♠
www.motgoctroi.com
mến chào bạn
Một bước khởi đầu?
( Tái lập Ṭa Khâm Sứ?
)
Lữ Giang
Khóa họp ṿng thứ II của Nhóm Làm Việc Chung giữa Việt
Nam và Ṭa Thánh đă diễn ra tại Vatican trong hai ngày
23 và 24.6.2010. Khóa họp được đặt dưới sự đồng chủ tọa
của 2 vị là Đức Ông Ettore Balestrero, Thứ Trưởng Ngoại
Giao Ṭa Thánh, Trưởng đoàn Ṭa Thánh, và Ông Nguyễn
Quốc Cường, Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam, Trưởng đoàn
Việt Nam. Hai bên đă thảo luận nhiều vấn đề, trong đó có
việc tiến tới thiết lập quan hệ ngoại giao song phương.
Phiên họp đă đem lại một kết quả cụ thể được nhiều người
chú ư: Hôm 26.6.2010 Phủ Quốc Vụ Khanh Ṭa Thánh ra
thông báo cho biết:
“Hai bên cũng đă có những cuộc thảo luận đào sâu và
toàn diện về các quan hệ ngoại giao song phương. Để đào
sâu quan hệ giữa Ṭa Thánh và Việt Nam, cũng như các mối
quan hệ giữa Ṭa Thánh và Giáo Hội địa phương,
đă có sự đồng ư rằng trong bước đầu, một Đại Diện không
thường trú của Ṭa Thánh cho Việt Nam sẽ được Đức Thánh
Cha chỉ định.”
(Zenit.org ngày 27.6.2010)
Qua bản thông báo này, một số câu hỏi đă đặt ra:
(1) Vị đại diện của Ṭa Thánh cho Việt Nam
(Representative of the Holy See for Vietnam)
được nói trong bản thông báo sẽ là ai và có những nhiệm
vụ ǵ?
(2) Vị đại diện sẽ là một Sứ Thần Ṭa Thánh
(Apostolic Nuncio),
tức một đại diện về ngoại giao, hay chỉ là một Khâm
Sứ Toà Thánh (Apostolic Delegate)
có nhiệm vụ liên lạc giữa Ṭa
Thánh và Giáo Hội địa phương mà thôi?
(3) Đại diện không thường trú nghĩa là ǵ? Tại sao lại
cử đại diện không thường trú?
Như chúng ta đă biết, quy chế bang giao quốc tế được ấn
định do “Công Ứớc Vienna về Quan Hệ Ngoại Giao”
(Vienna Convention on Diplomatic Relations)
ngày 4.8.1961. Do đó, ngoài
các quy định của Giáo Luật, Ṭa Thánh cũng phải áp dụng
công ước này. Nhưng tổ chức về ngoại giao của Ṭa Thánh
khá phức tạp, v́ ngoài quan hệ giữa quốc gia với quốc
gia, c̣n có quan hệ giữa Ṭa Thánh và các giáo hội địa
phương. Vậy trước hết, chúng tôi xin tŕnh bày qua khái
niệm tổng quát về đại diện ngoại giao, đặc biệt là đại
diện của Ṭa Thánh, trước khi nói về chức vị “Đại
Diện không thường trú” sẽ được Đức Thánh Cha chỉ
định và bước đi mới giữa Toà Thánh và Việt Nam,
ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO
Nói một cách tổng quát, đại diện ngoại giao
(diplomatic representative) là
một viên chức ngoại giao cao cấp của một quốc gia, hoặc
được phái đến làm việc tại một quốc gia khác hay tại các
tổ chức quốc tế, hoặc được gởi đi tham dự các hội nghị.
Đại diện ngoại giao gồm nhiều chức vị khác nhau, nhưng
có hai nhân vật quan trọng nhất, đó là Đại Sứ
(Ambassador)
và Đại Sứ Đặc
Mệnh Toàn Quyền
(Ambassador extraordinary and
plenipotentiary hay Ambassador at large).
Đại Sứ là một viên chức ngoại giao được quốc gia
này gởi đến một quốc gia khác để thực hiện một sứ mệnh
hay làm đại diện thường trực cho quốc gia đó. Đại Sứ
được chính quyền sở tại công nhân sau khi tŕnh ủy nhiệm
thư. C̣n Đại Sứ Đặc Mệnh Toàn Quyền là một viên
chức ngoại giao được trao những nhiệm vụ đặc biệt, có
toàn quyền để thương lượng và kư kết các thỏa ước thay
cho chính quyền của đương sự, hoặc tham dự các hội nghị
quốc tế.
