♠
www.motgoctroi.com
mến chào bạn
Tiến tŕnh bị mất đất
Lữ Giang
Chúng ta nhớ lại, nhân dịp Đại Hội
Đảng Toàn Quân từ ngày 3 đến 11.1.2001, Lê Đức Anh đă
đứng lên tố Lê Khả Phiêu 10 tội, trong đó có một tội rất
quan trọng là “Bán đất, bán biển cho Trung Quốc”
trong chuyến đi Trung Quốc chầu Giang Trạch Dân. Người
đầu tiên đưa sự tố cáo này ra công luận là Đỗ Việt Sơn,
một đảng viên đảng CSVN về hưu và có lẽ là đàn em của Lê
Đức Anh. Sau đó, Luật sư Lê Chí Quang viết bài “Hăy
cảnh giác Bắc Triều”
nói rơ rằng phần đất bị “bán” là 720 cây số vuông.
Nguyễn Chí Trung, thư kư của Lê Khả Phiêu, nói với báo
chí rằng Lê Khả Phiêu là “nạn
nhân của những âm mưu đánh phá của 3 vị cố vấn là các
ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Vơ Văn Kiệt.”
Dĩ nhiên, nhóm Lê Khả Phiêu phải phản pháo. Lê Khả Phiêu
và Nông Đức Mạnh đă cho Thượng Tướng Nguyễn Nam Khánh
dùng tài liệu vụ án chính trị T-4 tại Tổng Cục II thuộc
Bộ Quốc Pḥng để chơi lại nhóm Lê Đức Anh.
Khởi sự từ đó, một phong trào tố đảng CSVN làm mất đất
mất biển được phát động ở hải ngoại, nhưng người Việt
chống Cộng không dùng những chữ “Bán đất,
bán biển cho Trung Quốc” của Lê Đức Anh,
mà đổi thành “Dâng đất dâng biển cho Trung Quốc”.
Chiến dịch này đă trở nên rầm rộ khi Trung Quốc thành
lập huyện Tam Sa thưộc tỉnh Hải Nam bao gồm cả hai quần
đảo Trường Sa và Hoàng Sa, sau đó phong toả Biển Đông.
Thật ra, người Việt đă bị Tàu cướp đất dài dài trong
tiến tŕnh lịch sử, bắt đầu từ thời mới lập quốc cho đến
ngày nay, do đó người Việt phải tiến dần xuống phía Nam.
Tuy nhiên, cha ông chúng ta cũng đă chiếm đất của Lâm Ấp,
Chiêm Thành và Chân Lạp để lập thành một nước mới.
Trong bài này chúng tôi chỉ nói về tiến tŕnh bị mất đất
trong lịch sử. Trong bài sau, chúng tôi sẽ bàn đến
chuyện đ̣i đất của tiền nhân để rút kinh nghiệm.
BÀI HỌC LỊCH SỬ?
Chúng tôi xin nhắc lại, trong cuộc phỏng vấn của đài RFA
ngày 24.7.2009 về đề tài “Việt
Nam cần làm ǵ trước thái độ lấn lướt của Trung Quốc?”,
Giáo sư Trần Văn Đoàn dạy học ỏ Đại Học Quốc Lập Đài
Loan có nêu lên hai đề nghị:
(1) Đọc lại bài học của tất cả những triều đại Việt Nam.
Cái ǵ đă mất rồi th́ không bao giờ đ̣i lại được.
(2) Cách hay nhất, cái chiến lược của ḿnh là làm thế
nào để không mất đất nữa mà thôi.
Ông nói rơ: “Tôi không nói để bảo vệ nhà nước Việt Nam…”
Nhưng với nhiều người Việt chống cộng ở hải ngoại, đề
nghị này rất khó nghe. Lư do thứ nhất: Người Tàu có “Tam
thập lục kế” (với người Tàu, con số
36 có nghĩa là nhiều lắm),
nhưng một số người Việt đấu tranh ở hải ngoại chủ trương
chỉ có “biểu dương khí thế” là thượng sách,
không cần biết kết quả như thế nào. Mọi kế khác gần như
không được chấp nhận. Như vậy học sử để làm ǵ? Lư do
thứ hai: Sử đâu mà học?
