|
Chuyện “Đại sử gia”
LỜI GIỚI THIỆU:
Trong bài “Viết cho đúng sự thật” phổ biến trên nhiều
báo, diễn đàn và websites ngày 23.11.2009 chúng tôi phê phán
bài “Lư do cuộc đảo chính 1.11.1963” của “đại sử gia”
Trần Gia Phụng là phịa sử. Ông ta đă lựa chọn những “sử liệu”
nhảm nhí do những kẻ có tŕnh độ ấu trỉ về xuyên tạc lịch sử
tung ra để làm căn bản cho bài viết của ḿnh. Ông ta bắt
chước Đỗ Mậu hay Vũ Ngự Chiêu chỉ t́m trích dẫn những “sử
liệu” phù hợp với mục tiêu “oanh tạc” của ḿnh, mặc dầu đó
là những “sử liệu” rất nhảm nhí, và bỏ qua những sử liệu
chính thức, có căn bản không thể chối căi được. Ông c̣n dám
trích dẫn cả những “tài liệu” mà trong thực tế không hề có!
Tuy nhiên, chúng tôi có nói rơ v́ bài “Lư do cuộc đảo
chính 1.11.1963” khá dài, nên trong bài đó và bài tiếp
theo chúng tôi chỉ mới đề cập đến mục 2 nói về “Dụ số 10 và
vấn đề tôn giáo” mà thôi. Chúng tôi có hứa sẽ đề cập đến
những mục khác trong những lần tiếp theo.
Tuy nhiên, ông Lê B́nh vừa cho phổ biến bài “Nhận định về
bài viết ‘Sử gia’ Trần Gia Phụng: Lư do cuộc đảo chính
1.11.1963” phân tích khá đầy đủ những sai lầm của ông
Trần Gia Phụng khi viết bài nói trên, chúng tôi xin phổ biến
để rộng đường dư luận. Vào dịp khác, chúng tôi sẽ phân tích
rơ hơn về nhóm trí thức Caravelle do Mỹ lập ra để đối kháng
với ông Diệm, vụ ông Ngô Đ́nh Nhu liên lạc với Việt Cộng,
v.v.
Lữ Giang
Nhận Định về
Bài Viết ‘Sử Gia’ Trần Gia Phụng:
Lư Do cuộc Đảo chánh 1.11.1963
Lê B́nh
Đề tài thật sự
cuốn hút tôi, v́ tôi nghĩ một nhà nghiên cứu sử như ông viết
về một biến cố đă xảy ra cách đây 46 năm, chắc chắn ông đă
có nhiều th́ giờ để nghiên cứu, đối chiếu các tài liệu để
đưa ra một nhận định công tâm, khách quan và khoa học hơn về
những biến cố một thời đă gây ra nhiều tranh căi và vẫn c̣n
những âm hưởng không tốt đẹp đến ngày nay, đặc biệt là giữa
đồng bào Công giáo và Phật Giáo. Nhưng khi đọc xong bài viết
của một người được gọi là sử gia như ông, thú thật với
ông, tôi vô cùng thất vọng, v́ những lư do sau đây:
I. Phương Pháp
Sử
1. Ông dùng
toàn là những tài liệu loại hai, tài liệu thứ cấp
(secondary sources),
nghĩa là những tài liệu đă được những người khác đọc rồi,
cắt xén, sắp xếp, đẻo gọt theo quan điểm một chiều, nên giá
trị khách quan về sử liệu và khoa học khó có thể chấp nhận.
Để dễ hiểu hơn, tôi xin lỗi, v́ không được lịch sự với ông,
khi trích cách dùng chữ của ông Đinh Từ Thức trả lời cho ông
Lữ Phương trước đây. Ông Thức gọi đó là loại tài liệu Cứt
chồn, nghĩa là giống như con chồn, nó ăn những hạt cà phê,
rồi nó ịa ra và người ta lượm về để xay ra và uống.
Lương tâm của một người viết sử, như ông phải biết, nếu ông
đă tự nhận ḿnh là nhà viết sử, không cho phép ông dùng
những tài liệu kém giá trị, đáng nghi ngờ, mà không kiểm
chứng với bản gốc. Trong khi đó, trong những thập niên gần
đây, vô số những tài liệu mật đă được bạch hoá, th́ ông có
vẻ như không bao giờ biết đến. Điều này đă khiến cho nhăn
quan và nhận định của ông trở nên hạn định và sai lầm chăng?
2. Thứ đến, ông
là người viết sử, nhưng lại cũng có vẻ như không biết những
nguyên tắc căn bản của phương pháp sử học, nghĩa là khi muốn
đưa ra một phán đoán, một nhận định về một sự kiện lịch sử,
là phải đặt nó vào trong bối cảnh lịch sử, chính trị, pháp
lư, xă hội của thời đó mà phê phán.
Ví dụ, muốn phê
phán một hành động của Vua Gia Long, th́ phải đặt nó vào
trong khung cảnh pháp lư, chính trị và xă hội của Việt Nam
đầu thế kỷ thứ 19 mà nhận định, chứ không thể dùng quan niệm
dân chủ Tây Phương ngày nay để thẩm định việc làm của thời
đó.
Tương tự như
vậy, Tổng Thống Diệm chấp chánh ở Việt Nam trong thời kỳ
1954-1963, đó là một quốc gia đang trong t́nh trạng chiến
tranh, phải đối đẩu với những cuộc bạo loạn từ bên trong và
một cuộc chiến tranh du kích, phá hoại và khuynh đảo đột
nhập từ miền Bắc vào. Không thể sử dụng những tiêu chuẩn
pháp lư của một quốc gia dân chủ thời b́nh như Hoa Kỳ vào
thời điểm đó để phán xét sinh hoạt chính trị của Chính Quyền
Việt Nam lúc bấy giờ. Đó là việc làm sai lạc đáng chê trách
của những nhà báo thiếu lương thiện như David Halberstam,
Neil Sheehan, Malcolm Browne và của Đại Sứ Cabot Lodge thời
đó. Và họ đă thực hiện những sự việc đó chỉ v́ mục tiêu
chính trị nước họ hay quyền lợi ích kỷ cá nhân của họ.
C̣n ông, Trần Gia Phụng, ông là người viết sử, lương tâm và
phương pháp sử, không cho phép ông lập lại những luận điệu
sai lầm tệ hại và ấu trỉ đó.
3. Tệ hại hơn
nữa, là ông trưng dẫn những tài liệu của những người mà
chính họ chưa bao giờ đọc những văn kiện đó, như chú thích
số 2, về Đạo Dụ số 10 chẳng hạn. Những người đó đă bịa đặt
ra những điều khoản về Đạo Dụ này, để viết v́ mục tiêu chính
trị có lợi cho đảng phái hay phe nhóm của họ. Trong những
tài liệu này, có những sai lầm căn bản về phương diện pháp
lư, nếu một người có chút kiến thức tối thiểu về luật học,
họ cũng đều nhận ra ngay và không thể chép lại một cách hồ
đồ như vậy. Ông là một người viết sử, hẳn ông đă hiểu, trách
nhiệm của người viết sử là phải phân tích văn kiện ḿnh
trích dẫn, đối chiếu với chứng từ gốc, nếu ḿnh chưa đủ hiểu
biết về chuyên môn, đ̣i buộc ḿnh phải t́m hiểu, học hỏi
thêm, trước khi đưa ra một nhận định công tâm về một sự kiện
lịch sử. Chứ đâu phải chỉ việc cóp nhặt một cách cẩu thả
những lập luận bịa đặt đầy thiên kiến, để rồi đưa ra những
kết luận vô trách nhiệm và bất công như ông đă làm.
4. Nhưng điều
tệ hại nhất, là ông đă hoàn toàn đánh mất sự liêm khiết tối
thiểu của người cầm bút và lương tâm chức nghiệp của một
người viết sử. Đó là việc ông chưa đọc một văn kiện pháp lư,
như Đạo Dụ số 10, mà ông viết như là ông đă đọc rồi, điều
nầy thể hiện qua câu ông viết:
Dụ này cũng qui
định các tôn giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn
viên nơi thờ phượng
Nhưng thực tế,
không có một câu nào trong Đạo Dụ số 10, đề cập đến
vấn đề này. Tôi xin nhắc lại, trách nhiệm tinh thần của
người viết sử là phải nói đúng sự thật về các sự kiện lịch
sử, là sự liêm khiết trí thức, chứ không phải chưa hề đọc mà
nói đọc rồi, nhằm mục đích bóp méo hay xuyên tạc sự thật.
Đó là sự thật đáng trách nhất trong giới trí thức mà chỉ có
ông và ông Chính Đao mới dám làm.
Kế đó, có lẽ để
củng cố cho lập luận thiếu khả tín của ḿnh, ông kê tên một
tác giả khá nổi tiếng như Mark Moyar, để đánh lừa độc giả.
Đó là trường hợp ông đề cập đến việc ông Nhu bí mật gặp gở
Phạm Hùng ở rừng Tánh Linh để bàn việc trung lập hoá Việt
Nam… Trong chú thich số 13, ông ghi rằng theo Mark Moyar,
tr. 128. Nhưng khi tôi giở sách của Moyar ra, đúng
trang sách đă dẫn 128, chẳng thấy có một câu nào viết về sự
kiện này. Tôi nghĩ rằng đây là một sự lương lẹo trí thức
khác thêm vào những gian lận trí thức mà ông đă phạm phải.
Điều này gây
cho tôi một cảm giác thật sự đau buồn. V́ tôi trộm nghĩ
trong đời sống thường nhật, một người ăn cắp của cải vật
chất, sẽ bị ṭa án kết tội là những phạm nhân h́nh sự và rồi
dư luận công chúng lên án và xem thường họ như thế nào? C̣n
đối với một nhân chứng trước toà án, chuyện không có mà nói
có, chuyện chưa đọc mà nói đọc rồi, nếu ṭa khám phá ra, họ
sẽ bị ghép vào tội h́nh sự và bị tống giam. Đối với giới cầm
bút và quan trọng hơn nữa là một nhà viết sử, th́ sự gian
lận trí thức phải được đánh giá như thế nào đây? Ông phải
trả lời làm sao trước học tṛ của ông và trước công luận.
Thật sự, tôi không dám suy nghĩ tiếp. Để ông tự vấn lương
tâm của chính ḿnh.
II. Vị trí Của
Người Viết
Nhưng trước khi
chính thức đưa ra những nhận định từng điểm một về bài viết
của ông, tôi xin tŕnh bày sơ lược đôi ḍng về gia đ́nh tôi,
để tránh trường hợp, khi các ông không c̣n t́m được lư lẽ để
thảo luận nữa, các ông lại quay ra bảo tôi nhận tiền của đồ
đệ nhà Ngô để phục hận …hay là những tên Việt Cộng bêu xấu
những nhà viết sử quốc gia.
Tôi là một
sinh viên mới đến Mỹ từ năm 1995, mới tốt nghiệp tại Đại
Học thuộc miền Nam California ban Nhăn Văn, được 4 năm, v́
khi đến định cư tại miền đất này, tôi chỉ hơn 12 tuổi, nên
tiếng Việt của tôi không được khá lắm, c̣n tiếng Anh th́ đến
nay vẫn c̣n tệ hại hơn nữa. Nhưng trong thời gian qua, mỗi
ngày tôi vẫn cố gắng học thêm tiếng Việt và tiếng Anh của
tôi. Do đó, tôi viết bài này chắc chắn có nhiều sai sót,
mong được quí vị thứ lỗi cho.
Trước đây, ông
Ngoại tôi sống ở khu vực Bến Ngự, thành phố Huế, lúc đó, ông
tôi chỉ là một tuỳ phái ở Toà Khâm Sứ vào đầu thập niên
1930, nhưng v́ nghe danh Cụ Phan Bội Châu, lúc đó cũng bị
Pháp bắt an trí ở Bến Ngự, nên thỉnh thoảng lại đến xin gặp
cụ Phan. Ông tôi nghe cụ Phan khen cụ Diệm đáo để về đức
liêm khiết, chính trực, một ḷng v́ dân v́ nước, đă
không màn công danh phú quí, dám từ chức Thượng Thư Bộ Lại
để thách thức cả chính quyền Thực Dân Pháp thời bấy giờ. Đó
là một con người nghĩa khí hiếm có. Nên sau này, khi cụ Diệm
về chấp chánh, ông tôi cũng là một công chức nhỏ, nhưng lúc
nào cũng kính phục cụ Diệm. Đến năm 1963, biến cố Phật Giáo
bùng nổ ở Huế. Ông tôi theo Đạo Ông Bà, không bao giờ tới
chùa. Nhưng bà ngoại tôi là một Phật Tử thuần thành rất
siêng năng đi chùa. Theo hiểu biết nông cạn của tôi, bà
không theo Đạo Phật, nhưng thực hành theo giáo lư nhà Phật,
là ḿnh phải tu thân theo một con đường Phật dạy tự cứu
thoát ḿnh ra khỏi kiếp luân hồi, để sau này được vào cỏi
Niết Bàn. Bà tôi tin Phật như một ông Trời biết thưởng
cho những người sống ngay lành và phạt những người làm việc
ác đức. Và bà thường đến chùa dâng cúng tiền bạc nơi
thùng Phước Sương, để mua phước đức cho con cháu.
Sau này, tôi
nghe mẹ tôi kể lại, là trong những ngày Mồng Một và Rằm, bà
tôi và mẹ tôi thường lên Chùa Từ Đàm để cúng Phật và nghe
thuyết pháp. Vào những ngày tháng 7 và đầu tháng 8, 1963,
bà và mẹ tôi thường lên Chùa, mỗi đêm, bà thường nghe các
thầy bảo hôm nay trong Đà Nẵng, có nhiều ni cô bị mật vụ của
Ngô Đ́nh Cẩn hảm hiếp và rồi bỏ vào bao bố đem đi thả sông,
ngày khác bảo ở Phan Thiết các Sa Di bị mật vụ tra tấn và bỏ
đói đến chết trong nhà lao… Nghe vậy, về nhà, bà tôi
khóc nức nở. Ông tôi cự nự trách mắng bà tôi. Tổng Thống
Diệm là người Nho Học lấy đức Nhân làm đầu, làm sao lại đi
làm những chuyện ác đức như vậy được. Bà tôi và mẹ tôi không
dám căi lại ông tôi, nhưng vẫn tiếp tục đi chùa.
Rồi đến khi tôi
từ giă ông ngoại tôi để qua Mỹ, Ông tôi dặn ḍ tôi: con lớn
lên cố t́m hiểu dùm cho ông. Làm sao Cụ Diệm, một người
hiền đức, quang minh chính trực như vậy, thế mà chỉ trong
ṿng có mấy tháng trong mùa Hè năm 1963, trở thành một người
xấu xa, đê hèn không thề nào tả hết được… V́ món nợ tinh
thần với ông tôi, nên khi qua Mỹ tôi đă cố gắng đọc sách và
t́m hiểu về biến cố 1963. Từ những lư do đó, nên khi đọc
nhan đề bài viết của ông, tôi mừng khấp khởi, v́ tôi nghĩ
rằng đây là bài viết của một sử gia chắc hẳn phải là những
nhận định có giá trị sâu sắc và công minh về biến cố lịch sử
này, để tôi có thể đem lên cúng trước bàn thờ của ông Ngoại
tôi.. Nhưng kết quả, tôi cảm thấy thất vọng năo nề khi
đọc bài viết của một người được gọi là sử gia như ông.
Theo tôi được
biết, Ông đă tốt nghiệp Cử Nhân Giáo Khoa Sử Địa và là giáo
viên sử học, của một trường trung học cấp 3 nào đó ở Việt
Nam. Nên tôi xin tạm dùng những tiêu chuẩn của phương pháp
sử học, để thẩm định bài viết của ông. Tôi xin lỗi ông trước
về sự thất lễ này.