Điều 5 khoản 1 của Công Ước Vienna có quy định rằng sau
khi thông báo cho quốc gia tiếp nhận, quốc gia gởi một
đại diện ngoại giao đi có thể chỉ định viên chức này
đại diện tại hơn một quốc gia, trừ khi có sự phản
đối của quốc gia tiếp nhận. Nói một cách khác, quốc gia
có thể cử một đại diện làm đại diện tại nhiều quốc gia
khác nhau. V́ thế chúng ta mới thấy có danh từ
“Resident Representative”
(Đại diện Thường Trú) và
“Non-Resident Representative” (Đại Diện
Không Thường Trú).
Đại Sứ Thường Trú (Resident
Ambassador) là một đại sứ cư
ngụ tại ngay quốc gia đương sự đă tŕnh ủy nhiệm thư.
C̣n Đại Sứ Không Thường Trú
(Non-Resident Ambassador)
không cư
ngụ tại quốc gia tŕnh ủy nhiệm thư mà cư ngụ tại một
quốc gia lân cận. Như vậy một đại sứ thường trú có thể
cùng một lúc làm đại sứ không thường trú tại một hay
nhiều quốc gia khác. Nắm vững nguyên tắc này, chúng ta
có thể hiểu về vai tṛ đại diện không thường trú của Ṭa
Thánh tại Việt Nam.
SỨ THẦN T̉A THÁNH
Chương 5 của Bộ Giáo Luật, từ điều 362 đến 366, nói về
các phái viên của Đức Giáo Hoàng
(Legates of the Roman Pontiff).
Về phương diện ngoại giao, những điều khoản này cũng phù
hợp với “Công Ứớc Vienna về Quan Hệ Ngoại Giao”
năm 1961. Giáo luật chỉ ấn định rơ hơn về nhiệm vụ của
phái viên Ṭa Thánh mà thôi.
Phái viên của Ṭa Thánh khi được cử đi làm nhiệm vụ
ngoại giao không được gọi là Đại Sứ mà được chính thức
gọi là Apostolic Nuncio, nhưng nhiều khi c̣n được
gọi là Papal Nuncio hay Nuncio, được dịch
ra tiến Việt là Sứ Thân Ṭa Thánh. Danh từ này
cũng được chính thức dùng trong Công Ước Vienna 1961
(điều 14).
Chữ Nuncio phát xuất từ tiếng Latin là Nuntius có
nghĩa là phái viên, sứ giả, người được sai đi
(envoy). Vị được bổ nhiệm
làm Sứ Thần Toà Thánh thường là một giám mục hay tổng
giám mục toà hiệu (titular).
Công ước Vienna coi Sứ Thần Toà Thánh có vai tṛ và chức
năng gióng như Đại Sứ của các quốc gia khác. Tập tục cho
phép quốc gia tiếp nhận coi Sứ Thần Toà Thánh như là
Niên Trưởng Ngoại Giao Đoàn
(Dean of the Diplomatic Corps).
Hiện nay, Ṭa Thánh đă có quan hệ ngoại giao với 180
quốc gia, trong đó có 74 quôc gia có đại diện không
thường trú
(non-resident)
Ngoài nhiệm vụ ngoại giao như một đại sứ, Sứ Thần Ṭa
Thánh c̣n có nhiệm vụ liên lạc giữa Ṭa Thánh và các
giáo phận tại địa phương nơi được bổ nhiệm đến. Điều 364
Bộ Giáo Luật quy định:
“Nhiệm vụ chính yếu của phái viên Ṭa Thánh là lo
liệu để cho dây hợp nhất giữa Ṭa Thánh với các Giáo Hội
địa phương mỗi ngày được thêm bền chặt và đắc lực hơn...”
Điều 365 c̣n quy định thêm rằng phái viên của Đức Giáo
Hoàng kiêm nhiệm việc đại diện ngài bên cạnh các quốc
gia, ngoài việc phải tuân theo theo các quy tắc của luật
quốc tế c̣n có nhiệm vụ “cổ vỏ và duy tŕ mọi liên
lạc giữa Ṭa Thánh và chính quyền”. Khi giải
quyết những vấn đề này, tuỳ theo hoàn cảnh đ̣i hỏi, phái
viên của Đức Giáo Hoàng nên tham khảo ư kiến và lời bàn
của các Giám Mục trong khu vực và thông báo cho các ngài
biết những diễn tiến của t́nh h́nh.