Trong bài Tựa của bộ “Việt Nam
Sử Lược”, cụ Trần Trọng Kim (1882 – 1953) có than
phiền: “Sử
ḿnh đă không hay, mà người ḿnh lại không mấy người
biết sử. Là v́ cách học tập của ḿnh làm cho người ḿnh
không có thể biết được sử của ḿnh”.
Bài Tựa này được viết vào năm 1919, khi bộ “Việt Nam
Sử Lược” lần đầu tiên được xuất bản, nhưng đến nay
vẫn c̣n đúng. Không những thế, một số “sử gia” đời nay
khi viết sử, thường không dựa theo chính sử như cụ Trần
Trọng Kim, mà chỉ ghi lại những phần ḿnh thích, bỏ đi
những phần bị coi là mất “khí thế” hay không
oai hùng, biến hoá nhiều đoạn và thêm huyền thoại vào
làm cho sử không c̣n là thực sử nữa! Một vài thí dụ cụ
thể:
(1) Khi viết về vua Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, các “sử
gia” ta chỉ ghi lại “B́nh Ngô Đại Cáo” và giấu đi
tờ biểu thê thảm mà Lê Lợi dưng lên vua Minh xin phong
vương. Trong vụ Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh, các
“sử gia” ta cũng chỉ ghi lại “Hịch Đánh Trịnh”
của Nguyễn Hữu Chỉnh và “Hịch Gọi Đ̣” của Nguyễn
Huệ, c̣n tờ biểu được Nguyễn Huệ dưng lên vua Thanh năn
nỉ xin ban sắc phong được coi như không có. Họ cho rằng
những tở biểu đó làm mất “khí thế” nên phải
loại ra khỏi sử, không nên cho con cháu đọc.
(2) Thiền sư Lê Mạnh Thát đă sửa lại sử, cho rằng không
có chuyện Bắc Thuộc lần thứ nhất và Mă Viện đem quân
đánh hai Bà Trưng. Trái lại, các đời vua Hùng Vương đă
kéo dài ra đến sau Công Nguyên, tức đến khi Phật giáo
được truyền vào đất Việt! Việc sửa sử này nhắm mục tiêu
chứng minh: “Phật giáo là dân tộc” v́ đă du nhập
vào Việt Nam từ đời Hùng Vương!
Pháp nạn kinh hoàng (gần như làm cỏ)
mà Nguyễn Huệ đă gây ra
cho Phật Giáo để có phương tiện tiến đánh quân Thanh,
không được ai ghi lại một vài ḍng, kể cả các “sử gia”
Phật Giáo! Họ chỉ nói đến “Pháp nạn” dưới thời Ngô Đ́nh
Diệm!
(3) Tàu xây Ải Nam Quan như thế nào và các diễn biến về
sau ra sao, đă được ghi rất tỉ mỉ trong chính sử của Tàu
cũng như của ta. Công Ước Thiên Tân ngày 9.6.1885 giữa
Pháp và Trung Hoa và các văn kiện đính theo đă gọi Ải
Nam Quan là “Porte de Chine” (cửa
của Trung Hoa) và vẽ nó nằm
trên đất Trung Hoa. Ấy thế mà để “tố cộng”, các “sử gia”
và các chiến sĩ chống cộng đă coi những văn kiện lịch sử
và pháp lư đó như không có, cũng nhau ngồi “khóc Nam
Quan”! Có “đại sử gia” c̣n biến hoá Ải Nam Quan ra hai
phần, một phần nói là của Tàu và một phần nói là của ta,
để cho “hợp với ḷng dân”!
