại giao. Toàn bộ thành viên gia đ́nh của phạm
nhân, kể cả trẻ em mới đẻ, cũng bị đưa vào giam giữ
trong nhà tù.
Theo người hướng dẫn, một số tù nhân
bị giam trong các buồng nhỏ có diện tích 0,8m x 2m,
bị xích chân bằng sợi xích to chôn chặt vào tường
hoặc nền ximăng. Một số khác bị giam trong các buồng
lớn có diện tích 8m x 6m, bị xích một hoặc cả hai
chân vào những thanh cùm ngắn hoặc dài.
Cùm nhỏ dài chừng 0,8m - 1m được
thiết kế để xích khoảng 4 người, cùm dài 6m th́ xích
20 - 30 người. Mọi tù nhân đều phải nằm ngủ trên sàn
nhà xi-măng lạnh. Mỗi sáng, từ 4 giờ 30 mọi tù nhân
phải thức dậy, tụt quần xuống tận đầu gối để cai tù
kiểm tra, sau đó phải thực hiện một số động tác thể
dục như đứng lên ngồi xuống, giơ tay cao cho dù chân
vẫn bị cùm.
Mỗi ngày cai tù kiểm tra tù nhân 4
lần và thay ngay các cùm bị lỏng. Tù nhân nào vi
phạm các quy định do chúng đưa ra, sẽ bị phạt từ 20
- 60 gậy. Muốn thay đổi tư thế khi ngủ, tù nhân cũng
phải xin phép của cai tù. Cách 2 - 3 ngày hoặc thậm
chí nửa tháng tù nhân mới được tắm v.v...
Sự giết người man rợ của Khmer Đỏ c̣n
in dấu đậm nét tại các pḥng tra tấn nạn nhân. Dăy
pḥng này gồm 14 pḥng, chỉ kê vỏn vẹn một cái
giường sắt và hộp đựng đồ tra tấn. Nạn nhân bị gọi
lên pḥng này bị tra tấn rất man rợ. Một trong những
h́nh thức tra tấn phố biển là rút móng tay, móng
chân; đổ axít vào mặt, khoét ngực để thả rết vào;
dùng búa, ŕu, roi đánh đập... Những vết máu của nạn
nhân bắn ra vẫn c̣n in đậm trên tường và trần nhà.
Hiện trên tường của 14 căn pḥng đều
có treo một bức ảnh, đó chính là những h́nh ảnh của
14 nạn nhân cuối cùng bị giết tại mỗi pḥng tra tấn
trước khi bộ đội Việt Nam tiến vào khu vực này.
Những bức ảnh trên do phóng viên chiến trường Việt
Nam chụp. 14 nạn nhân này được chôn cất ngay tại sân
của nhà tù S21.
Ngày 26.2.2008, Duch, trưởng trại tù
S21, đă dẫn một phái đoàn của ṭa án đi xem lại nhà
tù này. Y đă bật khóc khi nh́n lại cảnh cũ.
TIẾN TR̀NH CỦA TỘI PHẠM
Các tài liệu thu được cho thấy có hơn
15.000 người đă bị giam tại nhà tù Francois Toul
Sleng S21 từ năm 1975-1979. Người ta t́m thấy có
khoảng hơn 6.226 hồ sơ tù nhân, 4.186 tài liệu khai
cung, 6.147 bức ảnh tù nhân và những ǵ c̣n lại tại
hiện trường.
Những người bị đưa đến Tuol Sleng là
đă bị coi như có tội. Họ được cân, chụp h́nh và sau
đó bị thẩm vấn. Họ phải viết lời thú tội về những ǵ
gọi là “sự phản bội” đối với Khmer Đỏ. Các tù nhân
quan trọng được cho sống lâu hơn để đảm bảo nhận tội.
Những người khác có số phận ngắn ngủi hơn nhưng điểm
cuối của cuộc hành tŕnh là như nhau.