III. Bối Cảnh
Lịch Sử
1. Ngay trong
phần mở đầu, ông đă viết:
Chính phủ
của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm ổn định t́nh h́nh…,tổ chức Trưng
cầu dân ư ngày 23-10-1955, truất phế Bảo Đại, tự tuyên bố
thành lập nền Cộng Ḥa và tự tuyên bố trở thành tổng thống
đầu tiên của Việt Nam Cộng Ḥa.(1)
Rồi trong phần
chú thích 1, ông giải thích thêm như sau:
(1) Hai câu của
cuộc trưng cầu dân ư chỉ hỏi truất phế hay không truất phế
Bảo Đại và chấp thuận hay không chấp thuận Ngô Đ́nh Diệm làm
quốc trưởng để đặt nền móng dân chủ, chứ không nói đến việc
thành lập nền cộng ḥa và nhất là không nói đến việc chọn
Ngô Đ́nh Diệm làm tổng thống.
Điều này chứng
tỏ ông đă không đọc kỷ về phiếu Trưng Cầu Dân Ư thời đó, mà
chính ông đă trưng dẫn, hoặc ông không đủ hiểu biết về khía
cạnh pháp lư của vấn đề, hoặc v́ thành kiến ông đă cố t́nh
nói sai sự thật. Tôi xin chép lại câu 2 của phiếu Trưng Cầu
Ư Kiến thời đó mà ông đă trưng dẩn trên đây:
Chấp
thuận hay không chấp thuận Ngô D́nh Diệm làm Quốc Trưởng để
đặt nền móng dân chủ.
Rồi ông viết
chứ không nói đến việc thành lập nền Cộng Ḥa và nhất là
không nói đến việc chọn Ngô Đ́nh Diệm làm tổng thống. Thực
sự, tôi không hiểu ông muốn nói ǵ! Theo một người có chút
hiểu biết về thể chế chính trị dân chủ, hiện nay trên thế
giới chỉ có 2 h́nh thức, đó là chế độ đại nghị và chế độ
tổng thống. Như vậy theo ông, thể chế cộng hoà và chế độ
tổng thống, không phải là những cơ cấu dân chủ? Tôi chỉ đặt
câu hỏi, để ông tự t́m câu trả lời khách quan cho ḿnh.
C̣n đối với tôi,
cũng như những người có trí óc b́nh thường khác đều hiểu
rằng, khi có kết quả cuộc Trưng Cầu Dân Ư với đa số áp đảo,
gồm 98% số phiếu bầu cho ông Diệm, nghĩa là toàn dân đă uỷ
thác cho ông nhiệm vụ phải xây dựng nền móng Dân Chủ, th́
ông có quyền chọn lựa bất cứ một thể chế chính trị dân chủ
nào thích hợp cho hoàn cảnh của đất nước lúc đó để mang lại
lợi ích tối đa cho quốc gia. Đó là việc làm đứng đắn, chính
danh, hợp lư và hợp pháp, v́ đó là theo nguyện vọng mà đa số
dân chúng đă ủy thác cho ông qua cuộc Trưng Cầu Dân Ư.
Ví thế, trong
bản Tuyên Cáo đọc trước quốc dân ngày 26. 10. 1956, ông Ngô
Đ́nh Diệm tuyên bố:
Thể theo nguyện vọng mà đồng bào đă bày tỏ qua lá phiếu
trong cuộc Trưng Cầu Dân Ư, ngày 23. 10 vừa qua, tôi long
trọng tuyên bố Quốc Gia Việt Nam là một nước Cộng Hoà
Và tiếp theo
trong Hiến Ước tạm thời số 1 cũng ban hành trong ngày 26.
10. 1955, Ông Diệm đă xác dịnh rơ:
Từ nay,
Quốc Trưởng sẽ kiêm nhiệm chức vụ Thủ Tướng, được gọi là
Tổng Thống
Rồi sau đó, vào
ngày 4.3.1956, chính phủ đă tổ chức bầu cử quốc hội lập hiến,
để chọn 123 dân biểu đại diện cho toàn thể đồng bào trên
toàn quốc, để soạn thảo hiến pháp.
Quốc Hội Lập Hiến khai mạc ngày 15. 3. 1956,
Và tiếp theo,
ngày 18. 4. 1956, Quốc Hội đề cử Uỷ Ban soạn thảo Hiến Pháp
gồm 15 dân biểu, trong đó có những nhà luật học tên tuổi như
Vũ Quốc Thông, Nguyễn Hữu Châu, Trần Chánh Thành, Hà Như Chi
và Nguyễn Phương Thiệp.
Rồi sau đó,
Quốc Hội Lập Hiến đă bỏ phiếu chung quyết để chấp thuận bản
Bản Hiến Pháp cùng với những điều khoản căn bản như sau:
·
Việt Nam là nước Cộng Hoà, Độc Lập, Thống Nhất, lănh thổ bất
khả phân. (điều 1)
· Quốc Hội Dân
Cử ngày 4. 3. 1956, sẽ là Quốc Hội Lập Pháp đầu tiên theo
Hiến Pháp VNCH. (điều
95)
· Đương kim
Tổng Thống được nhân dân uỷ nhiệm thiết lập nền dân chủ
trong cuộc trưng cầu dân ư ngày 23. 10. 1955, sẽ là Tổng
Thống đầu tiên theo Hiến Pháp VN CH
(điều 96)
· Trong
khoá họp thứ nhứt của Quốc Hội Lập Pháp đầu tiên, đương kim
Tổng Thống sẽ chỉ định Phó Tổng Thống đầu tiên. Sự chỉ định
này sẽ thành nhất định nếu được Quốc Hội chấp nhận.
(điều 97).
Những sự kiện
và thủ tục pháp lư trên đây chứng nhận rằng Ông Diệm đă được
toàn dân ủy thác để xây dựng một nền móng cho cơ chế dân chủ
của Việt Nam. Và để thi hành ư nguyện của toàn dân giao phó,
ngày 26. 10. 1955, ông đă long trọng tuyên cáo Việt Nam là
một nước Cộng Ḥa và từ nay Quốc Trưởng sẽ kiêm nhiệm chức
vụ Thủ Tướng được gọi là Tổng Thống. Và 2 điều căn bản trong
bản Tuyên Cáo này, trước đó đă được toàn thể 123 vị dân biểu,
đai diện cho toàn thể đồng bào trên toàn quốc, long trọng
biểu quyết chấp thuận trong bản Hiến Pháp, được Tổng Thống
Diệm chính thức ban hành vào ngày 26. 10. 1956
Như vậy, việc
ông Ngô Đ́nh Diệm thành lập chính thể Cộng Hoà và trở
thành Tổng Thống đầu tiên của Việt Nam là việc làm hợp lư,
chính danh, hợp pháp và hợp hiến. Không biết ông Phụng
có thể dẫn chứng một nguyên tắc nào trong Luật Hiến Pháp và
điều khoản nào trong bản hiến pháp của Đệ I CHVN, cho biết
việc làm của ông Diệm là sai luật, để rồi ông phải đặt những
nhận định ngớ ngẩn như thế. Như vậy đứng về phương diện sử
học, ông đă có 2 điểm sai lầm
(sai lầm 1 &2)
Xin lỗi
ông, người xưa có câu “xấu
hay làm tốt, dốt hay nói chữ.”
Khi viết những ḍng chữ này, tôi liên tưởng đến trường hợp
của tướng Đỗ Mậu, trong tác phẩm Việt Nam Máu Lửa Quê Hương
Tôi. Theo thiển nghĩ của tôi, tŕnh độ học vấn của ông Mậu
chưa qua khỏi bậc tiểu học, nên khi đọc Hiến Pháp Đệ I CHVN,
v́ không hiểu nổi thuật ngữ chuyên môn Quốc Dân,
(ở điều 3)
và việc biểu
quyết thông qua một đạo luật ở Quốc Hội,
(điều 69),
nên ông Mậu lên tiếng chê các nhà luật học tên tuổi mà tôi
dẫn chứng ở trên như Gs Vũ Quốc Thông, Trần Chánh Thành…là
không biết luật.. Thật là mỉa mai và nghich lư, một học
sinh chưa đổ tiểu học mà đi dạy luật pháp cho các giáo sư
luật học nổi tiếng. Đó là trường hợp hợm ḿnh đến trơ trẽn,
mất tư cách mà không biết xấu hổ của ông Đỗ Mậu. Và tôi ước
mong rằng, ông Phụng không ở trong trường hợp đó.
2. Tản quyền
cho các Đại Biểu Chính Phủ
Qua phần kế
tiếp, ông viết:
Tuy nền Cộng
ḥa được phân nhiệm rơ ràng, chính phủ trung ương gồm nhiều
bộ trưởng điều hành việc nước, đồng thời tản quyền cho các
ṭa đại biểu tại các vùng
(Trung
nguyên Trung phần, Cao nguyên Trung phần, Miền Đông Nam phần,
Miền Tây Nam phần),
Xin ông đọc lại Hiến Pháp Đệ I Cộng Ḥa, Thiên Thứ Ba về Tổng
Thống, từ điều 30 đến điều 47, có chỗ nào nói về việc Tổng
Thống phải chia quyền cho các ông Đại Biểu Chính Phủ? Tiếp
đến, ông là người viết sử, chắc ông phải biết điều kiện tiên
quyết, trước khi ông Diệm nhận lời mời của Quốc Trưởng Bảo
Đại về nước chấp chánh là phải giao cho Ông toàn quyền hành
động về hành chánh và quân sự.
Tại sao vậy? V́
trước đây Quốc Trưởng Bảo Đại thường qua mặt Thủ Tướng để ra
lệnh trực tiếp cho các Thủ Hiến. Lúc đó Ông Diệm cần có một
chính quyền mạnh, tập trung quyền hành về trung ương để đối
phó với một t́nh thế vô cùng nghiêm trọng, như Tướng Nguyễn
Văn Hinh, Tổng Tư Lệnh quân đội, đang thách thức quyền hành
lănh đạo của Thủ Tướng, B́nh Xuyên, đang nắm Lưc Lượng Công
An & Cảnh Sát tại Đô Thành, đe doạ trực tiếp Dinh Độc Lập,
rồi Bảy Viễn liên kết với các giáo phái Cao Đài & Hoà Hảo,
gởi tối hậu thư đ̣i hỏi chính phủ phải cải tổ nội các trong
ṿng 5 ngày và sau cùng là sự phá rối cùa CS. Lúc đó, Thủ
Tướng Diệm cần phải có một chính phủ trung ương với quyền
lực mạnh, để có thể mang lại trật tự và an ninh cho một vùng
đất loạn lạc sau nhiều năm chiến tranh, để khần cấp định cư
cho gần 1 triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam.. Tiếp đó
khi Quốc Trưởng Bảo Đại bị truất phế. Tổng Thống Diệm đă ban
hành Dụ 57a, ngày 24. 10. 1956, băi bỏ các Phần trong cơ cấu
hành chánh Việt Nam và ấn định rơ ràng quyền hạn của các Đại
Biểu Chính Phủ.
Như vậy việc
Tổng Thống Diệm không tản quyền cho các ông đại biểu chinh
phủ là việc làm hợp lư, hợp pháp và phù hợp với thực tại
chính trị Miền Nam lúc đó. Tại sao một sử gia như ông, lại
có những câu phê b́nh về cơ cấu hành chánh của một chính
quyền mà lại hoàn toàn thiếu cơ sở luật học đến tệ hại như
vậy (sai lầm 3)
Khi đọc những
nhận định của ông sử gia, tôi có cảm tưởng rơ ràng rằng ông
không có chút kiến thức tối thiểu về luật học, ông lại không
cần bận tâm đọc bản Hiến Pháp của VNCH cũng như bất cứ một
văn kiện lập qui nào cả, nhưng ông rất thích nói về luật
pháp. Đó là điều một người viết sử c̣n chút tư trọng nên
tránh. V́ theo tôi, uy tín của một sử gia được xây dựng
trên sự liêm khiết trí thức và vốn kiến thức uyên thâm của
ḿnh, chứ không phải qua lối khoa trương gian lận về kiến
thức. V́ sự gian dối trí thức thế nào cũng bị bại lộ, lúc đó
không những uy tín của ḿnh, nếu có, sẽ bị sụp đổ thảm hại,
mà c̣n thể hiện phẩm cách thấp kém của ḿnh.
3. Độc Tài &
Gia Đ́nh Trị
Rổi ông viết
tiếp:
...nhưng ngoài
tổng thống Diệm, quyền hành nằm trong tay một số người là
các ông bà Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn, và một số ít người
thân tín. Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục không chính thức giữ
một chức vụ hành chánh hay chính trị nào, nhưng ảnh hưởng
rất lớn đến Tổng Thống Diệm, đến các bộ trưởng trong chính
phủ và các viên chức địa phương. Lúc đó, dư luận cho rằng
Tổng Thống Diệm chủ trương độc tài và gia đ́nh trị.
Trong một đoạn
khác ông lại viết:
Dư luận nầy c̣n
thêm rằng ông Thục tŕnh với Ṭa thánh Vatican rằng số tín
đồ trong tổng giáo phận Huế, lúc đó gồm hai tỉnh Thừa Thiên
và Quảng Trị, do ông cai quản chiếm 80% dân số khu vực.
Tháng 5-1963, Ṭa thánh cử một phái đoàn điều tra đến Huế,
th́ dân chúng Phật tử đang treo cờ mừng Phật Đản. Kết luận
sơ khởi của phái đoàn là chỉ có 20% dân chúng địa phận Huế
theo Ky-Tô giáo chứ không phải 80
Một nhà viết sử,
đối với một sự kiện xảy ra cách đây hơn 46 năm rồi, không
thể viết lúc đó, dư luận cho rằng, tôi xin nhắc lại, bổn
phận của một sử gia là đủ kiến thức về sự thật và thực tại
(factual knowledge),
kế đến là biết đưa ra những nhận định, phán đoán về giá trị
của sự việc
(judgments of value).
Thưa ông, ngay cả đến một người kư giả thường họ cũng không
thể viết một cách cẩu thả như vậy được, mà họ thường thêm
vào câu như thế này
V́ đây là
một tin tức chưa được kiểm chứng, chúng tôi xin phổ biến sự
việc này với tất cả sự dè dặt và thận trọng thường lệ.
V́ nếu
viết cẩu thả như ông, họ sẽ bị đưa ra toà v́ tội vu cáo và
mạ lỵ (defamation)
người khác. Ông viết ông Thục tŕnh với Toà Thánh. Ngay điều
căn bản này ông đă viết sai, v́ tôi vừa điện thoại để hỏi
một vị giáo sư về giáo luật của Đại Chủng Viện St. Patrick ở
California này. Linh mục này cho biết, không có nguyên
tắc tự đề cử ḿnh hay tự xin để trở thành giám mục hay hồng
y trong Giáo Hội Công Giáo. Và ngay cả những ứng viên
đă được đề cử
(nominated candidate)
mà đi vận động thêm cho ḿnh, cũng sẽ bị loại bỏ
(disqualified)
ngay.
Như vậy, ông Thục là một giám mục, là một người đă tốt
nghiệp tiến sĩ giáo luật, ông sẽ không làm chuyện ngớ ngẩn
như vậy. Tôi không ngờ một người viết sử như ông lại viết
một cách thiếu trách nhiệm như vậy.
Thêm vào đó,
ông là sử gia th́ ông phải biết điều tra, thu góp tài liệu
từ nhiều phía, rồi phân tích tổng hợp để đưa ra một nhận
định giá trị, khách quan và vô tư về một sự kiện lịch sử.
Ông không thể trốn chạy trách nhiệm trong việc kết tội, lên
án người khác một cách bất công, thiếu cơ sở, thiếu chứng cớ
bằng cách nói lập lờ, lấp liếm với lối dùng chữ dư luận cho
rằng…V́ lương tâm đạo đức của người viết sử là sự liêm khiết,
phán đoán khách quan, không được bóp méo hay xuyên tạc lịch
sử và sử gia c̣n có trách nhiệm phải nói lên sự thật lịch sử
không những cho những người c̣n sống mà cả cho những người
đă khuất. (sai lầm 4
và 5 )
4. Vấn dề gia
đ́nh trị.