Bây giờ người Việt ở trong cũng như ngoài nước, gần như
nhà nào cũng xem phim Đại Hàn, trong đó có nhiều phim
lịch sử, chẳng hạn như Thời Đại Anh Hùng, Những Ngày Đen
Tối, Jumong, Bài Ca Sơ Đông, Đại Hiệp Sĩ, v.v. Qua các
bộ phim này, chúng ta thấy người Đại Hàn đă diễn tả rất
trung thực lịch sử của họ: thời kỳ nào cường, thời kỳ
nào nhược, những sự rối loại trong cung đ́nh, những thủ
đoạn gian ác áp chế dân lành của các quan lại phong kiến,
những phương thức mà cha ông họ đă dùng để chống ngoại
xâm… Nhờ diễn tả lịch sử một cách trung thực như vậy,
người Đại Hàn ngày nay đă rút được kinh nghiệm lịch sử
để xây dựng một đất nước Đại Hàn tốt đẹp hơn. Trái lại,
sử của người Việt đă bị hai bên đối nghịch biến chế theo
sở thích và theo nhu cầu chính trị, làm sao có thể dựa
vào đó để rút kinh nghiệm của cha ông được?
NƯỚC TA KHỞI TỪ BÊN TÀU?
Theo truyền thuyết và dă sử, thời
kỳ Hồng Bàng bắt đầu từ năm 2879 trước Tây lịch, thuộc
niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ.
Địa bàn của Việt Nam dưới thời Kinh Dương Vương nằm ở
tận bên Tàu, rất rộng lớn: Phía bắc giáp Động Đ́nh Hồ
(Hồ Nam),
phía đông là Đông Hải, phía tây là Ba Thục (Tứ
Xuyên), và phía nam tới nước
Hồ Tôn (Chiêm Thành).
Nước Chiêm Thành lúc đó nằm ở đâu? Bộ “Phương Đ́nh Dư
Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu đă ghi lại như sau:
“Chiêm Thành: phiá đông giáp bể, phía Tây đến Vân Nam,
phía nam giáp Chân Lạp, phía bắc liền Annam, phía đông
bắc đến Quảng Đông...”
Thật ra, phải đến thế kỷ thứ 13, nước ta mới có quan
viết sử, nên những điều xẩy ra trước đó đều được chép
lại theo tục truyền, không biết đúng được bao nhiêu phần
trăm. Nhưng chắc chắn người Việt ngày xưa ở tận bên Tàu,
sau đó trụt dần xuống phía nam. Tại sao như vậy? Cụ Trần
Trọng Kim giải thích:
“Người ṇi gióng Việt Nam ta
mỗi ngày một nẩy nở ra nhiều, mà ở phía bắc đă có nước
Tàu cường thịnh, phía tây th́ lắm núi nhiều rừng, đường
đi lại không tiện, cho nên mới theo bờ biển lấn
xuống phía nam, đánh Lâm Ấp, dứt Chiêm Thành, chiếm đất
Chân Lạp, mở ra bờ cỏi bây giờ.”
Đây là kiểu “Dùi đánh đục th́ đục đánh săng (gỗ)”
hay “Cá lớn nuốt cá bé”.
ĐỒNG TRỤ NẰM Ở ĐÂU?
Nước ta có ranh giới đầu tiên với nước Tàu là do Mă Viện
ấn định. Lịch sử kể lại rằng dưới thời Đông Hán, năm 41
sau Tây lịch, vua Quang Vũ của Tàu sai Mă Viện làm Phục
Ba Tướng Quân, sang đánh Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ
về lại cho nhà Hán (Thiền sư Lê Mạnh Thát nói
chuyện này không có!).
Mă Viện dời phủ trị về Mê Linh và dựng cây đồng trụ ở
chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết,
Giao Chỉ diệt”. Nghĩa là cây đồng trụ găy th́
người Giao Chỉ mất. Người Giao Chỉ đi qua dưới chân cột
đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên măi thành g̣ đống cao, v́
sợ cột đồng ấy bị đổ găy.
Nhưng cột đồng này đă được dựng ở đâu?
Theo “Lĩnh Ngoại Đại Đáp” của Tàu (đời
Đường) và “An Nam Chí Lược”
của Lê Tắc, cột này được dựng ở Khâm Châu, trong
vùng hang động Cổ Sâm.