Tù nhân bị đưa ra Cánh Đồng
Choeung Ek thuộc quận Dankoar, cách thành phố
Phnom Penh vài kilômet và bị hành quyết tập thể. V́
thế, nơi đây được gọi “Killing
Fields of Cheung Ek” (Cánh đồng chết
Cheung Ek)
Tù nhân bị cắt cổ và đập đầu. Trẻ em
bị quăng đập đầu vào gốc cây. Có 86 ngôi mộ tập thể
được phát hiện tại đây. Có các loại mộ dành cho đàn
ông, phụ nữ và trẻ em riêng. Một trong những cáo
trạng tại phiên toà đă ghi lại như sau:
“Nhiều nhân chứng kể
tù nhân đă bị giết hại bằng dùi sắt, trục xe hay ống
nước đánh vào cổ. Tù nhân sau đó bị đá xuống những
cái hố, nơi họ được tháo cùm. Cuối cùng, những tên
lính gác cắt cổ và rạch bụng họ. Sau khi các cuộc
hành quyết chấm dứt, lính gác lấp hố lại”.
Ngoài ra, nhóm Khmer Rom cũng
đă đứng lên tố cáo các cựu lănh tụ Khmer Đỏ đă thực
hiện một chính sách diệt chủng đối với họ.
Các tài liệu tại Trung tâm tài liệu
Kampuchia cho thấy có ít nhất khoảng từ 7 đến 8
ngh́n người Khmer Krom bị giết. Tuy nhiên, v́ trung
tâm này chỉ mới nghiên cứu ở một số tỉnh nên số liệu
chưa đầy đủ.
Những người Khmer Krom nói rằng
nguyên nhân khiến Khmer Đỏ thù ghét Khmer Krom là v́
họ cho rằng Khmer Krom là người không rơ nguồn gốc
và có quan hệ với Việt Nam là kẻ địch của họ, nên
không thể tin tưởng được.
Các lănh tụ Khmer Đỏ đă ra lệnh dời
những người Khmer Krom ra khỏi một số tỉnh như Svay
Riêng và Prey Veang và sau đó đă giết họ ở huyện
Trăm Koh thuộc tỉnh Takeo, một tỉnh gần biên giới
Việt Nam.
Ông Andrew Cayley, đồng ủy viên Công
Tố Viện Toà Án xử xử vụ Khmer Đỏ đă đồng ư cáo buộc
thêm các cựu lănh tụ Khmer Đỏ về tội diệt chủng đối
với người Khmer Krom. Ông nói:
“Khi Ṭa án xét xử vụ án sau, chúng
tôi sẽ mời người Khmer Krom đến làm chứng, cho họ
nói ra những nỗi thống khổ của họ đă được gặp trong
chế độ Khmer Đỏ. Chúng tôi làm như vậy là muốn cho
cả thế giời nghe và nh́n thấy sự mất mát, nỗi thống
khổ của người Khmer Krom.”
LỜI
KHAI CỦA CÁC NHÂN CHỨNG
Một số nạn nhân của nhà tù Toul Sleng
đă cho Ṭa biết những ǵ đă xẩy ra trong nhà tù này.
Sau đây là lời khai của ba nạn nhân c̣n sống sót:
Ông Bou Meng, một họa sĩ, đă kể lại
trước Toà giai đoạn 18 tháng ông sống tại trại tù
S-21. Ông bị đưa vào đây vào giữa năm 1977. Tại đây
ông bị cùm chung với những người khác vào một thanh
sắt. Có khoảng từ 30 tới 40 người trong pḥng. Ông
thấy tại một góc pḥng có một người nước ngoài da
trắng, cao. Người nào cũng được nuôi bằng một khẩu
phần ít oi nên rất gầy ốm và kiệt sức.
Tất cả đều bị tra tấn, đánh đập bằng
gậy gộc, roi vọt và bị giật điện. Có người bị rút
móng chân. Mục đích của việc tra tấn là buộc tù nhân
phải thú nhận đă tham gia những âm mưu không có thực
như điệp viên của KGB hay CIA chống lại tổ quốc
Kampuchia. Sau khi thú nhận, tù nhân sẽ bị đưa hành
quyết.