V́ phạm vi hạn
hẹp của bài báo, không cho phép tôi tŕnh bày cặn kẽ và chi
tiết vấn đề này. Tôi chỉ nói một cách tổng quát về lời cáo
buộc gia đ́nh trị của họ Ngô. Trước hết, chỉ có ô. Ngô Đinh
Nhu là cố vấn chinh trị chính thức của Tổng Thống Diệm. Ông
Ngô Đ́nh Luyện là Đại Sứ Việt Nam ở Anh Quốc.
C̣n Bà Ngô Đ́nh
Nhu, tức là Trần Lệ Xuân, Dân Biểu Quốc Hội. Bà không có
chức vụ và quyền hành nào trong chính quyền. Ô. Ngô Đinh Cẩn
là Cố vấn các Đoàn Thể Chính Trị Tại Trung Nguyên và Cao
Nguyên Trung Phần, không phải là một chức vụ trong chính
quyền.
Giám Mục Ngô
Đ́nh Thục, trước là Giám Mục Địa Phận Vĩnh Long, đến tháng
11 năm 1960, là Tổng Giám Mục Địa Phận Huế. Ông giám mục này
không có một chức vụ nào trong công quyền. Th́ làm sao bảo
quyền hành nằm trong tay những người như Ông Cẩn, bà Nhu hay
ông Thục được?
Tôi không muốn
bênh vực Tổng Thống Diệm hay gia đ́nh của ông. Điều đó không
đúng với chủ đích của tôi hôm nay. Tôi chỉ muốn nói với ông
khi làm một phán đoán, phải trưng dẫn chứng cớ, tài liệu,
chứ không thể đơn thuần đưa ra sự kiện mang tính suy diễn,
v́ biến cố đó đă xảy ra cách đây đă 46 năm rồi. Tôi muốn
trích dẫn quan niệm của những người binh vực cho ông Diệm,
họ đă đưa ra chứng cớ, để ông thấy rơ phương pháp của người
viết sử cần phải làm.
Họ vẫn mang
tiếng là gia đ́nh trị, bởi v́ các công chức cao cấp trong
ngành hành chánh, các tướng tá lớn nhỏ trong quân đội không
biết tự trọng, chỉ biết nịnh hót, bợ đở, cậy thần cậy thế
mà gây ra nhiều tai tiếng. nếu có trách, phải trách những
hạng người vô liêm sĩ này trước,
Và sau đây, tôi
xin trưng dẫn tài liệu về Tướng Trân Văn Đôn, như là một
trường hợp điển h́nh:
Theo Trung Tá
Minh, lúc Trần Văn Đôn đến nhậm chức Tư lệnh Quân Đoàn I và
Quân Khu I, có đến thăm xă giao Ngô Đ́nh Cẩn. Thăm xă giao
th́ cũng được đi, nhưng sau khi thăm xă giao lại xin chỉ
định cho một sĩ quan chánh văn pḥng. Thật là một sự yêu cầu
nhảm nhí, tự ḿnh phủ nhận quyền hành của ḿnh! Ngô Đ́nh Cẩn
đâu phải là Tổng Tham Mưu Trưởng, quản trị tất cả nhân viên
quân đội? Văn Pḥng Tư Lệnh quân khu là do Tư Lệnh Quân Khu
tổ chức, sắp đặt, liên can ǵ đến Ngô Đ́nh Cẩn mà phải hỏi.
Lúc Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bổ nhiệm Đôn ra Huế, có bắt
buộc Đôn phải hành động như vậy không? Chắc chắn là không!
V́ đó là vấn đề tiểu tiết, Đôn phải tự ḿnh lo lấy. Nhưng
Đôn đă bợ đỡ Ngô Đ́nh Cẩn không phải chỗ và không phải lúc.
Vô h́nh chung, Đôn đă tự tạo ra rồi gán cho Ngô Đ́nh Cẩn
là gia đ́nh trị. Người đáng phỉ nhổ trong vụ này là Trần Văn
Đôn chứ không phải là Ngô Đ́nh Cẩn.
Tóm lại, về vấn
đề này, tôi chỉ xin thử đặt câu hỏi, tại sao Tổng Thống Diệm
có ô. Nhu và ô. Luyện trong chính quyền, th́ bảo là Gia đ́nh
trị? Trong khi Tổng Thống John F. Kennedy có em ruột là ô.
Robert Kennedy làm Tổng Trưởng Tư Pháp, ô. Edward Kennedy
lọt vào Thượng Viện từ năm 1962, khi J. F. Kennedy c̣n đang
tại chức. C̣n Tổng Thống Thiệu có anh ruột là ô. Nguyễn Văn
Kiểu, làm đại sứ Đài Bắc, Ông Ngô Khắc Tỉnh, họ hàng thân
tộc của Ông Thiệu làm Tổng trưởng Giáo Dục, và có cháu kêu
bằng Cậu là Hoàng Đức Nhă làm Tổng Trưởng Dân Vận. Không
ai bảo 2 chính quyền này là gia đ́nh trị cả, phải chăng v́
một gia đ́nh là của chính quyền Mỹ, c̣n một chính quyền là
tai sai của Mỹ, nên không bị báo chí Mỹ chỉ trích, nên
các sử gia như ông cũng không bao giờ dám chỉ trích? Tôi
thấy ông là người viết sử mà lại không có lấy một nhận định
khách quan và độc lập, không có một phân tích, một phán đoán
thận trọng và hợp lư, mà chỉ chép lại một cách vô trách
nhiệm những lời kết án vô bằng chứng, đầy thiên kiến và ác ư
của một số kư giả Mỹ thiếu lương tâm chức nghiệp ngày xưa.
Nhiều khi tôi tự hỏi: Hay là ông đă bỏ quên lương tâm chức
nghiệp của người viết sử rồi?
(sai lầm 4 &5)
IV. Về 3 Biến
Cố Lịch Sử
V́ vậy, chính
phủ Diệm càng ngày càng bị phản đối, nổi bật nhất là các vụ:
1) Ngày
26-4-1960, 18 chính khách tên tuổi trong Uỷ Ban Tiến Bộ Và
Tự Do họp tại khách sạn Caravelle ở Sài G̣n, ra kháng thư
công khai phản đối chế độ Ngô Đ́nh Diệm độc tài.
2) Ngày
11-11-1960 của nhóm Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông đảo
chánh hụt.
3) Ngày
27-2-1962, hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc ném
bom Dinh Độc Lập.
1. Nhóm Trí
Thức Caravelle
Tôi cảm thấy
rất buồn khi thấy ở đây, ông chỉ chép lại các sự kiện, không
bận tâm t́m hiểu các nguyên nhân của các sự kiện, không cần
t́m hiểu quan điểm của phía bị ông kết án. Rồi ông vội vă
đưa ra những nhận xét không đứng đắn, thiếu chính xác và
không công b́nh với những người đă khuất, mà ít ra một thời,
dù đứng ở quan điểm nào đi nữa, phải công nhận họ đă góp
phần tich cực trong công cuộc phục hồi độc lập và phát triển
quốc gia.
Để có một nhận
định khách quan và vô tư hơn về vấn đề này, chúng ta nên
khảo sát sơ lược các thành tố đă chi phối bối cảnh chính trị
Việt Nam lúc bấy giờ. Đó là CS Bắc Việt, Hoa Kỳ và Chính Phủ
VNCH.
· Phía Cộng Sản
Bắc Việt
Đầu năm 1959,
nhà cầm quyền Hà Nội đă gia tăng mức độ tiếp tế vào Nam để
mở rộng hoạt động du kích phá hoại trên toàn miền Nam. Đồng
thời chính sách đấu tranh của CS lúc đó là phương châm ba
vùng và ba mặt đấu tranh. Tưởng cũng nên giải thích ở
đây CS dùng ba vùng là vùng rừng núi, nông thôn và đô thị và
ba mặt là mặt trận quân sự, chính trị và binh vận. Riêng
tại đô thị, lúc đó, CS đă mở những chiến dịch đấu tranh
chính trị nguỵ trang dưới những cuộc biểu t́nh như đ̣i giảm
học phí trường tư, tăng lương công nhân viên chức, chấm dứt
nạn đuổi nhà, giải quyết nạn thất nghiệp, miễn thuế lương
bổng cho giáo chức trường tư thục.. nhằm mục đích tạo nên
những rối loạn chính trị tại Saigon, đồng thời CS c̣n chỉ
đạo cho những nhà văn, nhà báo nằm vùng như Thiếu Sơn, Nam
Đ́nh, Vũ Hạnh, Sơn Nam, Lữ Phương… viết báo đả kích những
chính sách của chính phủ, nhằm làm giảm uy tín của chính
quyền và khơi dậy sự bất măn trong dân chúng.
· Phía Hoa Kỳ
Nhưng điều
quan trọng hơn cả, lả khi t́nh h́nh an ninh suy sụp, và sự
bất ổn gia tăng, th́ mâu thuẫn giữa chính phủ Hoa Kỳ và Tổng
Thống Diệm càng trở nên sâu sắc hơn. Thực vậy, như khi
Tổng Thống Nixon sau này nhận xét, các viên chức Hoa Kỳ, đă
quan niệm sai lầm về bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam.
Trong khi Hoa kỳ nghĩ rằng cuộc chiến tranh này là cuộc
chiến tranh cách mạng. Họ lập luận rằng đây là cuộc chiến
tranh do những phần tử bất măn với cách cai trị độc đoán của
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm nổi dậy chống đối chính quyền miền
Nam. Từ đó họ luôn đ̣i hỏi Tổng Thống Diệm phải mở rộng tự
do báo chí, tự do hội họp và tự do lập các đoản thể, đảng
phái chính trị, tạo điều kiện cho các chính trị gia đối lập
tham gia vào nội các để có thêm hậu thuẫn trong quần chúng.
Theo các chuyên gia này, nếu những điều trên được thực hiện
tốt đẹp, th́ dân chúng cũng như các chính trị gia rất hân
hoan, phấn khởi và hăng hái tham gia cùng chính phú trong
công cuộc chống CS, th́ lúc đó, CS sẽ không c̣n đất sống ở
Miền Nam nữa.
Trong khi đó,
th́ Tổng Thống Diệm quan niệm đây là cuộc chiến tranh du
kích, phá hoại, khủng bố, khuynh đảo do Cộng Sản Hà Nội điều
động, đột nhập từ Miền Bắc vào. Không phải là cuộc chiến
tranh do dân chúng Miền Nam bất măn nổi dậy chống chính phủ
như người Mỹ nhận định. Tổng Thổng Diệm cho rằng, không lẽ
bây giờ ban hành tự do báo chí, tự do lập hội, để phe đối
lập tự do chỉ trích chính phủ th́ tự nhiên Cộng Sản ở nông
thôn sẽ chạy vào rừng lẫn trốn hay chạy về Bắc lánh nạn, hay
trái lại CS sẽ có lợi thế xâm nhập, khuấy động và lũng đoạn
và phá hoại dữ dội hơn. Điều quan trọng nhất là làm sao cho
người dân ở thôn quê, chiếm khoảng 80% dân số, được bảo đảm
an ninh, không bị Việt Cộng khủng bố, đêm đêm du kích CS vào
nhà, dùng súng uy hiếp, để thu thóc gạo, tiền bạc, thuốc men
và bắt con em họ đí lính cho CS. Hơn nữa người dân quê, cần
chính phủ tạo cho họ một đời sống đủ ăn, đủ mặc, chống lại
sự bóc lột của chủ đất và một thiểu số có thế lực và giàu có
.
V́ không được
Tổng Thống Diệm chia sẻ quan điểm của ḿnh, người Mỹ lại
thi hành một đường lối khác. Trước hết họ tiếp xúc với
các chính trị gia đối lập như Nguyễn Văn Lực
(VNQDĐ),
Đặng Văn Sung (ĐV),
Nguyễn Trân, Phan Quang Đán, Phan Huy Quát
(ĐV),
Lê Quang Luật, Trần Văn Lư, Lê Ngọc Chấn, các lănh tụ nghiệp
đoàn như Trần quốc Bửu, Đàm Sĩ Hiến, những chính khách miền
Nam như Trần Văn Văn, Bs Trần Văn Đỗ, Trần Văn Hương, Phan
Khắc Sửu, Bs. Nguyễn Lưu Viên, Bs Nguyễn Tăng Nguyên, Bs Hồ
Văn Nhật... Sau đó, họ mớm cho các chính trị gia này viết
kiến nghị lên Tổng Thống Diệm đúng như yêu cầu của họ đă đ̣i
hỏi Tổng Thống Diệm thi hành, mà không được chấp nhận. Đặc
biệt nhất là trong điện văn ngày 16. 3. 1960, thuật lại một
cuộc gặp gỡ giữa đại diện của Toà Đại Sứ Mỹ tại Saigon với
Bs. Hồ Văn Nhựt và ô. Trần Văn Văn… Trong buổi tiếp xúc này,
Ông Văn đă trao cho đại diện của toà Đại Sứ một bản Cương
Lĩnh Chính Trị của Nhóm Đối Lập. Một Quốc Hội Lâm Thời được
thành lập khi chính phủ
[Diệm]
bị lật đổ, và
một Chính Phủ Lâm Thời
(bao gồm danh sách các nhân vật)
được thiết lập trong trường hợp biến cố đó xảy ra, Rất
tiếc, là tôi chưa t́m được những văn bản của ông Văn trao
cho Toà Đại Sứ Mỹ lúc đó để đối chiếu với Bản Thỉnh
Nguyện Thư mà Nhóm của ông Trần Văn Văn đă tŕnh bày tại
khách sạn Caravelle vào ngày 26. 4. 1960, và danh sách
chính phủ mà ô. Trần Văn Văn trao cho Toà Đại Sứ Mỹ có trùng
hợp với 18 vị chính trị gia đối lập trong Nhóm Caravelle ?
Ông ngoại tôi kể lại cho nghe, theo Cụ Vơ Văn Hải, là người
thân tín của Tổng Thống Diệm nói rằng văn pḥng Tổng Thống
Phủ đă có đầy đủ bằng chứng là nhân viên sứ quán Mỹ ở
Saigon thời đó đă sửa những lỗi Anh văn cho bản manifesto
này.
V́ hiện nay,
chưa có đầy đủ tài liệu, để biết được những khía cạnh thực
của sự kiện lịch sử này. Nhưng ít ra, chúng ta cũng biết rơ
được 2 điều:
· Trước
khi ông Văn công bố Bản Tuyên Ngôn của Nhóm Caravelle,( ngày
26. 4. 1960) Ông Văn đă tiếp xúc cho Toà Đại Sứ Mỹ ở Saigon
(ngày 16. 3. 1960)
· Nội dung của
Bản Tuyên Ngôn mà ông Văn công bố hoàn toàn phù hợp với quan
điểm của Toà Đại Sứ Mỹ lúc đó, là lên án chế độ Diệm độc tài,
mở rộng quyền tự do ngôn luận tự do báo chí, tự do hội họp,
tự do lập hội và mở rộng thành phần nội các v.v.
Trước hết, để
có một ư niệm khách quan hơn, ta thử đặt câu hỏi, về phương
diện pháp lư, Tổng Thống Diệm khi hạn chế các quyền tự do đó,
có hợp pháp hay không?
Ông làm điều đó rất hợp pháp và hợp hiến v́ điều 98 trong
Hiến Pháp có ghi rơ:
Trong nhiệm kỳ
Lập Pháp đầu tiên, Tổng Thống có thể tạm thời đ́nh chỉ sự sử
dụng các quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và
báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đ́nh
công để thoả măn những đích đáng của an toàn chung, trật tự
công cộng và quốc pḥng.
Rồi qua nhiệm
kỳ Lập Pháp 2, ngày 19. 10 .1961 Quốc Hội đă biếu quyết luật
số 13/61:
Uỷ quyền cho
tổng thống ban hành những sắc luật về các biện pháp bảo vệ
an ninh quốc gia và điều động các nhân lực cần thiết
Thứ đến, thử
hỏi biện pháp này có phù hợp với thực tại chính trị Việt Nam
lúc đó không? Phải nói ngay rằng, rất phù hợp, v́ lúc đó, CS
đang gây rối, đánh phá chính quyền trên một trận rộng lớn và
toàn diện trong chính sách đấu tranh ba vùng và ba mặt như
tôi vừa tŕnh bày ở trên.