Khâm Châu là một châu của Tàu nằm sát biên giới với Giao
Chỉ, c̣n Cổ Sâm là một động của ta nằm sát biên giới Tàu.
Sách “Vân Đài Loại Ngữ” của
Lê Quế Đường (tức Lê Qúy Đôn)
có ghi:
“Giữa đỉnh núi Phân Mao ở Khâm
Châu có cột đồng to độ hai thuớc. Có lẽ đây là Mă Tống
dựng lên.”
Núi Phân Mao (Phân Mao lĩnh) ở đâu?
Sách “Dư Địa Chí” của Nguyễn Trăi viết:
“Vân Cừ, Kim Tiêu, Phân Mao ở
về Yên Bang (sau
tránh húy đổi làm Yên Quảng). Vân
Cừ là tên sông, tên khác của sông Bạch Đằng, Tiền Ngô
Vương bắt Hoằng Tháo, Hưng Đạo Vương bắt Ô Mă Nhi đều ở
đây. Phân Mao là tên núi, Kim Tiêu là cột đồng. Ở
phía Tây lộ Hải Đông 300 dặm có đèo Phân Mao, ở nửa đèo
có cột đồng của Mă Viện dựng, lớn chừng ba thước.”
(Dư Địa Chí, Nguyễn Trăi toàn tập, bản dịch của NXB KHXH
– Hà Nội, tr. 202)
Sách “Gia Khánh Trùng Tu Nhất Thống Chí” của Nhà
Thanh cho biết: Núi Phân Mao ở phía Tây Khâm Châu (nay
là đất tỉnh Quảng Đông). Năm Tuyên Đức thứ 2 (1427)
thời Minh, núi ấy thuộc vào châu Tân An của Giao Chỉ.
Đến năm Gia Tĩnh thứ 21 (1542) Mạc Đăng Dung hàng, mới
thuộc về nước Tàu.
Đồng trụ nếu to 2 thước ta (theo Lê Qúy Đôn) hay 3 thước
ta (theo Nguyễn Trải)
th́ cũng rất lớn. Mỗi thước ta bằng 0,425 mét. Như vậy 2
thước là 0,850 mét và 3 thước là 1,275 mét.
Về sau, cả người Tàu lẫn người
Việt đều không biết rơ đồng trụ nói trên nằm ở đâu. Sách
“Khâm Định Việt Sử Thương Giám Cương Mục” có cho
biết năm 1272, nhà Nguyên đă sai Ngột Lương sang Việt
Nam hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước ở đâu. Vua Trần
Thánh Tôn đă sai viên phái Lê Kính Phu đi hội đồng khám
xét. Lê Kính Phu tâu với Nhà Nguyên:
“Chỗ cột đồng do Mă Viện
dựng lên lâu ngày bị ch́m lấp, nay không thể biết ở chỗ
nào được”. Việc đó
sau cũng thôi. (Quyển VII, tr. 219).
Thật ra, Mă Viện không phải chỉ dựng một đồng trụ ở Cổ
Sơn. Ông đă mở mang bờ cỏi của nhà Hán, dựng lên một
đồng trụ ở Đèo Ngang (giữa Hà Tĩnh và Quảng B́nh) và hai
đồng trụ ở B́nh Định. “Phương Đ́nh Dư Địa Chí”
của Nguyễn Văn Siêu cho biết: Sách Tần Thư Điạ Lư Chí
ghi: Ở quận Nhật Nam có cột đồng từ đời Hán dựng làm địa
giới. Sách Lâm Ấp Kư chép: Phía tây quận Nhật Nam có
nước Tây Đồ Di, Mă Viện qua đất này dựng hai cột đồng
nêu bờ cỏi nhà Hán.
Quận Nhật Nam lúc đó gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngăi
và B́nh Định ngày nay (có tài liệu cho là đến tận cửa
Đại Lănh, Phú Yên). Vùng này là bắc Chiêm Thành.