Khi vị thẩm phán chủ tọa phiên ṭa
hỏi ông có bao giờ họ cho ông biết lư do tại sao ông
và vợ bị bắt hay không, ông trả lời:
“Người ta không cho tôi biết điều ǵ
cả. Người ta chỉ cho tù nhân biết rằng Nhà Nước, tức
Ăng Ca, thấy mọi sự và biết hết mọi sự. Tôi hỏi: “Vợ
tôi và tôi đều là những trẻ mồ côi. Xin cho biết
chúng tôi đă phạm sai lầm ǵ?” Họ trả lời: “Anh là
kẻ đáng khinh bỉ. Anh không được hỏi. Anh phải biết
rằng Ăng Ca có nhiều mắt như mắt trên trái thơm vậy.
Nếu anh không phạm sai lầm Ăng Ca không bao giờ bắt
anh”.
Ông Vann Nath, cũng là một họa sĩ,
cho ṭa biết pḥng giam của ông là một pḥng lớn, có
tới 60 tù nhân bị cùm chung. Các tù nhân lần lượt bị
chết dần chết ṃn. Ban đêm lính gác tù vào tháo cùm
các xác chết và đưa ra khỏi pḥng. Ông vẫn phải ăn
và nằm bên cạnh các xác chết.
Sau một tháng bị giam giữ, bổng nhiên
một lính gác tới mở cùm và dẫn ông đi. Ông tưởng
ḿnh bị đưa đi giết. Nhưng may mắn thay, trưởng trại
cho ông làm việc chung với ông Bou Meng để vẽ các
bức họa khổng lồ về các lănh tụ cao cấp.
Trong khi đó, ông Chum Mey, một thợ
máy, cho biết ông cũng bị tra tấn và bị buộc phải
nhận tội tham gia vào hệ thống gián điệp của KGB và
CIA nhằm lật đổ nhà nước và sắp bị đưa đi hành quyết.
Nhưng lúc đó Duch cần một người có thể sửa máy may,
bơm nước và máy đánh chữ nên ông được cho ra làm
việc và nhờ đó sống sót.
Vụ án Khmer Đỏ là một chuyện dài gồm
nhiều tập, trên đây chỉ là những nét chính. Khieu
Somphorn, cựu Chủ Tịch Nước thời Khmer Đỏ nói
rằng chế độ Maoist ở Kampuchia do Pol Pot lập ra
trong những năm 1975-1979 đă xóa bỏ tôn giáo, trường
học, tiền tệ để lập ra kinh tế nông nghiệp, và Pol
Pot phải chịu trách nhiệm đối với tất cả các chính
sách, dù đúng hay sai. Nhưng Khieu Somphorn không
nh́n nhận trách nhiệm cá nhân.
VƯỢT QUA NHỮNG
KHÓ KHĂN
Hiện nay, không có ṭa án quốc tế nào
có quyền truy tố và xét xử các tội phạm của Khmer Đỏ.
Ṭa Án H́nh Sự Quốc Tế (International
Criminal Court) thường trực mới được thành
lập ngày 17.7.1998 tại Rome để xét xử:
(1) tội diệt chủng (crime
of genocide),
(2)
các tội chống nhân loại (crimes against humanity),
(3)
các tội phạm chiến tranh (war crimes),
(4)
tội xâm lăng (the crime of aggeression).
Tuy nhiên, v́ h́nh luật không có
hiệu lực hồi tố, nên ṭa án này không thể xét xử
các tội phạm xẩy ra trước khi hiệp ước ngày
17.7.1998 có hiệu lực. Do đó, phải áp dụng luật
Kampuchia để xét xử. Đây là một vấn đề rắc rối.