Khi hiểu được
những khái niệm ở trên, chúng ta nhận thấy rằng những yêu
sách của Nhóm Caravelle là không hợp lư, bất hợp pháp và
không phù hợp với thực tại chính trị Việt Nam thời đó, và vi
phạm vào những biện pháp an ninh quốc gia trong thời chiến,
lúc bấy giờ, v́ không có quốc gia nào trên thế giới, trong
t́nh trạng chiến tranh, lại không hạn chế tối đa những quyền
tự do dân chủ ấy. Thêm vào đó, nếu ngày nay ta có thêm bằng
chứng, những “nhà” được gọi trí thức này, đă cấu kết với Hoà
Kỳ, chỉ v́ tham vọng cá nhân, bè phái… để tạo thêm những rối
loạn cho một đất nước vốn đă bất ổn v́ t́nh trạng chiến
tranh và phá hoại của CS, th́ càng đáng bị lên án hơn nữa.
Đến nỗi, Duncanson, một nhà b́nh luận người Anh cũng đă phải
viết rằng:
Nếu bản kiến
nghị này được đưa ra trong điều kiện chính trị ổn định của
một Miền Nam không bị CS Hà Nội đe doạ tiêu diệt, th́ đó là
một yêu sách đáng được cứu xét nghiêm chỉnh. Điều đáng tiếc
nhất, là khi cộng quân đă tấn công đến cấp trung đoàn và các
vụ sát hại các viên chức chính phủ hầu như xảy ra hằng ngày,
th́ đó là một yêu sách nếu không muốn bảo là ngớ ngẫn, th́
ít ra cũng bắt nguồn từ sự thiếu khôn ngoan.
Với những dẩn
chứng trên, tôi nghĩ một người có trí óc b́nh thường cũng
hiểu rằng việc làm của các chính trị gia trong Nhóm
Caravelle là việc làm sai trái, bất hợp pháp và không phù
hợp với thực tại chính trị Miền Nam. Nếu chính quyền có phải
đưa họ ra toà, cũng là điều đương nhiên, v́ họ đă vi phạm
luật pháp quốc gia. Nhưng Tổng Thống Diệm đă không làm điều
đó, cho đến khi họ tham gia vào cuộc bạo loạn có vũ trang
nhằm khuynh đảo chính quyền của nhóm Trung Tá Vương Văn Đông,
th́ họ mới bị câu lưu và đưa ra toà án xét xử một cách công
minh, và cuối cùng đa số những vị này đều được tha bổng…Lấy
cơ sở pháp lư và luận lư nào để bảo Tổng Thống Diệm là độc
tài? Xin ông sử gia dẫn chứng.
2. Rồi vụ Đảo
Chánh ngày 11. 11. 60
Theo tài liệu
ngày nay tiết lộ của chính người chủ trương, ta thấy rơ đây
chỉ là chủ trương của một nhóm sĩ quan cấp tá, đầy tham vọng
cá nhân, manh động, không có chủ trương, không có đường lối
và được sự xúi bẩy bởi CIA, chính trung tá Đông đă tiết lộ:
Đầu tháng 10.
1960, trong một cuộc họp Ls.
[Hoàng Cơ]
Thuỵ đă cho Hội
Đồng biết có một nhân vật Hoa Kỳ, ông Carver, qua sự giới
thiệu của một người bạn, ông Thuỵ đă liên lạc với ông ta.
Mục đích của cuộc liên lạc [của Carver] là t́m hiểu và
khuyến khích giới đối lập đứng lên chống chế độ với sự ủng
hộ của Mỹ, hay ít ra là thành phần CIA tại Việt Nam
Và sau khi cuộc
đảo chánh thất bại, George Carver, đă dùng phương tiện của
Mỹ, đưa Hoàng Cơ Thuỵ trốn sang Pháp, và chính quyền Việt
Nam thời đó nói rằng họ có bằng chứng về những liên lạc
thường xuyên và mật thiết của những nhân viên của sứ quán Mỹ
ở Saigon với những người mưu sát Ngô Đ́nh Diệm . V́ thế, sau
đó Howard C. Elting và G. Carver đă phải rời khỏi nhiệm sở ở
Saigon.
3.
Vụ bỏ bom dinh độc Lập 27.2.1962
Có những sự
trùng hợp quá khác thường để những người nghiên cứu phải suy
nghĩ, sau khi ông Nguyễn Văn Lực
(Cha của Trung Úy Phi Công
Nguyễn Văn Cử)
được mời qua Mỹ
quan sát và sau khi Frank C. Child, một nhân viên trong Phái
Bộ của Đại Học Tiểu Bang Michigan cho Học Viện Quốc Gia Hành
Chánh trở về Mỹ, th́ chính Frank C. Child này đă gởi một
phúc tŕnh cho Carl Kayson, một thành viên tham mưu của Hội
Đồng An Ninh Quốc Gia vào 5. 10. 1961. Trong đó Child viết:
Có những nhân
vật thông minh và có khả năng ở Việt Nam có tài lănh đạo và
thu hút được niềm ước vọng của dân chúng- chỉ có một cuộc
đảo chánh quân sự, hay một viên đạn ám sát- là những phương
tiện duy nhất để cho tài lănh đạo này được thực hiện.
(xem thư của Frank C. Child,
trong hồ sơ US policy in Vietnam, Kennedy Library)
Th́ đến ngày
27. 2. 1962, xảy ra vụ 2 Trung Úy Phi Công là Nguyễn Văn Cử
và Phạm Phú Quốc bỏ bom Dinh Độc Lập. Tôi thiển nghĩ đây là
những liên hệ nhân quả của các sự kiện lịch sử đáng được các
nhà nghiên cứu lịch sử t́m hiểu trước khi đưa ra những phê
phán một chiều và thiếu thận trọng như ông đă làm.
C̣n về phương
diện luật pháp, việc dội bom Dinh Độc Lập của Trung Uư Cử và
Trung Uư Quốc là hành động cố sát có dự mưu hay là một vụ ám
sát chính trị. Đối với các quốc gia có truyền thống dân chủ
lâu đời như Pháp, như Anh,
(mặc dù trên thực tế Anh
quốc là một quốc gia theo thể chế Quân Chủ Lập Hiến),
họ xem ám sát chính trị là hành động hết sức ghê tởm và toà
án thường áp dụng h́nh phạt tối đa và nặng nề nhất cho hành
động sát nhân tệ hại này, c̣n nặng hơn những vụ án cướp của,
giết người. Điều này thể hiện rơ rệt nhất trong vụ xử án ám
sát chính trị dân biểu Newman, ở Sydney, Úc Châu vào năm
2001.
C̣n đối với
đảng phái chính trị đối lập, mà âm mưu tổ chức vụ ám sát này,
th́ chính họ đă từ bỏ ư nghĩa cao quí và chính danh của một
chính đảng đối lập để trở thành một băng đảng tội phạm hay
tổ chức giết người bất hợp pháp. Th́ làm sao ông bảo là
chính quyền cứng rắn đối với các thành phần đối lập được? V́
chính họ đă tự biến họ thành những tội phạm h́nh sự, chứ đâu
c̣n tư cách của những chính trị gia đối lập nữa. Nhất là một
quốc gia đang ở trong t́nh trạng chiến tranh phá hoại khiếp
hăi của CS như Việt Nam thời đó, th́ hành động vũ trang bạo
loạn của nhóm sĩ quan cấp tá như Vương Văn Đông và Nhóm
Chính Trị Gia không tưởng, do người Mỹ xúi dục, để gây rối
loạn và bất ổn chính trị và an ninh quốc gia. Rồi lại âm mưu
ám sát Tổng Thống, nhằm tạo nên một t́nh trạng khủng hoảng
lănh đạo trong một đất nước đang cần sự ổn định để chiến đấu
chống Cộng. Đó là những
hành động đáng bị lên án và kết tội nặng nề.
Tôi rất
đau buồn, khi thấy một người viết sử, có học ở trường lớp
như ông, lại đưa ra những nhận định nghịch lư, đổi trắng
thành đen, đổi đen thành trắng, rồi kết tội những người hành
sử quyền hành một cách hợp pháp, hợp hiến, đáp ứng nhu cầu
của thực tại chính trị của đất nước trong nỗ lực đem lại sự
ổn định cho quốc gia. Rồi ngược lại, ông ca tụng những
người v́ quyền lợi cá nhân, bè nhóm cùng với sự xúi giục của
ngoại bang để gây bất ổn cho đất nước…Không biết ông đang
đứng ở lập trường viết sử nào đây?
Tiếp theo ông
viết như sau:
Về
phía chính phủ, Tổng Thống Diệm càng ngày càng tập trung
quyền lực, chỉ tin dùng những người trong gia đ́nh và trong
đảng Cần Lao, không mở rộng thành phần chính phủ.
Tại sao Tổng
Thống Diệm phải làm như vậy? Chính William Colby, Trưởng
pḥng CIA Saigon tiết lộ trong cuốn hồi kư của ông:
Vào năm 1962,
trước khi [Colby]
rời Saigon, CIA đă gài người vào cửa trước và cửa sau của
Dinh Độc Lập cho đến các cộng đồng thôn xă, trong hàng ngũ
chỉ huy tối cao của quân đội, trong các cấp chỉ huy của các
các đơn vị quân đội cũng như trong giới chính trị đối lập
trên khắp lănh thổ Việt Nam.
(CIA has agents from the front
door to rear door of the Palace to the rural communities, in
the top commanders of military, in the commanders of units
as well as in political oppositions throughout Vietnam)
Lúc bấy
giờ, người Mỹ đă mua chuộc được cả những người thân cận nhất
của tổng thống Diệm như ô. Vỏ văn Hải , ô. Nguyễn Đ́nh Thuần
là những người được Tổng Thống Diệm tin dùng và cả Bs Trần
Kim Tuyến, một cộng tác viên thân cận của ông Nhu.
Qua những sự
kiện trên đây, ta thấy người Mỹ đă dùng một thủ đoạn vô cùng
thâm độc, nghĩa là họ gài người của họ vào các cơ chế của
chính quyền và mua chuộc các chính khách đối lập. Rồi họ
dùng chiêu bài dân chủ đ̣i buộc Tổng Thống Diệm cải tổ nội
các, tản quyền cho những người của họ có sẵn trong chính
quyền, và mở rộng nội các để họ có thể đưa những chính khách
của họ vào trong chính phủ. Như vậy, nếu Tổng Thống Diệm
chấp nhận đ̣i hỏi của Mỹ mở rộng nội các như ông lập luận,
th́ Tổng Thống Diệm chỉ c̣n là bù nh́n, và Mỹ sẽ là người
thực sự điều khiển chính quyền Việt Nam qua những người tay
sai của họ. Chủ quyền Quốc Gia Việt Nam sẽ đi về đâu? V́ thế,
những người viết sử phải nhận thức uẩn khúc trong hậu trường
chính trị thời đó, để có một cái nh́n đúng đắn, vô tư và
công b́nh hơn với những biến cố lịch sử lúc bấy giờ. Không
thể dựa vào lối lư luận hay nhận định của những kư giả thiếu
lương thiện, đă nhận tiền để biện hộ cho chính sách vừa ăn
cướp vừa la làng cùa Mỹ.
4. Phươnng Cách
Nhận Định Vấn Đề
Để nhận định
vấn đề một cách tổng quát, tôi nghĩ rằng nếu ông có một chút
kiến thức căn bản về khoa chính trị học th́ ông sẽ hiểu rằng,
đất nước ta vào thời kỳ cuối thập biên 50 và đầu thập niên
60 đang trong t́nh trạng chiến tranh, đặc biệt là cuộc chiến
tranh du kích, khủng bố, phá hoại và khuynh đảo do Cộng sản
điều động. Nói khác đi đây là chiến tranh nguy hiểm nhất, v́
cùng một lúc nó bao gồm nhiều mặt trận khác nhau như quân sự,
kinh tế, chính trị, văn hoá, xă hội... Trong những trường
hợp như vậy, luật pháp các nước dân chủ đều cho phép chính
quyền ban hành t́nh trạng chiến tranh, t́nh trạng khẩn
trương, hay lệnh thiết quân luật và quốc hội cho phép chính
phủ hạn chế các quyền tự do dân chủ căn bản, như tự do hội
họp, tự do ngôn luận, tự do báo chí tăng cường cho chính phủ
nhiều quyền hành rộng răi hơn.. Ông hăy đọc lại lịch sử để
biết Hoa Kỳ và Gia Nă Đại, để biết trong thế chiến thứ 2,
chính phủ cũng đă ban hành t́nh trạng chiến tranh, họ đă
phải hạn chế những quyền dân chủ căn bản như thế nào.
Trong khoa
chính trị học, ông cũng hiểu rằng khái niệm dân chủ là khái
niệm xếp hàng (line
up).
Nghĩa là những người có cùng một lư tưởng, một quan điểm,
một lập trường chính trị, kết hợp nhau trong một tổ chức
chính trị gọi là chính đảng, có nội quy, có kỷ luật có chủ
trương, đường hướng chung để hoạt động trong tinh thần đồng
đội (team work)
và mục tiêu cuối cùng của một chính đảng là phải dành được
chính quyền qua những sinh hoạt dân chủ b́nh thường trong
việc ứng cử và bầu cử ở các cấp chính quyền địa phương cũng
như trung ương, để đem chính sách, đường lối kinh bang tế
thế mà chính đảng cho là hay nhất của họ, đem ra thực thi để
phát triển quốc gia dân tộc chứ không phải là dùng binh lực
mà khuynh đảo chính quyền hay dội bom với mưu đồ ám sát một
tổng thống đương nhiệm, như các chính trị gia đối lập đă làm.
Đó là những h́nh thức bất hợp pháp gây hổn loạn trong đời
sống chính trị quốc gia, mà không một thể chế dân chủ tiến
bộ nào có thể chấp nhận được.
Từ ư niệm dân
chủ xếp hàng đó, nếu một chính đảng thắng cử qua một cuộc
bầu cử dân chủ và hợp pháp, th́ người lănh đạo của đảng đắc
cử, khi thành lập chính phủ, ông ta chọn những người trong
chính đảng của ông là điều hợp lư, hợp hiến và hợp pháp. Tại
sao đ̣i hỏi ông phải mở rộng thành phần chính phủ để mời các
chính khách đối lập tham gia để thêm hậu thuẫn quần chúng…Nếu
bây giờ, khi ông Obama đắc cử tổng thống, ông phải dành các
ghế trong nội các của ông cho đảng Dân Chủ là điều đương
nhiên, không ai đặt vấn đề. Nếu có người nào đó đ̣i hỏi tổng
thống Obama phải mời người của Đảng Cộng Hoà vào trong nội
các, nếu không sẽ bảo ông là độc tài, chắc chắn ai cũng bảo
đ̣i hỏi đó khá buồn cười, nếu không muốn bảo người đó bị
bệnh tâm thần.
Tại sao có
những đ̣i hỏi nghịch lư và phản dân chủ như vậy có thể tồn
tại gần 46 năm rồi, mà ngày nay những người được gọi là sử
gia của người Việt quốc gia như ông, lại sao chép một cách
không ư thức và không một chút đắn đo, thận trọng. Thật là
vô lư!
Ngoài ra, khi
phán xét một chính quyền độc tài hay không độc tài, người
viết sử phải thận trong cứu xét những khía cạnh khác của vấn
đề. Tổng Thống Diệm, ông muốn có một chính quyền mạnh, trung
ương tập quyền, đủ sức bảo vệ chủ quyền và chính nghĩa quốc
gia để thu hút được sự kính nể và ủng hộ của các quốc gia
trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia Á Phi, cho công cuộc
chống Cộng. Khi bảo vệ chủ quyền và chính nghĩa quốc gia là
ông đă thành công trong việc đánh tan luận điệu tuyên truyền
xảo trá của Cộng Sản cho rằng ông Diệm chỉ là bù nh́n của Mỹ.