Nh́n lại, nếu đồng trụ do Mă Viện dựng để phân ranh giới
Việt – Trung mà c̣n th́ nó cũng đă nằm trên đất Tàu, v́
năm 1540 Mạc Đăng Dung đă giao vùng đất Cổ Sơn, nơi có
đồng trụ, cho Trung Hoa rồi.
MẤT ĐẤT DƯỚI THỜI PHONG KIẾN
Nhiều người tưởng rằng, trong lịch sử, cha ông chúng ta
luôn kiên cường dựng nước và giữ nước, không để mất một
tấc đất nào. Thực tế không phải như vậy. Ngoài việc bỏ
Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây chạy xuống Bắc Việt hiện
nay, cha ông chúng ta c̣n phải chịu bị mất đất rất nhiều
lần.
Mặc dầu Mă Viện đă dựng đồng trụ ở
Phân Mao để đáng dấu ranh giới giữa Giao Chỉ và nước Tàu,
những việc phân định ranh giới giữa hai nước không dễ
dàng v́ biên giới rất rộng lớn. Mỗi lần có tranh chấp,
vua hay quan Tàu đều giàng quyền quyết định phần nào
thuộc Tàu và phần nào thuộc ta.. Thí dụ năm 1442, nhà
Minh gởi dụ cho vua Lê Thái Tông, nói rằng Chiêm Lănh và
Như Tích là thuộc Châu Khâm của Trung Quốc, do Hoàng
Khoan cai quản, nên phải trả lại cho Trung Quốc. Năm
1547, Đô Đốc Mă của nhà Thanh gởi thư cho Chúa Trịnh và
nói: “Từ Sa Châu trở ra
ngoài đến Phân Mao - Đồng Trụ là đất của quư quốc cày
cấy chăn nuôi từ lâu, cho về An Nam”.
Ngoài chuyện tranh chấp về vùng biên giới, các vua và
quan Tàu luôn t́m cách chiếm thêm đất của nước ta. Tạm
bỏ qua “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đi, chúng ta thấy
từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 18, dưới các triều đại
của Trung Quốc từ Tống, Nguyên, Minh đến Thanh đều đem
quân xâm lấn Đại Việt. Nhà Tống xâm chiếm 2 lần, nhà
Nguyên 3 lần, nhà Minh và nhà Thanh mỗi vương triều một
lần. Ngoài những cuộc xâm chiếm đại quy mô như thế, các
triều đại Trung Quốc cũng thường t́m cách cướp đất của
người Việt ở vùng biên giới. Sau đây là một số thí dụ cụ
thể:
1.- Mất hai động Vật Ác và Vật Dương.
Dưới thời nhà Tống, Quách Quỳ đă chiếm 4 châu và một
huyện của Đại Việt là Quảng Nguyên, Quang Lang, Tô Mậu,
Môn, và Thuận châu. Sau đó, năm 1057 Nùng Tôn Đàn nộp
động Vật Ác và năm 1064 Nùng Trí Hội nộp thêm động Vật.
Dương. Vua Lư Nhân Tông phái sứ qua thương lượng nhiều
lần, vua Tống chỉ chịu trả cho 4 châu và một huyện,
nhưng không trả hai động Vật Ác và Vật Dương.
2.- Mất 59 thôn ở Cổ Lâu
Năm 1401, khi Hồ Hán Thương được Hồ Quư Ly nhường ngôi,
đă sai sứ sang xin vua nhà Minh phong vương. Vua Thánh
Tổ nhà Minh nghe tin ở An Nam đang có chuyện lộn xộn nên
cho điều tra và biết được Hồ Quư Ly đă cướp ngôi nhà
Trần. Nhà Minh muốn nhân cơ hội này đem quân sang chiếm
nước An Nam, lấy lư do là để hạch tội Hồ Quư Ly. Khởi
đầu, vào năm 1405 nhà Minh sai sứ sang đ̣i lại đất Lộc
châu, tức Lộc B́nh thuộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay, viện lư
do đất này trước đây thuộc châu Tự Minh của tỉnh Quảng
Tây. Lúc đầu Hồ Quư Ly không chịu, nhưng thấy áp lực của
nhà Minh quá nặng nên Hồ đă sai quan hành khiển là Hoàng
Hối Khanh đến dàn xếp. Hoàng Hối Khanh quyết định cắt 59
thôn ở Cổ Lâu nhường cho Tàu. Hồ Quư Ly thấy cắt nhiều
quá, có mắng Hoàng Hối Khanh. Tuy đă nhún nhường như thế,
nhà Minh vẫn không chịu, đem binh qua chiếm nước ta.