KHÂM SỨ T̉A THÁNH
Tại các quốc gia chưa có quan hệ ngoại giao với
Ṭa Thánh, Ṭa Thánh thường gởi đến đó một Khâm Sứ
Toà Thánh
(Apostolic Delegate)
để liên lạc với Giáo Hội tại quốc gia đó. Vị Khâm Sứ
cũng có một cấp bậc trong Giáo Hội ngang với Sứ Thần,
nhưng không được hưởng quy chế ngoại giao. Tuy nhiên,
một vài quốc gia cũng đă dành cho vị Khâm Sứ một số đặc
quyền về ngoại giao. Nhiệm vụ của một khâm sứ đối với
Giáo Hội địa phương cũng là nhiệm vụ nói ở điều 364 và
365 của Bộ Giáo Luật như đă trích dẫn trên.
Trong hiện tại, Ṭa Thánh có một khâm sứ thường trú
(resident) tại
Jerusalem and Palestine, các khâm sứ không thường trú (non-resident) tại 8 quốc gia là Botswana, Brunei,
Burma, Comoros, Laos, Malaysia, Mauritania, Somalia, và
ba vùng lănh thổ là Arabian Peninsula, Caribbean,
Pacific Ocean.
Trong lịch sử, Ṭa Thánh chưa bao giờ thiết lập bang
giao với Việt Nam, nhưng Ṭa Thánh đă gởi nhiều vị khâm
sứ đến làm việc tại Việt Nam.
Niên Giám của Ṭa Thánh vẫn c̣n ghi Việt Nam là một quốc
gia có khâm sứ, mặc dầu trong thực tế chức vụ này đă bị
khiếm khuyết từ lâu.
Năm 1925, ĐGH Piô XI đă lập Toà Khâm Sứ Đông Dương và
Thái Lan. Ngày 25,5,1925, ĐGM Costantino Ayuti
(1876-1928)
quốc tịch
Italia, được bổ nhiệm làm Khâm Sứ đầu tiên ở Đông Dương.
Lúc đầu, Ṭa Khâm Sứ được đặt tại Hà Nội, sau được dời
vào kinh đô Huế. Các Khâm sứ kế vị là Giám mục Columban
Dreyer (1928-1937)
và Giám mục Antonin Drapier (1937-1950)
đều đặt Toà Khâm sứ tại Huế.
Năm 1950 ĐGH Piô XII đặt Đức Giám Mục John Dooley, người
Ireland, làm Khâm Sứ Đông Dương. Ngài đặt Toà Khâm Sứ sứ
cạnh Toà Giám Mục Hà Nội.
Sau khi Cộng Sản chiếm miền Bắc, đầu năm 1959, mặc dầu
Đức Khâm Sứ John Dooley đang trải qua nhiều cơn bệnh
nặng, nhà cầm quyền Hà Nội đă trục xuất ngài qua Nam
Vang, Kampuchia. Linh mục O'Driscoll, một giáo sĩ người
Ireland, đă tạm thời đảm trách nhiệm vụ Khâm Sứ, nhưng
hai tuần sau Linh mục Driscoll cũng bị trục xuất luôn.
Phái Bộ Ṭa Thánh tại Hà Nội buộc phải đóng cưa kể từ
ngày 15.9.1959.
Khi Ṭa Khâm Sứ Hà Nội không c̣n, Ṭa Thánh quyết định
lập Ṭa Khâm Sứ mới Sài G̣n. Giám mục Mario Brini được
cử làm Khâm Sứ Đông Dương. Nhưng năm 1961, ngài được bổ
nhiệm làm Sứ Thần Ṭa Thánh tại Ai Cập và năm 1962, ĐGH
Gioan XXIII bổ nhiệm Giám mục Salvatore Asta làm Khâm sứ
thay thế. Nhưng năm 1964 ngài lại được cử đi làm Sứ thần
tại Iran.
Ngày 17.6.1964, ĐGH Phaolô VI đă bổ nhiệm Giám mục
Angelo Palmas làm Khâm Sứ tại Sài G̣n. Nhưng năm 1969
ngài lại đi nhận Sứ Thần tại Colombia.
Vị Khâm sứ Ṭa Thánh tại miền Nam cuối cùng là Giám mục
Henri Lemaitre. Sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam, ngày
4.6.1975, Bộ Ngoại Giao Chính Phủ Lâm Thời Cộng Ḥa Miền
Nam Việt Nam đă mời Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre tới và
yêu cầu ngài phải rời khỏi Việt Nam trong một thời gian
càng sớm càng tốt. Ngày 19.12.1975, ngài đă rời Việt Nam
và đi nhận chức Sứ Thần tại Uganda. Từ đó đến nay, Việt
Nam không có Khâm Sứ.