Về phương diên kinh tế cũng vậy, ông cần một chính phủ mạnh
để hướng dẫn dân chúng trong một nền kinh tế có hoạch định,
có tổ chức để phát triển quốc gia đem lại cuộc sống an cư
lạc nghiệp cho mọi người. Chính v́ vậy, dù trong suốt 9 năm
cầm quyền, phải đối đầu với cuộc chiến tranh du kích, phá
hoại khiếp hăi của CS, Tổng Thống Diệm đă duy tŕ được mức
phát triển kinh tế ổn định và cao nhất so với các quốc gia
Đông Nam Á, trong cùng giai đoạn đó. Về mặt quân sự cũng vậy,
ông cần có những biện pháp cứng rắn, để tập trung dân chúng
vào các ấp chiến lược, để chống lại sự xâm nhập, khủng bố
của cộng sản vào các thôn ấp, để bảo đảm an ninh cho dân
chúng yên ổn làm ăn và thực sự hưởng được những quyền tự do
dân chủ căn bản tại đây. Đó là những biện pháp chế tài bất
đắc dĩ có tính toán, có kế hoạch để phát triển quốc gia, chứ
đâu phải là thứ độc tài để tham nhũng, thối nát, hối lộ để
t́m cách làm giàu cho cá nhân, gia đ́nh hay bè nhóm một cách
bất chính như chính quyền Hà Nội hiện nay.
C̣n đối với các
chính khách đối lập, họ làm bất cứ điều ǵ cũng được ca tụng
là đúng, là hợp lư, ngay cả những hành động bạo loạn, tạo
phản bằng vũ lực, gây rối loạn nghiêm trọng cho nền an ninh
trật tự của đất nước, họ đă vi phạm trầm trọng luật pháp
quốc gia trong thời chiến. Nhưng họ đă được ca tụng, phải
chăng, v́ họ đă làm theo chỉ thị của Mỹ? Nên báo chí Mỹ thời
đó khen ngợi hết ḿnh, nên 46 năm sau, để làm sử gia, ông
chẳng cần phải suy nghĩ ǵ cả, sao chép lại lời ca tụng
những người này là đủ.
Nhưng thưa Ông,
một nhà viết sử để được hậu thế kính trọng, như tôi đă tŕnh
bày nhiều lần, phải có đủ hiểu biết về thực tại và phải có
đủ kiến thức để phê phán. Nhưng khi đọc bài viết của ông từ
đầu đến đoạn này, tôi nghĩ ông đă thiếu vắng hai điều kiện
căn bản này. Thật vậy, ông đă không hiểu biết một tí ǵ
về thực tại chính trị Miền Nam thời đó và ông hoàn toàn
không có một học vấn tối thiểu về chính trị học để phẩm b́nh
về sinh hoạt chính trị của một chính quyền hợp pháp và hợp
hiến lúc bấy giờ.
Phải hiểu rằng
hiện nay Tân Gia Ba, là một quốc gia dân chủ tiến bộ, đang
trong thời kỳ thanh b́nh, không có chiến tranh, họ vẫn có
những quy định giới hạn quyền hội họp và tự do báo chí.
Nhưng có ai bảo Thủ Tướng Lư Hiển Long là độc tài đâu? Phải
chăng v́ Tổng Thống Diệm ngày xưa bị báo chí Mỹ chỉ trích
một cách bất công, thiên lệch, th́ ngày nay các nhà viết sử
của Người Việt quốc gia phải rập khuôn theo Mỹ để chỉ trích
ông một cách thiếu công tâm và vô trách nhiệm như vậy, mới
được gọi là sử gia chăng? Hay là kiến thức của ông quá hạn
hẹp, không biết được những nguyên tắc căn bản của thể chế
chính trị dân chủ cùng phương pháp sử học, nên ông mới có
những nhận định quàng xiên và vơ đoán như vậy.
(sai lầm 6, 7 &8)
Đến vụ án
Nguyễn Tường Tam, ông nói dù không bị bắt giam và chỉ bị gọi
ra toà xét xử, ông Tam đă quyên sinh và để lại những ḍng
tuyệt mệnh… đầy khí phách hào hùng . Ông là người viết sử,
ông không thấy có ǵ phi lư trong cách xử sự đó sao? Phải
chăng, v́ ông Tam sợ rằng cuộc đời của một lănh tụ cách mạng
của ông sẽ hoàn toàn sụp đổ trong nhục nhă khi phải đối chất
với đàn em của ông như các Ông Trương Bảo Sơn, Nguyễn Thành
Vinh, Trần Tương… trước Toà Án Quân Sự Đặc Biệt và để bảo
toàn chút danh dự c̣n sót lại của ḿnh, bắt buộc ông phải tự
tử? Nhưng trước giờ chết, ông đă không được thanh thản ra đi,
v́ tâm hồn ông c̣n vướng bận với những hư danh, nên mới viết
thư tuyệt mệnh để tự tâng bốc ḿnh như ông Lê Nguyên Phu, Uỷ
Viên Chính Phủ của Toà Án Quân Sự Đặc Biệt hồi đó đă tiết lộ.
? (sai lầm 9)
V. Đạo Dụ số 10
Chính sách tôn
giáo của chính phủ Diệm dựa trên Dụ số 10 do chính phủ Trần
Văn Hữu ban hành ngày 6-8-1950 dưới thời quốc trưởng Bảo Đại.
Tôi rất kinh
ngạc và vô cùng thất vọng khi đọc những nhận xét của ông về
đạo dụ số 10. Tai sao? Tôi không bao giờ dám nghĩ rằng một
người tự xưng là nhà nghiên cứu lịch sử như Ông lại không
biết đến liêm khiết trí thức của người cầm bút, ông không có
sự tự trọng tối thiểu để giữ phẩm cách và lương tâm của
người viết sử. Ngoài ra, ông cũng không có đủ kiến thức căn
bản để nhận định vấn đề như bổn phận của một nhà viết sử đ̣i
hỏi. Thực vậy, v́ sau khi đọc 3 điều ông trưng dẫn về đạo dụ
số 10, tôi thấy không có điều nào đúng cả. Để cho công b́nh,
tôi xin trích từng điều một để cho độc giả thấu triệt được
vấn đề:
1. Ông viết về
điều 1 của Đạo Dụ số 10:
Điều 1 của dụ
nầy sắp các tôn giáo, trừ Ky-Tô giáo, vào loại hiệp hội
thường (như hội thể
thao, hội đua ngựa..);
Trong khi đó,
điều 1 của Đạo Dụ số 10 viết:
Hội là hiệp ước
của hai hay nhiều người thoả thuận góp kiến thức hay hành
lực một cách liên tiếp để theo đuổi mục đích không phải phân
chia lợi tức, như là mục đích thuộc về tế tự, tôn giáo,
chính trị, từ thiện, thể thao và đồng nghiệp ái hữu.
Muốn có hiệu
lực th́ hội nào cũng phải hợp với nguyên tắc chung của pháp
luật về khế ước và nghĩa vụ.
2. Ông viết về
điều 45 của Đạo Dụ số 10:
điều 45 của dụ
nầy cho biết sẽ ấn định quy chế đặc biệt cho các hội truyền
đạo Ky-Tô và các hội Hoa kiều.
Trong khi đó,
điều 45 của Đạo Dụ số 10 viết:
Dụ này sẽ đăng
vào Công Báo và mang thi hành như quốc pháp.
3. Rồi tiếp
theo, ông viết:
Dụ này cũng qui
định các tôn giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn
viên nơi thờ phượng.
Trong khi đó,
Đạo Dụ số 10: Không có điều khoản nào nói về thể lệ treo cờ.
Như vậy, tôi
thiển nghĩ, ông chưa bao giờ đọc Đạo Dụ này, nhưng ông vẫn
dùng nó như một văn kiện pháp lư để buộc tội Tổng Thống Diệm
kỳ thị Phật Giáo. Như vậy, có bao giờ ông tự hỏỉ chính ḿnh,
ông c̣n chút tự trọng và lương tâm của người viết sử nữa
không?
Tôi thấy rất ái
ngại cho ông, nếu ông có chút hiểu biết tối thiểu về luật
học hay chịu khó đọc chừng 30 trang sách về thể thức lập hội
và công ty trong Company Law, ông sẽ tránh được những lỗi
lầm sơ đẳng như vậy, v́ không có luật về lập hội nào, qui
định những điều kiện treo cờ vớ vẩn như thế.
Hơn nữa, điểu
tối kỵ của người viết sử là dùng tài liệu thứ cấp
(secondary sources),
nghĩa là tài liệu mà người khác đă cắt xén, sắp xếp, đẻo gọt
lại theo quan điểm của họ, người viết sử c̣n có chút liêm
khiết trí thức phải t́m đọc các tài liệu gốc để đọc, để kiểm
chứng, nghiên cứu thận trọng trước khi viết. Trong trường
họp này, khi ông viết về Đạo Dụ số 10 ông đă phạm phải những
lỗi lầm vô cùng tệ hại, v́ người được ông trích dẫn cũng
chưa bao giờ đọc về văn kiện này, đă viết một cách sai lầm
v́ 2 lư do, trước hết họ không có kiến thức căn bản về pháp
lư, và thứ đến, có thể họ đă cố t́nh nói sai sự thật để có
lợi cho mục tiêu chính trị của họ. C̣n ông là người viết sử
trước khi trích dẫn một nhận định lầm lẫn nghiêm trọng như
vậy, ông đă không kiểm chứng lại tài liệu gốc, để có thể đưa
ra một nhận định khoa học và công b́nh hơn. Đằng này, ông đă
chọn một thái độ thiếu liêm khiết, thiếu tư cách đến tệ hại,
là ông có ư định lừa dối độc giả như chính ông đă đọc văn
kiện này. Điều này thể hiện quá rơ qua câu ông viết:
Dụ này cũng qui
định các tôn giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn
viên nơi thờ phượng
Nhưng trong
thực tế, trong Đạo Dụ này, không có một điều khoản nào nói
như vậy. Tôi xin nhắc lại một điều mà tôi đă viết trước đây,
trách nhiệm tinh thần cao quí của người viết sử là phải nói
đúng sự thật về các sự kiện lịch sử, là sự liêm khiết trí
thức, chứ không phải chưa hề đọc mà nói đọc, nhằm mục đích
bóp méo và xuyên tạc sự thật. Đó là sư gian lận đáng trách
nhất trong giới trí thức mà chỉ có ông và ông Chính Đạo mới
dám làm như vậy. (sai
lầm 10, 11 &12)
Để phê b́nh về
Dụ số 10, ông viết:
Dụ nầy rơ ràng
không công bằng giữa các tôn giáo….Trong các đạo trên đây,
tổng số tín đồ Phật giáo, Nho giáo, Lăo giáo, Cao Đài giáo
và PGHH chiếm tỷ lệ rất lớn trên tổng dân số Việt Nam, có
thể lên đến trên 80% dân số, th́ bị xếp như các hiệp hội,
trong khi Ky-Tô giáo với số lượng tín đồ ít, th́ được hứa
hẹn một quy chế đặc biệt.
Có lẽ ông muốn viện dẫn điều khoản 44 của Đạo Dụ số 10,
nhưng chưa bao giờ đọc nên trưng dẫn sai thành điều 45 như
trên đă nói. Trước hết, xin trích lại nguyên văn, điều 44 để
ông rơ, sau đó là phần góp ư:
Điều thứ 44 –
Chế độ đặc biệt cho các hội truyên giáo Thiên Chúa và Gia Tô
và các Hoa Kiều Lư Sự Hội sẽ ấn định sau.
Trước tiên, v́
bổn phận và trách nhiệm của một người viết sử, ông không nên
viết: Dụ nầy rơ ràng không công bằng giữa các tôn giáo.
Thật vậy, trước hết muốn phê b́nh một đạo luật, phải t́m
hiểu ư muốn thực sự của người soạn luật và tại sao họ đă
soạn như vậy hay ít ra ông cũng nên t́m hiều một ư niệm khái
quát về luật học căn bản, trường hợp này là luật hiến pháp
để có thể hiểu vấn đề một cách đầy đủ hơn. Ngược lại, ông là
một người viết sử lại hành sử như một người thiếu hiểu biết,
chưa hiểu biết được sự việc, đă vội vàng thẩm định vấn đề
lịch sử một cách bất công do kiến thức nông cạn của ḿnh hay
v́ thiên kiến chính trị riêng tư của ông. Nhưng cả hai thái
độ trên đều phản khoa học, không khách quan và vô tư như
phương pháp sử đ̣i hỏi.
(sai lầm 13)
Thật sự, khi
soạn điều khoản 44 trên, các nhà làm luật thời đó, đă phải
căn cứ vào điều 1 của Hiệp Ước Việt – Pháp Élysée được kư
kết ngày 8.3.1949, giữa Bảo Đại và Tổng Thống Vincent Auriol
của Pháp, trong đó, có ấn định trước khi ban hành những điều
luật liên quan đến người Pháp và ngoại kiều sinh sống tại
Việt Nam, đều phải có sự đồng ư của Cao Ủy Pháp tại Đông
Dương, chính phủ Việt Nam mới được ban hành. Ngoài ra, v́
giáo hội Công Giáo Việt Nam lúc đó chưa có tư cách pháp nhân
riêng biệt, c̣n trực thuộc vào Hội Truyền Giáo Ba Lê,
(Société des Missions
Etrangères de Paris,)
cũng như Hội Thánh Tin Lành và các Hoa Kiều Lư Sự Hội, v.v...,
đều được xem là những hiệp hội ngoại kiều nên cần phải có sự
đồng ư của Pháp mới ban hành được. Sự việc pháp lư đơn giản
như vậy. Thực vậy, Quốc Trưởng Bảo Đại và ông Bộ Trưởng Tư
Pháp Nguyễn Khắc Vệ, người đă kư phó thự vào Đạo Dụ này cùng
với Quốc Trưởng, không có một lư do ǵ để ban hành một đạo
dụ bất công giữa các tôn giáo. Nếu ông chưa tham khảo tài
liệu đầy đủ và chưa đủ hiểu biết về luật học để nhận định
vấn đề, tốt hơn ông không nên vội vă đưa ra những phán đoán
sai lạc như vậy. Điều này chỉ thể hiện sự thiếu tự trọng và
phẩm cách của người viết sử mà thôi.
Rồi ông viết
tiếp:
Cần chú ư là
sau dụ số 10 ngày 6-8-1950 cho đến đầu thập niên 60, t́nh
h́nh tôn giáo Việt Nam thay đổi rất nhiều, nhưng dụ số 10
ngày 6-8-1950 vẫn không được điều chỉnh.
Ông viết câu
này hàm chứa ư nghĩa lên án chinh quyền Ngô Đ́nh Diệm đă
không tu chỉnh luật pháp để những bất công cho Phật Giáo vẫn
tồn tại. Tôi xin nhắc lại với ông, một người viết sử như ông
tại sao lại đặt một câu hỏi ngớ ngẩn như vậy? Trước khi đặt
câu hỏi tại sao Đạo Dụ số 10 chưa được tu chính, ông phải
t́m hiểu về sáng quyền lập pháp, về thủ tục đề nghị một dự
thảo luật, thủ tục thông qua một dự thảo luật, thủ tục ban
hành một đạo luật… để hiểu rơ vấn đề trước khi đưa ra một
nhận xét công b́nh và đứng đắn về các sự kiện lịch sử. Đằng
này, rất tiếc v́ không có đủ kiến thức về luật học, không có
đủ hiểu biết về thực tại chính trị, lại làm biếng không t́m
hiểu vấn đề, rồi thêm vào đó, không biết tự trọng, ông đă
dựa vào kiến thức giới hạn của ḿnh để đưa ra những lời lên
án bất công và sai lạc. Điều này thực sự đă đi ngược với bổn
phận và lương tâm của một người viết sử.
(sai lầm 14)
Trong đoạn kế
tiếp, ông viết:
Riêng Phật giáo,
ngày 6-5-1951, các hội Phật học trên toàn cơi Việt Nam họp
tại chùa Từ Đàm (Huế), thành lập Tổng Hội Phật giáo Việt
Nam, thông qua bản điều lệ, nội quy, bầu ban quản trị và suy
cử ḥa thượng Thích Tịnh Khiết làm tổng hội chủ.
Thưa ông, ở đây ông lại viết sai nữa, Theo Cư sĩ Mai Thọ
Truyền, một phật tử trí thức của miền Nam đă tiết lộ:
Ngày 6. 5.