3.- Mạc Đăng Dung giao hai châu và 4 động cho Tàu
Theo cuốn “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” của Phan Huy
Chú, năm 1540 khi Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh, đă
trao trả 2 châu và 4 động cho nhà Minh. Hai châu là Như
Tích và Chiêm Lăng, và 4 động là Tê Phù, Kim Lạc, Cổ Sâm
và Liêu Cát. Các lănh thổ này được sát nhập vào châu
Khâm của Tàu. Nhưng Mạc Đăng Dung không được nhà Minh
phong vương mà chỉ phong làm Đô Thống Sứ
.
4.- Mất 13 châu và 3 động.
Năm 1684, thổ quan huyện Khai Hóa của tỉnh Vân Nam đem
quân chiếm ba động Vị Xuyên, Bảo Lạc và Thủy Vĩ thuộc
tỉnh Tuyên Hưng của ta. Chúa Trịnh Thuận Đức cho sứ qua
đ̣i lại nhưng nhà Thanh không trả.
Năm 1698 thổ quan tỉnh Vân Nam lại chiếm thêm ba động
Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viên thuộc tỉnh Tuyên Quang.
Sứ thần Nguyễn Đăng Đạo đến Trung Quốc xin vua Khang Hy
trả lại, nhưng vua từ chối. Chúa Trịnh Bính lại phái sứ
khác qua nhà Thanh xin xem lại vụ này, nhưng quan Tuần
Phủ Quảng Tây không cho đi. Từ đó, ba động này kể như
mất luôn.
Năm 1781, dưới thời Tây Sơn do Nguyễn Nhạc lănh đạo,
Hoàng Công Thư đă đem 10 châu của nước Việt nộp cho Tổng
Đốc tỉnh Vân Nam. Triều đ́nh ta gởi thư yêu cầu Tổng Đốc
Vân Nam xét lại biên giới. Tổng Đốc Vân Nam trả lại thư
và nói rằng biên giới tự nhiên không cần vạch lại.
Trên đây là một số vụ mất đất điển h́nh trong thời phong
kiến.
MẤT ĐẤT DƯỚI THỜI XHCN
Có thể nói, nếu không có Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta,
khó mà ấn định được đường ranh giới hợp lư và khoa học
trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và Trung Hoa.
Sau nhiều lần thương lượng rất gay cấn, kể cả dùng sức
mạnh quân sự, ngày 9.6.1885 nhà cầm quyền Pháp và Trung
Hoa đă kư Công Ước Thiên Tân về biên giới Việt – Trung
được gọi là “Hiệp Ước Ḥa B́nh, Hữu Nghị và Thương
Mại” (Traité de Paix, d'Amitié, et de
Commerce). Công ước này đă
được bổ túc do công ước ngày 26.6.1887 và công ước ngày
20.6.1895.
Mặc dầu có những hiệp ước ấn định
ranh giới một cách rơ ràng nói trên, kể từ năm 1954, sau
khi Pháp rút khỏi miền Bắc, Trung Quốc bắt đầu xâm phạm
biên giới Việt Nam. Những vụ xâm phạm này đă được nhà
cầm quyền Hà Nội ghi rơ trong tập “Vấn đề biên
giới giữa Việt Nam và Trung Quốc”, do nhà xuất
bản Sự Thật của Hà Nội xuất bản năm 1979, sau khi Trung
Quốc đem quân “dạy cho Việt Nam một bài học.” Trong “Lời
Nhà Xuất Bản”, nhà xuất bản Sự Thật nói rơ đây là toàn
bộ “Bị vong lục của nước Cộng hoà xă hội chủ
nghĩa Việt Nam về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây
khiêu khích, xâm lăng lănh thổ Việt Nam ở vùng biên giới”.