NH̀N VÀO HƯỚNG ĐI
Thông báo ngày 26.6.2010 của Phủ Quốc Vụ Khanh Ṭa Thánh
cho biết “một Đại Diện không thường trú của Ṭa
Thánh cho Việt Nam sẽ được Đức Thánh Cha chỉ định”.
Thông cáo này đă đặt ra hai vấn đề cần được t́m hiểu:
Vấn đề thứ nhất:
Đây chỉ là quyết định đơn phương của Ṭa Thánh?
Thông báo không nói chính phủ Việt Nam cũng sẽ cử một
đại diện tương tự như Toà Thánh sẽ làm. Điều này cho
phép chúng ta suy đoán rằng đây chỉ là một quyết định
đơn phương
(unilateral) của Toà Thánh
với sự đồng ư của chính quyền Việt Nam, chứ không phải
là một quyết định song phương (bilateral).
Nếu đây chỉ là một quyết định đơn phương của Ṭa Thánh
th́ vị đại diện sắp được đề cử sẽ là một Khâm Sứ Toà
Thánh (Apostolic Delegate)
có nhiệm vụ phụ trách về quan hệ giữa Ṭa Thánh và Giáo
Hội địa phương, chứ không phải là một Sứ Thần Ṭa Thánh (Apostolic Nuncio)
có nhiệm vụ ngoại giao. Nếu đúng như vậy th́ đây cũng
chỉ là sự tiếp nối một hoạt động đă có từ trước và đă bị
gián đoạn kể từ ngày 19.12.1975, ngày Đức Khâm Sứ Henri
Lemaitre rời khỏi Việt Nam.
Vấn đề thứ hai:
Tại sao Ṭa Thánh không cử
một đại diện thường trú
(resident representative) mà chỉ
cử một đại diện không thường trú (non-resident
representative)?
Có thể nói đây là một quyết định có tính toán rất kỹ của
Ṭa Thánh.
Toà Thánh không có một cơ quan t́nh báo hải ngoại như
CIA của Mỹ hay SVR của Liên Bang Nga, nhưng Ṭa Thánh có
một hệ thống thông tin và liên lạc để nắm vững t́nh h́nh
tại những nơi có hoạt động của Giáo Hội.
Giáo Hội lại có mặt gần như khắp nơi trên thế giới. Tại
những nơi này thỉnh thoảng lại xẩy ra những tranh chấp
hay bất đồng hoặc trong Giáo Hội, hoặc giữa Giáo Hội với
nhà cầm quyền, hoặc giữa Giáo Hội với những tổ chức khác.
V́ phải liên tục giải quyết những t́nh trạng như thế,
Giáo Hội có rất nhiều kinh nghiệm để chọn giải pháp
thích hợp nhất.
Cái khó khăn mà Giáo Hội đang gặp phải ở Việt Nam hiện
nay cũng là cái khó khăn mà Giáo Hội thường gặp ở các
nước chậm tiến, nơi dân trí không cao và t́nh trạng
chính trị thường bất ổn. Tại những nơi này, một số tín
hữu thường muốn “chính trị hóa Giáo
Hội”, biến Giáo Hội thành công cụ phục vụ cho
những mục tiêu chính trị phiêu lưu của họ, trong khi đó
Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đă nhấn mạnh rằng
vai tṛ đặc biệt của Giáo Hội
trong việc cổ vỏ công lư, không phải bằng chính trị,
nhưng bằng sự rao giảng Tin Mừng và cổ vơ các nhân đức
như bác ái và đức tin. (Zenit.org
13.11.2009).
Có lẽ v́ đă nắm rất vững t́nh h́nh ở Việt Nam, nhất là
tại Hà Nội, Giáo Hội đă nhận thấy rằng trong bước đầu
đặt tại đây một đại diện không thường trú là thích hợp
nhất. Vị đại diện này thường là vị đại diện của Giáo Hội
tại một quốc gia lân cận, như Philippines hay Thái Lan
chẳng hạn. Hiện nay có hai quốc gia tại Đông Nam Á gần
Việt Nam cũng đang có đại diện không thường trú của Ṭa
Thánh, đó là Lào và Miến Điện.
Ngày 6.7.2010
Lữ Giang