1951, một Đại Hội Phật Giáo Toàn Quốc đầu tiên, được tổ chức
tại Huế với sự tham dự của 53 tăng sĩ và cư sĩ đại diện cho
3 miền Việt Nam. Đại hội đă thông qua một số điều khoản
nhưng v́ những chia rẽ Nam Bắc, nên đại hội đă không thành
lập được Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam như ư muốn . Sự thật là
Phật Giáo phải đợi đến ngày 1. 4. 1956, dưới thời chính
quyền Diệm là chính quyền mang tiếng đàn áp và kỳ thị Phật
Giáo, những người lănh đạo Phật Giáo mới có thể ngồi lại với
nhau và thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam.
(sai lầm 15)
Rồi sau đó, ông
lại viết về vấn đề treo cờ:
Ngày 6-5-1963,
hai ngày trước lễ Phật đản, đổng lư văn pḥng Phủ TổngThống
gởi công điện yêu cầu các địa phương không được treo cờ
ngoài khuôn viên của chùa, theo đúng tinh thần dụ số 10 ngày
6-8-1950.
Như đă tŕnh
bày trên đây, không có một điều khoản nào trong Đạo Dụ số 10
nói về việc treo cờ, nhưng v́ ông chưa bao giờ đọc Dụ này,
nên ông cứ nhắc đi nhắc lại điều lầm lẫn này măi. Tôi xin đề
nghị ông nên đọc Nghị Định số 189-BNV/NA/P5 ngày 12. 5. 1958
và Thông Tư số 519/B-BNV/NA/P5 cùng ngày và Nghị Định số
5036/B-BNV/KS ngày 1. 9. 1962 của Bộ Nội Vụ để biết về thể
lệ treo cờ chung cho mọi tôn giáo
(sai lầm 16)
Về biến cố Phật
Giáo ngày 8. 5, ông viết:
Tối Phật đản
8-5-1963, khi dân chúng tụ tập ở Đài phát thanh Huế để theo
dơi buổi tường thuật Lễ Phật đản ngày hôm đó, một tiếng nổ
bùng lên, làm thiệt mạng 8 người và bị thương 15 người. Tin
tức về vụ nổ được lan truyền nhanh chóng. Người ta không
biết đích xác ai gây ra vụ nổ.
Không biết
tường thuật như vậy, ông sử gia có thấy sự bất hợp lư của
chính ông không? Ai cũng hiểu rằng vào năm 1963, hầu như mọi
gia đ́nh ở Huế đều có máy thu thanh. Mấy ai đến trước Đài
Phát Thanh Huế với mục đích theo dơi buổi tường thuật về
buổi lễ Phật Đản ngày hôm đó như ông tŕnh bày?
Thật sự, sáng
hôm đó, ngày 8. 5. 1963, là buổi lễ Phật Đản chính thức,
được tổ chức ở chùa Từ Đảm, Thượng Tọa Trí Quang mở đầu buổi
lễ bằng một bài diễn văn phản đối chính phủ cấm treo cờ Phật
Giáo quốc tế trước các đại diện chính quyền như ông Tỉnh
Trưởng Nguyễn Văn Đẳng, Đại Biểu Chính Phủ Hồ Đắc Khương…
rồi Thượng Toạ tiếp theo nói rằng đ̣i hỏi của Phật giáo là
chính đáng, xây dựng, không những có lợi ích cho chính Phật
Giáo và các tôn giáo khác, mà c̣n có lợi cho cả chính phủ…rồi
Thượng toạ tuyên bố sẽ đạo đạt yều cầu lên chính quyền địa
phương và lên Tổng Thống Diệm. Tiếp đó, Thượng toạ Thích Đôn
Hậu cử hành lễ Phật Đản. Sau cùng, mọi người b́nh thường ra
về.
Theo đúng lịch
tŕnh tối hôm đó, Phật Tử sẽ đến Chùa Từ Đàm, để nghe thuyết
pháp xem pháo bông và xem rước kiệu hoa bắt đầu vào lúc 7
giờ 30 tối. Nhưng Thương toạ Thích Trí Quang đột ngột thay
đổi chương tŕnh, bảo mọi người tham dự, đến đường Cầu
Trường Tiền , để đón 20 xe hoa Đà Nẵng ra Huế. Do đó, khi
nghe nói là đi xem xe hoa, đa số các người tham dự là các em
thiếu nhi, trong đó có cả thiếu nhi Công Giáo, đều háo hức.
Khi thấy số
người tụ tập trước Đài Phát Thanh khá đông, như đă tính toán
trước là lợi dụng số đông của quần chúng để áp lực với chính
quyền, thầy Trí Quang, Thiện Minh và một số nhà sư khác nữa
đi vào Đài Phát Thanh yêu cầu ông Giám Đốc Đài Phát Thanh
Ngô Ganh, thay đổi băng về chương tŕnh Phật Đản được thu âm
trước đó một tuần, đă được kiểm duyệt theo đúng luật lệ,
bằng cuộn băng ghi âm hồi sáng, trong đó có bài diễn văn chỉ
trích chính phủ của Thượng toạ Trí Quang. Dĩ nhiên, ông Ngô
Ganh phải từ chối điều đó, v́ đây là đài Phát Thanh Quốc Gia,
không thể phát thanh một cuộn băng chống chính phủ. Các
thương toạ hiện diện lớn tiếng đe doạ, cùng với những tiếng
la ó và phản đối bên ngoài.. Ông Ganh đă khóa cửa lại và gọi
điện thoại cho Ông Tỉnh Trưởng để kêu cứu. Rồi ông Tỉnh
Trưởng đă chỉ thị cho Ông Đặng Sĩ, Phó Tỉnh Trưởng Nội An,
kiêm Tiểu Khu Trưởng, đem cảnh sát và binh sĩ đến để giải
tán đám đông. Rồi một tiếng nổ lớn đă phát ra, khiến 7 em
thiếu nữ từ 12 đến 17 tuổi, và một thanh nữ 19 tuổi chết và
một số khác bị thương. Trong số người chết, có một em là
Công Giáo .
Đă 46 năm sau
ngày biến cố này xảy ra, mà ông đă không kiếm t́m những tài
liệu đúng đắn của những nhân chứng hay tài liệu khả tín để
biết về sự thật này. Ông lại đi sử dụng những tài liệu loại
2 của ông Chánh Đạo, là người có quá nhiều tai tiếng trong
việc dẫn chứng tài liệu lịch sử.
Điều tôi muốn
nhấn mạnh ở đây là có 3 sự thật cần phải phơi bày là:
· Thầy Trí
Quang đă đánh lừa Phật Tử đến đầu cầu Trường Tiền, để đón xe
hoa từ Đà Nẵng ra, chứ không hề kêu gọi tín đồ đến Đài Phát
Thanh để biểu t́nh.
· Khi đến đầu
cầu Trường Tiền tức là trước Đài Phát Thanh, các Phật Tử mà
đa số là các em thiếu nhi và các thanh niên, thanh nữ được
thông báo cần ở lại tranh đấu để chính phủ cho phát thanh
chương tŕnh đặc biệt Phật Đản như thường lệ hằng năm. Chứ
họ hoàn toàn không biết chương tŕnh phát thanh đặc biệt
Phật Đản đă không thực hiện được v́ âm mưu thay đổi cuộn
băng ghi âm của Thầy Trí Quang vào giờ chót.
· Các nạn nhận
trong vụ nổ này toàn là trẻ em dưới 18 tuổi và chỉ có một
người 19 tuổi. Trong đó có một em là người Công Giáo. Như
vậy chắc chắn không phải là những người đến đài phát thanh
để theo dơi chương tŕnh Phật đản như ông nói.
Qua những sự
kiện trên đây, ông là người viết sử đă không cho người đọc
được biết rơ ràng về những chi tiết quan trọng của sự thật
này. Không biết v́ vô t́nh hay cố ư. Nhưng cả 2 thái độ đó
đều phản ảnh sự thiếu lương tâm, bổn phận và trách nhiệm
chức nghiệp của một người viết sử. Và qua những chi tiết này,
mọi người đều nhận thấy Thầy Trí Quang đă hành động với thủ
đoạn của một người làm chính trị, chứ không phải hành xử
theo tư cách đạo đức của một tăng sĩ Phật Giáo chân chính.
(sai lầm 17, 18 &19)
Trong một đoạn
khác, ông viết:
Sau các cuộc
họp giữa Uỷ ban Liên bộ của chính phủ và phái đoàn Uỷ ban
Liên phái Phật giáo do thượng tọa Thích Thiện Minh cầm đầu
từ 14-6 đến 16-6-1963, chính phủ Diệm nhượng bộ, đồng ư để
Phật tử tự do treo cờ và tạm ngưng áp dụng sắc dụ số 10 ngày
6-8-1950.
Ở đây, tôi cũng
rất ân hận, để nói rằng, ông viết sử mà không đọc tài liệu,
không cần chứng cớ, chỉ viết theo tin đồn ngoài phố. Đó là
thái độ thiếu nghiêm chỉnh đáng trách của một người viết sử.
Thật vậy, ông đă không đọc Bản Thông Cáo Chung giữa Uỷ Ban
Liện Bộ và Ủy Ban Liên Phái Phật Giáo, kư ngày 16. 6. 1963.
Trong đó, có ghi rơ điều kiện treo cờ Phật giáo và cờ quốc
gia ở các Chùa, ở nơi khán đài công cộng, trong các cuộc
rước kiệu và sau hết là ở tư gia, chứ không để phật tử tự do
treo cờ như ông nói.
Và Đạo Dụ số 10 vẫn được tiếp tục cho đến khi Quốc Hội biểu
quyết đạo luật mới để thay thế, chậm nhất là đến cuối năm
1963 hay đầu năm 1964. Trong khi chờ đợi Uỷ Ban Liện Bộ sẽ
ra một thông báo yêu cầu chính quyền các cấp đừng áp dụng Dụ
này quá khắt khe với các Hiệp Hội Phật Giáo, chứ không có
việc tạm ngưng áp dụng sắc dụ số 10 ngày 6-8-1950.
VI. Phái Đoàn
Điều Tra Liên Hiệp Quốc
Trong một đoạn
khác ông viết:
Trên thế giới,
ngày 9-8-1963, Cambodia, Ceylon
(sau đổi thành Sri Lanka),
Nepal đưa vấn đề Phật giáo Việt Nam ra trước Liên Hiệp Quốc
(LHQ).
Đại hội đồng LHQ ngày 8-10-1963 quyết định gởi một phái đoàn
điều tra đến Việt Nam. Phái đoàn LHQ đến Sài G̣n ngày
24-10-1963. Hôm sau, phái đoàn đến gặp tổng thống Diệm và tổ
chức họp báo. (Đoàn Thêm,
sđd. tr. 364)
Phái đoàn chưa hoàn tất công việc điều tra, th́ chính phủ
Diệm sụp đổ ngày 1-11-1963.
Trong một đoạn
văn ngắn, ông đă phạm phải 3 lỗi lầm:
· V́ Đại Hội
Đồng LHQ không thể gởi phái đoàn điều tra đến Việt Nam như
ông nói, v́ Việt Nam dưới thời Tổng Thống Diệm là một quốc
gia có độc lập và chủ quyền, LHQ chỉ có thể đến Việt Nam,
nếu có lời mời của Việt Nam hoặc có sự đồng ư của Việt Nam.
Thực tế đă trái
ngược với điều ông đă viết, theo lịch tŕnh Đại Hội Đồng LHQ
sẽ thảo luận để lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền vào ngày
8. 10. 1963, nhưng trước đó 4 ngày, tức ngày 4. 10. 1963,
Đại Sứ Bửu Hội đă chính thức gởi một thông điệp đến Chủ Tịch
Đại Hội Đồng LHQ và Tổng Thư Kư LHQ U Thant, chính thức mời
LHQ gởi một phái đoàn đến điều tra tại Việt Nam. Ngày 8. 10.
1963, Đại Hội Đồng LHQ chấp nhận lời mời của chính phủ Việt
Nam, chấp thuận đ́nh hoăn việc thảo luận Vấn Đề Phật Giáo
cho đến khi nhận được bản Phúc Tŕnh của Uỷ Ban Điều Tra LHQ.
· Ông nói: Phái
đoàn chưa hoàn tất việc điều tra. Thực tế, phái đoàn đă hoàn
tất công việc điều tra.
· Tiếp đến,
không những phái đoàn đă hoàn tất điều tra, mà c̣n viết một
phúc tŕnh về vấn đề này, dày 323 trang, gồm cả phụ lục,
khiến Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lo sợ phải t́m cách ém nhẹm đi ,
v́ Đại Sứ Fernando Volio của Costa Rica, trong Uỷ Ban Điều
Tra Sự Thật đă viết:
Lời cáo buộc
tại Đại Hội Đồng LHQ đối với chính quyền Diệm đă không thể
tồn tại… với những bằng chứng thu thập được đă chứng tỏ rằng
không hề có vấn đề kỳ thị tôn giáo hoặc xâm phạm quyền tự do
tôn giáo
Và Thượng Nghị
Sĩ Thomas J Dodd , Chủ Tịch Uỷ Ban Tư Pháp Thượng Viện Hoa
Kỳ, sau khi đọc bản phúc tŕnh này đă viết:
Theo ư tôi,
điều cần phải nói thêm rằng nhân dân Hoa Kỳ một lần nữa, đă
bị một vài tờ báo thông tin một cách sai lạc về t́nh h́nh
quốc ngoại mà nhân dân Hoa Kỳ hằng lưu tâm đến.
Chúng ta được
thông tin rằng chính phủ Diệm đă có những hành động đàn áp,
rằng những tu sĩ vô tội đă bị thúc đẩy tự thiêu để phản
kháng. Ngược lại, việc đàn áp đă không xảy ra một cách trầm
trọng và đó chỉ là một sự khích động mang màu sắc chính trị.
Uỷ Ban đă không
đi sâu vào động cơ chính trị dẫn đến sự khích động của Phật
Giáo. Nhưng tôi nghĩ rằng câu trả lời cho vấn đề này chính
là câu trả lời của Thượng Toạ Thích Trí Quang người lănh đạo
cuộc tranh đấu (hiện đang tị nạn tại Toà Đại Sứ HoaKỳ ở
Saigon) với Cô Marguerite Higgins: ‘Chúng tôi chỉ có thể
dàn xếp với Miền Bắc sau khi lật đổ Diệm và Nhu’. …
Giờ đây chúng
ta lại là nạn nhân của một sự lừa dối khác, hậu quả là chính
phủ của Ông Ngô Đ́nh Diệm đă bị tiêu diệt và một t́nh trạng
rối loạn đă diễn ra sẽ làm cho việc chống Cộng trở nên khó
khăn hơn.
Như vậy, những
người viết sử như ông và những người Phật Giáo tranh đấu đến
nay, vẫn cho là cuộc tranh đấu năm 1963 là v́ vấn đề kỳ thị
tôn giáo, th́ chính thượng Toạ Trí Quang công khai xác nhận
đó là cuộc tranh đấu v́ mục tiêu chính trị. Phải chăng ông
và nhóm người này c̣n bảo hoàng hơn cả ông vua?
Thưa ông
Phụng, với tư cách là một người viết sử, không biết có bao
giờ ông tự vấn lương tâm về những điều ông đă viết sai sự
thật này không?
(sai lầm 20, 21 & 22)
Đoạn kế tiếp
ông viết:
Sau biến cố
Phật giáo ngày 8-5-1963 ở Huế, người đứng đầu Nhóm nghiên
cứu Việt Nam thuộc Ṭa đại sứ Hoa Kỳ, Ben Wood, soạn một kế
hoạch khẩn cấp ngày 23-5-1963 về các cách thay đổi chính phủ
Diệm.