Liên Hiệp Quốc thấy rằng các thẩm
phán Kampuchia không đủ khả năng để điều tra và xét
xử một vụ án như vậy. Vă lại, họ phải chịu nhiều áp
lực nên không thể xét xử một cách công bằng được, v́
thế Liên Hiệp Quốc nhất quyết đ̣i thành lập một
ṭa án hổn hợp để xét xử vụ này. Lúc đầu chính
quyền Kampuchia nhất quyết chống lại, Tuy nhiên, do
áp lực của LHQ và các quốc gia Tây phương, ngày
4.10.2004 Chính phủ Kampuchia mới thông qua một đạo
luật thành lập ṭa án hổn hợp để xét xử các lănh tụ
Khmer Đỏ. Thành phần ṭa án có 27 người gồm các thẩm
phán và công tố viên của cả Kampuchia lẫn quốc tế,
trong đó số thẩm phán quốc tế là 10 người do LHQ
chỉ định. Ngày 7.4.2006, các thẩm phán và công tố
viên này đă tuyên thệ để bắt đầu tiến tŕnh thụ lư
vụ án.
Trong suốt 35 năm qua, gần như lúc
nào người Việt chống cộng ở hải ngoại cũng dọa truy
tố các lănh tụ CSVN ra toà án quốc tế về tội ác
chiến tranh và tội ác đối với nhân loại, nhưng chẳng
ai làm được ǵ cả v́ những lư do chính sau đây:
1.- Người Việt chống cộng không quan tâm đến
việc thiết lập hồ sơ vi chứng tội phạm để truy tố.
Trong thời gian từ 1968 đến 1975,
chính phủ VNCH có thừa phương tiện để lập vi chứng
các tội ác đă xẩy ra trong biến cố Tết Mậu thân,
nhưng chẳng ai làm.
Các sự kiện do các kư giả hay các nhà
khảo cứu ghi lại chỉ được coi như là những thông tin
(information) không có giá trị pháp lư để
truy tố và xét xử. Những lời lên án và chửi bới Cộng
Sản dĩ nhiên là hoàn toàn vô giá trị.
2.- Không xác định
được ṭa án có thẩm quyền xét xử
Như đă nói ở trên, Ṭa Án H́nh Sự
Quốc Tế mới được thành lập năm 1998, trong khi các
tội phạm của các lănh tụ CSVN đă xẩy ra trong các
năm 1955 – 1956 và năm 1968, do đó toà này không có
thẩm quyền xét xử, v́ h́nh luật không có hiệu lực
hồi tố.
3.- Sai lầm về phương diện tuyên
truyền
Người Kampuchia có hai tác phẩm danh
tiếng là cuốn “Survival
in the Killing Fields” (Sống c̣n
trong Các Cánh Đồng Chết) của Haing Ngor, Roger
Warner, và cuốn “When
Broken Glass Floats – Growing up under the Khmer
Rouge” (Khi mảnh chai nổi lên –
Lớn lên dưới chế độ Khmer Đỏ) của Chanrithy Him,
ghi lại những điều mắt thấy tai nên đă đánh động
được lương tâm nhân loại. Trong khi đó, Khối Quân Sử
thuộc Pḥng 5 Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đă biên soạn
rất công phu cuốn “Tổng
Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng Mậu Thân
1968” nhưng không ghi lại bằng chứng
của các tội ác mà chỉ ghi lại những trận đánh với
kết luận “ta thắng địch thua”, nên chẳng gây được
tiếng vang nào.
Người Kampuchia có một Trung Tâm Tư
Liệu do ông Chhang Youk làm giám đốc, hoạt động độc
lập, có nhiệm vụ truy tầm các bằng chứng về các tội
phạm của Khmer Đỏ. Người Việt chống cộng có văn hoá
và cuộc sống cao hơn người Kampuchia, nhưng không
chịu làm việc đúng theo phương pháp khoa học, cứ
ngồi chửi Cộng Sản vung xích chó và “biểu
dương khí thế”, vạn sự đều trông chờ vào Anh
Hai Nhân Quyền và Anh Hai Chống Cộng (nhưng luôn lật
lộng), nên không thể đạt được những kết quả mà người
Kampuchia đang đạt được.
Lữ Giang
Ngày 27.7.2010
|