V́ tập sách khá dài, chúng tôi chỉ ghi lại những điểm
chính. Trong phần “T́nh h́nh Trung Quốc lấn chiếm
lănh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay”, nhà cầm
quyền Hà Nội cho biết thủ đoạn lấn chiếm đất của Trung
Quốc như sau:
(1) Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm
chiếm đất (tr. 8).
(2) Lợi dụng việc xây dựng các công tŕnh hữa nghị để
đẩy lùi biên giới sâu vào lănh thổ Việt Nam
(tr. 10).
(3) Đơn phương xây dựng các công
tŕnh ở biên giới lấn sang đất Việt Nam (tr.
11).
(4) Từ mượn đất của Việt Nam đến
biến thành lănh thổ của Trung Quốc (tr. 12).
(5) Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch
đường biên giới, điển h́nh là đă sửa kư hiệu ở khu vực
thác Bản Giốc (mốc 53),
nơi chúng định chiếm một phần thác Bản Giốc và cồn P̣
Thông (tr.14)...
Sau đây là một số trích đoạn được trích dẫn:
1.- Từ xâm canh, xâm cư đến xâm chiếm đất.
Tài liệu cho biết:
“Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền
một dải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ
hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đă đưa dân họ vào những
vùng lănh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định
cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng nương, cuối
cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu
vực đó là lănh thổ Trung Quốc.”
Một thí dụ cụ thể: Từ năm 1956
phía Trung Quốc t́m cách nắm số dân Trung Quốc sang làm
ăn ở Tŕnh Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem
phiếu mua đường, vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công
xă Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị
Choang-Quảng Tây. (tr. 8 và 9)
2.- Lợi dụng việc xây dựng các công tŕnh hữu nghị để
đẩy lùi biên giới sâu vào lănh thổ Việt Nam.
“Năm 1955, tại khu vực Hữu Nghị
Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên
giới Việt-Trung đến Yên Viên gần Hà Nội, lợi dụng ḷng
tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đă đặt điểm nối ray
đường sắt Việt Trung sâu trong lănh thổ Việt Nam trên
300m so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là
điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31
tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà
đă đề nghị Chính phủ hai nước giao cho ngành đường sắt
hai bên điều chỉnh lại điểm nối ray cho phù hợp với
đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng
cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới
th́ sẽ xem xét...” (tr.10)
3.- Đơn phương xây dựng các công tŕnh ở biên giới lấn
sang đất Việt Nam.
“Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên
giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc
đă tự tiện mở rộng xây dựng các công tŕnh để từng bước
xâm lấn đất.
“Tại khu vực mốc 53 (xă Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh,
tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ
lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đă công
nhận sự thật đó. Ngày 20.2.1970 phía Trung Quốc đă huy
động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành
hàng rào bố pḥng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác
Bản Giốc thuộc lănh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc
xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua
nhánh sông biên giới, làm việc đă rồi, xâm phạm lănh thổ
Việt Nam trên sông và ở cồn P̣ Thoong, và ngang nhiên
nhận cồn này là của Trung Quốc... (tr.11 và
12).
Trên đây chỉ là một vài thí dụ cụ thể. Chúng tôi sẽ trở
lại vấn đề này sau.
LỆNH PHẢI GIỮ ĐẤT
Năm 1473 khi Lê Duy Cảnh, Thái bảo kiến dương bá, đi
trấn giữ ở vùng biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây, vua
Lê Thánh Tông đă trao cho ông một sắc dụ, trong đó viết:
“Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ,
ngươi nên cố căi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không
nghe, c̣n có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải
trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của
Thái Tổ mà đút mồi cho giặc th́ tội phải tru di.”
Lữ Giang
(Ngày 11.8.2009)