Thưa ông Phụng,
ở đây, ông lại viết sai nữa. Thật vậy, Chalmers B. Wood đă
rời Toà Đại Sứ Mỹ ở Saigon từ tháng 9. 1959 , làm sao có mặt
ở Ṭa đại sứ Hoa Kỳ, để soạn thảo kế hoach khẩn cấp như ông
nói. (sai lầm 23)
VII. Điện Văn
243 ngày 24. 8. 1963
Tôi hết sức
kinh ngạc khi đọc đoạn tường tŕnh này của ông v́ tất cả các
sự kiện ông viện dẫn đều không đúng sự thật. Trước hết, ông
viết:
Ngày 24-8-1963,
Lodge gởi về Washington DC một điện văn báo cáo rằng ông Nhu
là người ra lệnh tấn công chùa và nói về dự tính đảo chánh
của một số tướng lănh.
Thưa ông, khổ
quá, sử gia của tôi lại viết sai nữa, trong ngày 24. 8,
Lodge gởi về Hoa Thịnh Đốn tới 4 điện văn để tố cáo ông Nhu,
chứ không phải 1 điện văn như ông nói. Điều này có ghi rơ
trên phần đầu của điện văn 243 ngày 24. 8. 1963 mà chính ông
đă trích lại của Ngô Kỷ, trong chú thích số 18 trong bài
viết của ông:
Theo CAS Sài
G̣n 0265 báo cáo về quan điểm của Tướng Đôn; Saigon 320,
Saigon 316, Saigon 329.
[Các con số là những kư hiệu mật mă.]
Nguyên văn
tiếng Anh viết như sau:
Re CAS Saigon
0265 reporting General Don’s views. Saigon 320 Saigon 316
and Saigon 329.
Nhưng ông Ngô
Kỷ đă không hiểu về thủ tục viết văn thư hành chánh, nên cho
rằng đây là những kư hiệu mật mă. Sự thực hoàn toàn khác hẳn
và phải được hiểu như sau:
Tham chiếu: Các
nguồn tin do Hoa kỳ kiểm soát
(Re CAS là chữ viết tắt của
Reference Controlled American Sources)
tại Saigon tường tŕnh về quan điểm của tướng Đôn, Điện văn
320 của Toà Đại Sứ Mỹ ở Saigon, Điện văn 316 của Toà Đại Sứ
Mỹ ở Saigon, Điện văn 329 của Toà Đại Sứ Mỹ ở Saigon,
Như vậy, chắc
bây giờ ông đă hiểu. Điện văn 243 ngày 24. 8. 1963 của Bộ
Ngoại Giao Hoa Kỳ thảo ra nhằm trả lời cho Đại Sứ Lodge, căn
cứ trên 4 văn kiện mà Toà Đại Sứ Saigon gởi về cho Toà Bạch
Ốc. Nếu là một người viết sử đứng đắn, thận trọng và có một
chút hiểu biết chuyên môn và quen tham khảo tài liệu, sẽ
phát hiện ngay được những sai lầm của ông Ngô Kỷ, nhưng ông
lại không chịu khó tham khảo các tài liệu gốc, và chỉ thích
làm việc dễ dàng là chọn những tài liệu thứ cấp để đọc, nên
mới có những sai lầm này. Đáng lư, ông phải t́m hiểu rơ
những điện văn này báo cáo như thế nào mà HTD đă gởi điện
văn khẩn cấp như vậy để phúc đáp. Ở đây, ông là người viết
sử, lại chọn một thái độ rất đáng trách, chép lại một cách
không cần suy nghĩ, không buồn kiểm chứng một tài liệu của
ông Ngô Kỷ, một người mà khả năng chuyên môn rất đáng nghi
ngờ như tôi vừa tŕnh bày ở trên. Ngay cả trường hợp của tôi,
môt sinh viên vô danh tiểu tốt, khi làm một bài luận văn ở
đại học, giáo sư của tôi cũng không thể chấp nhận cách làm
việc cẩu thả này. Huống ǵ ông, một nhà viết sử, lại để quên
lương tâm chức nghiệp của ḿnh, làm điều sai trái như vậy.
Để cho độc giả
thấy rơ hơn vấn đề, tôi xin vắn tắt về các điện văn này.
Điện văn Saigon 320, thực sự tên đầy đủ của điện văn này là
Embtel Saigon no. 320,
(viết tắt của Embassy Telegram)
gởi đi từ
Saigon ngày 24. 8.1963 lúc 6 giờ chiều tường tŕnh về cuộc
gặp gỡ giữa Tướng Lê Văn Kim và Rufus Phillips, lúc đó là
giám đốc USOM, đặc trách về Nông Thôn. Điện văn 316
(Embtel 316),
tường tŕnh về cuộc gặp gỡ giữa Paul Kattenburg và Vơ Văn
Hải, gởi đi từ Saigon ngày 24. 8. 1963, không ghi rơ giờ.
Điện Văn 329, trong đó tổng kết tin tức của 3 cuộc gặp gỡ
này cùng cuộc gặp gỡ giữa Nguyễn Đ́nh Thuần và Rufus
Phillips, và nhận định tổng quát về t́nh h́nh chính trị lúc
đó, được gởi đi từ Saigon ngày 24. 8. 1963, lúc 11 giờ khuya.
V́ giới hạn của bài báo không cho phép chúng tôi phân tích
về nội dung của các điện văn này. Tôi chỉ muốn đưa ra ở đây
để cho các nhà viết sử như ông Phụng biết được những khía
cạnh phức tạp của vấn đề cùng cách tra cứu và sử dụng tài
liệu để có thể đưa ra những nhận định khách quan và khoa học
hơn. (sai lầm 24)
Tiếp theo, ông
cho rằng:
Thứ trưởng
Ngoại giao George Ball, cùng Harriman
(thứ trưởng Ngoại giao),
Hilsman (phụ tá ngoại
trưởng),
Forrestal (phụ tá tổng thống) đồng soạn và kư tên mật điện
243. rồi chuyển cho tổng thống Kennedy và ngoại trưởng Rusk.
Hai ông nầy đồng ư cho gởi đi.
Tôi không thể
tưởng tượng một nhà viết sử như ông lại không có một chút
kiến thức nào về thể chế chính trị tại Hoa Kỳ, khi ông viết
Forrestal là Phụ Tá Tổng Thống. Một người dân b́nh thường ở
Hoa Kỳ cũng thừa biết rằng, trong cơ chế chính quyền Hoa Kỳ
làm ǵ có chức vụ Phụ Tá Tổng Thống, mà ông là một nhà viết
sử lại có kiến thức quá kém cỏi để viết như vậy. Thực sự,
lúc đó, Michael Forrestal, là phụ tá cho McGeorge Bundy, mà
Bundy là Cố Vấn về An Ninh Quốc Gia cho Tổng Thống Kenndy.
(sai lầm 25)
C̣n về sự kiện
lịch sử này, sự thật hoàn toàn khác hẳn với điều mà ông vừa
tŕnh bày. Thật vậy, chính George Ball đă tiết lộ: Hilsman
và Harriman đă thảo điện văn này và t́m đến Sân Golf 9 lỗ ở
Washington để gặp Ball và xin chấp thuận văn kiện này trước
khi gởi cho Lodge ở Saigon , v́ lúc đó Ball xử Lư Thường Vụ
Ngoại Trưởng, c̣n Dean Rusk đang ở New York . Ball đă giải
thích rằng, trong những vấn đề thường nhật, ông có thể quyết
định một ḿnh ông. Nhưng đây là vấn đề quan trọng nên ông
cần có sự chấp thuận của Dean Rusk, Ngoại Trưởng, Robert
McNamara, Bộ Trưởng Quốc Pḥng cùng các giới chức quân sự
quan trọng và John McCone, Giám Đốc CIA. Tuy nhiên, vấn đề
gặp trở ngại, là các vị này không có mặt ỏ Hoa Thịnh Đốn vào
thời diểm đó. Tổng Thống Kennedy đang ở Hyannisport , Robert
McNamara đang leo núi ở Grand Tetons , John McCone đang đi
nghỉ ở California và Maxwell Taylor, đang ở một nhà hàng
nào đó ở Hoa Thịnh Đốn . Sau đó, Ball liên lạc với Tổng
Thống Kennedy, Kennedy trả lời, ông chỉ chấp thuận nếu Bộ
Trưởng Quốc Pḥng và Ngoại Trưởng đồng ư. Rồi sau đó, Ball
gọi điện thoại cho Dean Rusk và làm cho Rusk nghĩ rằng
Kennedy đă dồng ư với điện văn này. Nhưng sau này Rusk biết
rằng Kennedy đă nói ‘tôi sẽ chấp thuận điện văn đó, nếu Rusk
và McNamara chấp thuận nó’. Nhung lúc đó, nghĩ rằng sự chấp
thuận của Tổng Thống đă giới hạn quyền tự do hành động của
tôi … và tôi đă đồng ư.
Như vậy, rơ
ràng là Ball đă gọi điện thoại đánh lừa Tổng Thống Kennedy
và Ngoại Trưởng Dean Rusk rồi qua mặt Bộ Trưởng Quốc Pḥng
McNamara để chuyển điện văn này đi, chứ không có việc chuyển
điện văn này đến cho Kennedy và Dean Rusk. Rồi hai ông này
đồng ư cho gởi điện văn ấy đi như ông đă tŕnh bày.
(sai lầm 26)
Sự việc chuyển
điện văn một cách gấp rút và không minh bạch này đă khiến
Tổng Thống Kennedy tức giận, và McCone, Maxwell Taylor hậm
hực v́ bị lừa dối. McNamara cũng bất b́nh không kém.
Tổng Thống
Kennedy sau này đă nói: Điện văn này đă soạn thảo một cách
tồi tệ, và không bao giờ nên gởi đi vảo thứ Bảy. Sau đó,
Kennedy thêm rằng ông không nên đồng ư với điện văn này nếu
không có một cuộc họp bàn tṛn trong đó McNamara và Taylor
có thể tŕnh bày quan điểm của ḿnh.
VIII. Ngô Đ́nh
Nhu và Trung Lập Hoá Miền Nam
Rồi khi nói về
việc ông Ngô Đ́nh Nhu bí mật điều đ́nh với CS Bắc Việt để
Trung Lập Hoá Miền Nam, ông lại dùng những tài liệu thứ cấp,
hay loại hai (secondary
sources),
nghĩa là những tài liệu có mức độ khả tín rất thấp. Ông chép
lại những mẫu chuyện của nhà biên khảo Minh Vơ và của ông
Chánh Đạo, thuật lại chuyện Cành Đào ở Dinh Độc Lập, rồi
chuyện đi săn của ông Nhu, rồi chuyện ô. Nhu gặp Mieczyslaw
Maneli… Từ đó các vị này thêu dệt thêm chuyện ô. Nhu mật đàm
với CS Bắc Việt. Nhưng họ đă không đưa ra được một văn kiện,
một chứng từ, một tài liệu nào khả tín cả. Toàn bộ câu
chuyện chỉ là góp nhặt, chắp nối và tưởng tượng cho thành
tuồng, tuồng tích, chẳng có chút giá trị sử liệu nào cả. Rồi
ông đi đến kết luận:
Hai ông Diệm và
Nhu lại có sáng kiến ngoại giao trực tiếp với Bắc Việt để
giải quyết chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc với nhau, chẳng
những làm cho dư luận Việt hoang mang, mà c̣n làm cho chính
phủ Mỹ nghi ngờ và bất b́nh, v́ người Mỹ bị hai ông đặt ra
ngoài cuộc thương thuyết.
Ông viết sử mà
ông chỉ sử dụng tài liệu có một phía, ông lo cho người Mỹ
không biết âm mưu này rồi ông lo cho người Mỹ bị hai ông
Diệm Nhu loại ra khỏi cuộc thương thuyết này. Không biết ông
suy nghĩ thế nào, chứ như trí óc nông cạn của tôi, với hệ
thống CIA họ cài dày đặc ở Việt Nam, những chuyện đi đêm như
vậy của Ô. Nhu làm sao họ không biết được? Trái lại, người
Mỹ đă dựng nên chuyện ông Nhu đi đêm với CS Bắc Việt để có
lư do thuyết phục các tướng lănh đảo chánh cũng như để tranh
thủ dư luận tại Hoa Kỳ và dư luận tại các nước Á Phi cho
cuộc chính biến mà họ đang âm mưu thực hiện tại Saigon.
Theo tài liệu
mật mà tôi nghĩ rằng có mức độ đáng tin cậy, có giá trị sử
liệu cao được Ts. Pham Văn Lưu trưng dẫn khi trả lời câu hỏi
của tôi trong buổi hội luận tại Đài Truyền H́nh SBTN ở
Westminster vào ngày 26. 10. 2008 trước đây. Tài liệu như
sau:
Theo bản tóm
lược về Mục tiêu của Mỹ trong cuộc chiến tranh VN của Hội
Đồng An Ninh Quốc Gia tháng 9. 1963, lưu trữ tại Thư viện
John F. Kennedy. Trong đó Hội Đồng An Ninh Quốc Gia chỉ thị
cho cơ quan CIA:
Nguỵ tạo một
tài liệu để liên kết Nhu với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, nhằm
làm mất uy tín của ông ta đối với các tướng lănh
(Fabric a document linking Nhu
with the Democratic Republic of Vietnam thus decrediting him
with the generals)
Và để che giấu
vai tṛ chủ mưu trong cuộc đảo chánh ở Saigon đang tiến hành,
Ngoại Trưởng Dean Rusk đă phải gởi một điện văn số 674 cho
Toà Đại Sứ Mỹ ở Sagion vào ngày 1.11. 1963 lúc 12:04pm giờ
Hoa Thịnh Đốn, (khoảng
0:04 phút ngày 2. 11. 1963 giờ Saigon)
chỉ thị:
Nếu cuộc đảo
chánh thành công, sự chấp nhận và hiểu biết về mục tiêu [cuộc
đảo chánh]
sẽ gia tăng lớn lao ở đây, nếu các tướng lănh và những cộng
sự viên dân sự của họ tiếp tục khai thác một cách mạnh mẽ và
công khai giải pháp và tường thuật [giải pháp] một trong
những buổi phát thanh rằng Nhu đă mặc cả với Cộng Sản để
phản bội sự nghiệp chống Cộng. Giá trị cao của lập luận này
phải được nhấn mạnh cho các tướng lănh biết trong một cơ hội
sớm nhất.
(if the coup succeeds,
acceptance and understanding of its purpose here will be
greatly increased if generals and their civilian associates
continue to develop strongly and publicly the conclusion
reported in one of their broadcasts that Nhu was dickering
with communists to betray anti-communist cause. High value
of this argument should be emphasised to them at earliest
opportunity.)
Rồi ngày 5. 11.
1963, Tướng Đính lúc đó là Tổng Trưởng Nội Vụ đă họp báo
theo đúng chỉ thị của Đại Sứ Lodge nói rằng tướng lănh phải
đảo chánh v́ Diệm Nhu đă điều đ́nh với CS phản bội lại mục
tiêu chống CS theo đúng chỉ thị của Mỹ.
Vào cuối tháng
7. 1963, khi trả lời một cuộc phỏng vấn của kư giả Joseph
Alsop về việc dư luận cho rằng ông Nhu đang điều đ́nh với CS
Bắc Việt để trung lập hoá Miền Nam. Ông Nhu chỉ vào cái ghế
mà kư giả Alsop đang ngồi và nói:
Một giờ trước
đây, đại diện của Bắc Việt cũng ngồi chiếc ghế mà ông đang
ngồi đó để điều đ́nh với tôi.
Nếu ông Nhu quả
thực có điều đ́nh với CS Bắc Việt, th́ đó là một việc tối
mật. Ông không thể công khai nói ra như vậy. Do đó ta có thể
suy diễn rằng, đó là cách thấu cáy với người Mỹ, nếu ông
(người Mỹ)
làm khó
dễ với tôi quá, tôi sẽ điều đ́nh với Bắc Việt.
Trên đây là phần Ts. Lưu đă trả lời câu hỏi của tôi trong
buổi hội luận tại Westminster nói trên.
Ngoài ra, tôi
cũng xin nói thêm với ông, v́ ông chỉ đọc lại những tài liệu
của ông Đỗ Mậu và ông Chính Đạo, nên bị họ dẫn dắt sai lầm.
Thực sự, nếu ông đọc chính tác phẩm Mieczyslaw Maneli và ông
có chút b́nh tỉnh và khách quan để thẩm định vấn đề, ông sẽ
thấy nhà cầm quyền Cộng Sản Ba Lan đă sợ ông Nhu dùng Maneli,
như một dụng cụ tuyên truyền không công cho kế hoạch trung
lập giả hiệu của ông Nhu, nên cấm không cho Maneli tiếp xúc
với ông Nhu nữa. Chính Maneli đă thú nhận điều này trong tác
phẩm War of the Vanquished của ông ta khi viết:
Chúng tôi
khuyên Ông đừng đến thăm Nhu nữa, Ông ta có thể dùng cuộc
viếng thăm của ông vào những ư đồ khiêu khích.
(We advised you against paying a visit to Nhu. He may use it
for provocative purposes)
. Sở
dĩ chính quyền CS Ba Lan viết ư đồ khiêu khích, v́ trước đó,
ông Nhu nói vói Maneli rằng ông chống đối chính sách bành
trướng của chủ nghĩa duy vật do Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa lănh
đạo.
Hơn nữa, tôi
cũng có tài liệu chứng minh rằng chính Hoa Kỳ đă có ư định
điều đ́nh trung lập hoá Miền Nam, để phản bội Việt Nam Cộng
Hoà, chứ không phải Ông Nhu, như ông và các người được gọi
là sử gia Việt Nam lầm tưởng.
Thực sự, vào
khoảng cuối tháng 7.1962, khi Hội Nghị Geneva về Ai Lao sắp
kết thúc, Tổng Thống Kennedy đă chỉ thị cho Harriman bí mật
gặp riêng các đại biểu của phái đoàn Bắc Việt tại Hội Nghị
này để t́m kiếm những cơ hội thảo luận về vần đề Việt Nam,
bao gồm việc mở rộng một hội nghị bàn về việc trung lập Việt
Nam tương tự như trường hợp Ai Lao. Harriman lúc đó là
Trưởng Phái Đoàn của Hoa Kỳ tại Hội Nghị, đă cùng đi với
William Sullivan, Phó Phái Đoàn đến khách sạn của Phái Đoàn
Miến Điện tham dự hội nghị, ở đây họ đă gặp ngoại trưởng Bắc
Việt lúc đó là Ưng Văn Khiêm và một người phụ tá của ông ta.
Nhưng cuộc gặp gỡ này không đi đến kết quả. Sau này Sullivan
thuật lại:
“Chúng tôi
hoàn toàn không có lối thoát. Chúng tôi chạm phải một bức
tường bằng đá.”
(Hồ
sơ Lịch Sử Vấn Đáp, Phỏng vấn với William Sullivan ngày 5.
8. 1970, tr. 32, Thư Viện John F. Kennedy).
Những văn kiện
trên là những tài liệu văn khố có mức độ khả tín không thể
chối căi được, chứng tỏ rằng người Mỹ trước đây đă nguỵ tạo
tài liệu để gây nghi ngờ chia rẽ trong chính trường Việt Nam
và xúi giục các tướng lănh làm đảo chánh lật đổ chế độ Đệ I
CHVN để xoa dịu dư luận bất b́nh tại Mỹ cũng như sự suy sụp
tinh thần và mất tin tưởng của các lănh tụ Á Phi vào chính
sách ngoại giao của Mỹ về vụ đảo chánh và ám sát Tổng Thống
Diệm.
Điều đáng buồn
nhất là ngày xưa, các tướng lănh đă nghe theo Mỹ, v́ sự ít
học hay v́ quyền lợi cá nhân của họ. Đó không phải là điều
tôi muốn bàn ở đây. Trọng tâm tôi muốn nói đến là 46 năm sau
ngày biến cố này xảy ra, mà các người viết sử như các ông
cũng chưa nhận biết đâu là sự thật đâu là nguỵ tạo? Điều này
có thể là do khả năng kém cỏi của ông v́ thiếu t́m ṭi, tham
khảo những văn kiện đầu tay, những tài liệu văn khố
(primary sources),
mà chỉ đọc một số rất ít sách báo, những tài liệu thứ cấp
(secondary sources),
mà cách nói nôm na cho dễ hiểu là những tài liệu cứt chồn
hoặc giả là v́ thành kiến chính trị, ông đă đưa ra những
nhận định không công b́nh nhằm bóp méo và xuyên tạc sự thật
lịch sử. Cả hai thái độ đó đều là hành động thiếu hiểu biết,
gian lận trí thức, đáng chê cười, không phản ảnh lương tâm
cao quí của người viết sử.
(sai lầm 27)
IX. Kết Luận
1. Tóm lại, tôi
mới đọc một bài viết ngắn của ông về cuộc đảo chánh ngày
1. 11. 1963, tôi cảm thấy đau buồn và thất vọng năo nề, v́
trong bài viết đó có đến 27 điểm sai lầm về phương pháp viết
sử hay nói sai sự thật và ông chỉ tham khảo có 2 quyển hồi
kư. Đó là hồi kư của Linh Muc Cao Văn Luận và hồi kư của
Tướng Trần Văn Đôn. 8 quyền sách, 3 bài báo, một bài viết
của Thầy Trí Quang, Từ Rạch Cát đến toà Đại Sứ , và cuối
cùng là 1 tài liệu của Ngô Kỷ. Điều đáng nói là trong những
thập niên cuối của thế kỷ 20 rất nhiều tài liệu văn khố đă
được bạch hoá, nên quyển Hồi Kư của Tướng Đôn về biến cố này
không c̣n giá trị nữa, v́ trong đó, Tướng Đôn đă nói sai sự
thật quá nhiều. Nhưng ông đă dùng tài liệu đó một cách hết
sức vô tư, không một chút đắn đo suy nghĩ. Thật đáng tiếc!
2. Trong khi đó,
tài liệu văn khố đă được giải mật liên quan đến biến cố này
có khoảng 1352 văn kiện gồm những airgrams, telegrams,
memoranda, minutes và những reports của CIA đang được lưu
giữ ở thư viện John Kennedy ở Boston và ít nhất là 20 Oral
History, ghi âm lại các sự kiện liên quan đến các biến cố
này, hiện lưu trữ tại 2 thư viện Kennedy và Johnson. Ngoài
ra, nếu ông t́m kiếm ở trang mạng của Thư Viện Quốc Hội Hoa
Kỳ, ông cũng sẽ thấy có ít nhất là 23 hồi kư liên quan ít
nhiều đến biến cố này của những nhân vật cao cấp của Hoa Kỳ,
Việt Nam và các cán bộ CS hoạt động tại Miền Nam trước năm
1975 và sau hết có ít nhất 80 quyến sách bằng tiếng Việt,
Anh và Pháp Văn viết về giai đoạn lich sử này, có thể nhiều
hơn nữa nhưng tôi chưa biết hết. Ngoài ra, c̣n có những tài
liệu căn bản cần phải đọc như bản Hiến Pháp của Đệ I CHVN,
Đạo Dụ số 10, cùng những tài liệu khác liên quan đến vấn đề
treo cờ, Thông Cáo Chung giữa Uỷ Ban Liên Bộ và Ủy Ban Liên
Phái Phật Giáo, kư ngày 16. 6. 1963, Phúc Tŕnh Điều Tra
của LHQ về biến cố Phật Giáo vào năm 1963.
3. Hai sự kiện
trên đây chứng tỏ ông chỉ t́m kiếm, tham khảo quá ít trong
số rất nhiều tài liệu liên hệ hiện có, lẽ ra ông cần phải
đọc, để hiều biết những khía cạnh cần thiết của vấn đề nhằm
t́m hiểu những sự thật liên quan đến biến cố lịch sử này.
Nói cách khác dễ hiểu hơn, ông như một người mù, chỉ rờ được
cái đuôi và hậu môn của con voi, rồi kết luận con vật này
dài dài và thúi quá. Tại sao lại thúi? v́ đó là vị trí, chỗ
đứng mà tự ông đă chọn lựa. Thật vậy, v́ ông chỉ chọn những
tài liệu nào bêu xấu, vu cáo hay mạ lỵ nhiều khi rất vô liêm
sỉ về chế độ này để đọc. C̣n những tài liệu nào nói công
b́nh, đứng đắn về chế độ này th́ ông từ chối không đọc. V́
thế, tôi xin lỗi đă đưa ví dụ không được lịch sự để diễn tả
trường hợp của ông. nhưng đó là sự thật. Nghĩa là ông đă
không bận tâm đọc những ǵ tối thiểu mà ḿnh cần phải đọc,
để viết về giai đoạn lịch sử này, ông lại không có những
kiến thức căn bản về luật học cần thiết để hiểu được hiến
pháp, các đạo luật, sắc lệnh cùng hiểu biết sơ đẳng để đọc
và hiểu được đầy đủ một văn thư hành chánh như điện văn 243
ngày 24. 8. 1963 như tôi đă tŕnh bày ở trên. Nhưng thái độ
tệ hại nhất đối với một người trí thức, một người nghiên cứu
lịch sử là chuyện gian lận trí thức, chuyện chưa đọc một văn
kiện pháp lư quan trọng liên quan đến sự kiện chính của vấn
đề mà nói là đọc rồi, nhằm bóp méo và xuyên tạc sự thật lịch
sử. Ngoài ra, v́ những hạn chế khả năng của ông về nhiều
phương diện, đáng lẽ bổn phận và trách nhiệm của một người
viết sử, đ̣i hỏi ông phải đi học thêm để hiểu rỏ vấn đề, để
có khả năng đưa ra một nhận định, một phán đoán có giá trị
về sự kiện lich sử. Đàng này, có lẽ v́ chưa ư thức đầy đủ về
lương tâm và đạo đức của một người viết sử, ông đă hành động
một cách hoàn toàn ngược lại, là lấy kiến thức nông cạn của
ḿnh để thẩm định cả một cơ cấu chính quyền suốt 9 năm mà
ông chỉ hiểu được một phần rất nhỏ trong đó, v́ sự hạn chế
về hiểu biết chuyên môn và sự thiếu đọc sách của ḿnh. Nhưng
điều mỉa mai, ông lại không ngần ngại làm là phán đoán rất
chủ quan, thiên lệch và bất công nhằm mục đích thoá mạ cả
chế độ đó theo một thâm ư riêng tư của ông. Tôi không hiểu
rơ nguyên nhân tại sao ông làm như vậy? Nhưng khi đọc bài
viết của ông, tôi cảm nhận rơ ràng điều ấy. Theo tôi, hành
xử như vậy chỉ chứng tỏ sự thiếu phẩm hạnh cần thiết phải có,
của một người viết sử, chứ không tăng uy tín cho ông chút
nào cả.
4. Rồi đến
phương pháp sử, nó đ̣i buộc người viết sử phải có kiến thức
về thực tại, nghĩa là phải biết thâu góp các tài liệu, các
dữ kiện, các nhân chứng, vật chứng của tất cả các bên liên
hệ, sau đó phải phân tích tổng hợp để t́m ra sự thật, rồi
phải đặt nó vào trong bối cảnh lịch sử lúc nó xảy ra, để
phán đoán, để thẩm định giá trị của sự kiện lịch sử đó. Chứ
đâu phải liệt kê các sự kiện lấy từ quyển sách của Đoàn Thêm,
1945-1964, Việc Từng Ngày chép lại mà không cần t́m hiểu ǵ
cả, rồi vội đưa ra những lời kết án đầy bất công và vô trách
nhiệm như ông đă làm. Đó là việc làm của những kư giả thiếu
lương thiện, những người được thuê viết mướn thiếu đạo đức,
chứ không phải là cách hành xử của một người viết sử có
lương tâm và đạo đức cao quí.
5. Tiếp đó là
vấn đề nguyên nhân và hậu quả của sự việc, theo cách lập
luận của ông và các tướng lănh trong các quyển hồi kư, chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm là chính quyền độc tài, gia đ́nh trị,
đàn áp Phật giáo, thanh toán các giáo phái Cao Đài và Hoà
Hảo, tiêu diệt đối lập, tham nhũng, hối lộ, thối nát, bất
lực, hẹp ḥi, tàn ác, thiển cận, ngu dốt và c̣n nhiều điều
tệ hại khác nữa…Nhưng có một điều không ai có thể chối căi
được về thành tích của ông Diệm, trong 9 năm cầm quyền, là
đă biến một vùng đất hỗn loạn triền miên v́ chiến tranh trở
thành một quốc gia ổn định, có kỷ cương và luật pháp. Về
chính trị, ông Diệm đă xây dựng thành công một thể chế chính
trị dân chủ, tiến bộ và đầy hiệu năng, vừa phù hợp với trào
lưu chính trị thế giới, vừa cứng rắn đủ để đáp ứng nhu cầu
chính trị của một quốc gia mới thu hồi độc lập. Về quân sự,
đă kiến tạo được một quân đội có qui củ, có hiệu năng chiến
đấu cao, thiết lập đủ mọi quân binh chủng với trang bị vũ
khí tối tân, có khả năng tác chiến được xếp hàng đầu, so với
các quốc gia Đông Nam Á thời đó và trên chiến trường, đang
giành được những chiến thắng quyết định trên mọi trận địa và
gần đạt đến thắng lợi cuối cùng để tận diệt cuộc chiến tranh
du kích và khuynh đảo của CS. Về kinh tế, mặc dù phải đối
đầu với cuộc chiến tranh, phá hoại khủng khiếp nhất của CS,
Việt Nam đă đạt được một chỉ số phát trển kinh tế nhanh nhất
và ổn định nhất trong vùng.
6. Ngược lại,
những tướng lănh là những người tài ba, trong sạch, và những
chính trị gia đối lập là những nhân vật có viễn kiến chính
trị, đầy tài kinh bang tế thế… và tất cả những khuôn mặt
xuất chúng này đều có cơ hội ít nhất là một lần tham gia vào
cơ cấu chính quyền Việt Nam trong khoảng thời gian
1964-1965, sau khi ông Diệm bị ám sát. Nhưng có một sự thật
hơi khó hiểu, các vị này đều tài giỏi như vậy, chỉ cầm quyền
trong 18 tháng, họ cũng tạo được một ‘thành tích kỳ vĩ nhất
trong lịch sử’, là biến một Việt Nam đang ở trong một t́nh
trạng ồn định chính trị, trên đà chiến thắng du kích quân
CS, có hiệu năng phát triển kinh tế cao, rơi vào t́nh trạng
cực kỳ rối loạn về chính trị, hầu như hoàn toàn tuyệt vọng
về quân sự, khiến người Mỹ chỉ c̣n cách là phải chọn 1 trong
2 giải pháp, một là chấp nhận bỏ rơi Miền Nam cho CS thôn
tính, hai là phải đem quân đội Mỹ vào trực tiếp tham chiến
để bảo vệ Miền Nam. Không biết ông Phụng có c̣n đủ khách
quan và vô tư của một người viết sử có chút lương thiện, để
nhận ra sự nghịch lư trong lập luận của ḿnh không?
7. Sau hết, tôi
cảm thấy ông lúc nào cũng tự nhận ḿnh là người nghiên cứu
lịch sử, nhưng, không chịu khó tham khảo tài liệu, lại hạn
định về kiến thức, thiếu hiểu biết chuyên môn và không biết
sử dụng phương pháp sử học đúng cách, nhưng điều đáng
trách nhất là thiếu sự liêm khiết trí thức, gian lận trong
cách sử dụng tài liệu, nhưng lại thích phô trương trí thức
một cách khéo léo, để lừa dối độc giả, nhưng lại thiếu thận
trọng, thiếu công tâm trong cách thẩm định vấn đề. Từ
những sai lầm đó, chính ông đă vô t́nh tự hạ ḿnh xuống
thành những người bồi bút, những kẻ đâm thuê chém mướn trên
thị trường chữ nghĩa, để mong sách ḿnh bán chạy hơn hay là
mong t́m được một chút hư danh của một sử gia dỏm. Trong khi
đó, lịch sử và hậu thế chỉ vinh danh những nhà sử học có học
vấn uyên thâm, có lương tâm và đạo đức chức nghiệp cao quí,
có khí phách để nói lên sự thật lịch sử.
Lê B́nh
California 12. 2009
http://bacaytruc.com
|